talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Buồn vui đời tỵ nạn (1)

09/09/2009 | 12:27 chiều | 4 Comments

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Category: Lịch sử, Tổng hợp
Thẻ: >

Vua quan ở đất nhà bay

Dù xe ngựa cưỡi đến đây cũng hèn.

Nửa đêm, thuyền chúng tôi cách Hong Kong hơn hải lý mà đã nhìn thấy rõ ánh đèn màu nê-ông rực rỡ, nhấp nháy, nhảy múa trên các toà nhà cao ngất. Hong Kong! Thương cảng thế giới! Hòn ngọc của thế giới đang sừng sững trước mắt mọi người! Sống rồi bà con ơi! Nhiều người vui quá nhẩy lên như đứa trẻ. Tôi ôm lấy nhà tôi và đàn con, giọng run run, thì thầm: Sống rồi! Hương Cảng đấy! Mình và các con thấy chưa?

Một chiếc xuồng cảnh sát Hong Kong rẽ sóng lướt tới, họ nói qua loa phóng thanh cầm tay bằng hai thứ tiếng, tiếng Quảng và tiếng Anh, yêu cầu thuyền chúng tôi tắt máy, thả neo và hai viên cảnh sát lên thuyền và làm việc với chủ thuyền, rồi họ về xuồng, quay lại bờ. Chủ thuyền báo cho bà con biết, thuyền thả neo, đợi sáng mai sẽ có tầu cảnh sát kéo vào bến.

Cả đêm chúng tôi thao thức mong đợi và hy vọng. Hy vọng gì thì cũng chưa rõ, tất cả mới chỉ là điểm bắt đầu, tương lai còn ở phía trước.

Sáng hôm sau, xuồng cảnh sát Hong Kong kéo chúng tôi vào bến Kho Đen. Trời, thuyền tị nạn Việt Nam chật bến, đó là những thuyền bỏ không, chờ tầu cảnh sát kéo ra khơi để đánh đắm. Khó khăn và vất vả lắm, thuyền chúng tôi mới ghé sát bến. Trên sân Kho Đen hàng trăm người Việt già trẻ lớn bé, nam nữ đang tranh nhau kẻ hứng nước vào xô, người cởi trần tắm, người giặt, tiếng gọi nhau í ới, tiếng cãi nhau loạn xạ, tất cả tạo lên một không gian hỗn loạn xô bồ.

Kho Đen

Ai đã từng ở trại tỵ nạn Hong Kong thì không thể nào quên trại Kho Đen. Đây là nơi đầu tiên tiếp nhận các thuyền tỵ nạn và cũng là nơi nhiều tai tiếng nhất về sự đối xử dã man, vô nhân đạo nhất của cai ngục Hong Kong đối với thuyền nhân từ Bắc đến Nam chạy trốn cộng sản Việt Nam.

Tên thật của kho là gì có lẽ chẳng ai biết, người ta quen gọi là Kho Đen, bởi vì nó trước kia là một kho chứa hàng và sơn màu đen. Kho này gồm 5 (?) nhà kho nằm ngay sát bến, vì thế chúng tôi đều gọi là trại Kho Đen.

Thuyền chúng tôi được lên bờ và được gắn cho một tên mới đó: là số thuyền – theo thứ tự nhập cảnh – và tất cả chúng tôi đều được gọi là Zdịt-nàm-nhằn, từ giờ trở đi không có phân biệt người Hoa, người Việt, người Bắc, người Nam. Tất cả đều bình đẳng với chiếc áo mới mà cảnh sát Hong Kong khoác cho: Người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp.

Ngồi xếp hàng ngay trước sân Kho Đen, một sĩ quan cảnh sát thông báo những quy định của trại Kho Đen bằng tiếng Quảng và bằng tiếng Anh. Nội dung đại để như sau:

  1. Phải nộp tất cả những vật dụng nguy hiểm: dao, kéo, súng, chất nổ, chất cháy kể cả diêm và bật lửa;
  2. Cấm lửa trong mọi trường hợp. Điều này gây khó khăn cho các gia đình có cháu bé cần có chế độ dinh dưỡng riêng như bột, cháo… và dân nghiền thuốc lá, thuốc lào;
  3. Cấm trốn khỏi trại dưới mọi hình thức;
  4. Ngày 2 buổi được phát cơm do nhà thầu đưa đến;
  5. Có thể điểm danh bất thường ngày cũng như đêm;
  6. Cấm gây lộn xộn, cấm đánh chửi nhau.

Thuyền chúng tôi được chỉ định vào kho I sát ngay cổng chính ra vào. Sau khi tìm chỗ để đồ đạc xong, chúng tôi được lệnh ra xếp hàng ngoài sân làm thủ tục tổng vệ sinh trước khi làm thủ tục nhập cảnh bất hợp pháp.

Nhân viên y tế mặc phòng hộ che kín từ đầu đến chân, họ chia ra từng nhóm hai người, một người cầm bình xịt thuốc, một người cầm vòi nước. Họ gọi từng gia đình đến làm tổng vệ sinh. Đến lượt gia đình tôi xếp hàng ngang trước hai nhân viên y tế. Đầu tiên họ bắt chúng tôi cúi đầu xuống và nhắm mắt lại, họ vừa lầu bầu chửi quân Zdịt-nàm bẩn thỉu, đầu tóc quần áo toàn chấy rận, vừa đổ lên đầu chúng tôi một thứ dung dịch thuốc mà cảm giác như phải bỏng (phỏng), rồi ra lệnh chà xát toàn đầu. Các con tôi khóc thét lên, giẫm chân đành đạch như bị dội nước sôi, mắt cay xè, chúng tôi vừa ôm chúng vừa chà thuốc vào tóc cho thuốc ngấm vừa an ủi. Khoảng vài phút, họ xả vòi nước vào tất cả chúng tôi. Sau khi thuốc diệt chấy đã trôi đi, họ xịt một loại thuốc sát trùng màu đùng đục như sữa và mùi rất khó chịu lên toàn bộ người (không cởi quần áo). Sau đó họ xả vòi nước cho thuốc trôi đi, xong chúng tôi về kho thay quần áo. Cứ thế, hết gia đình này tiếp gia đình khác, cuộc tổng vệ sinh không tiền khoáng hậu ở Kho Đen kết thúc cũng là lúc đến giờ phát cơm bữa trưa.

Phải nói nhà thầu cơm cho trại Kho Đen đã ăn chặn cơm của chúng tôi, bởi vì số người từng thuyền khác nhau, có thuyền hơn 100 người nhưng có thuyền gần 200 như thuyền tôi 234 người, nhưng khẩu phần các thuyền na ná giống nhau: Một thùng cơm, một nồi thịt, một nồi rau. Có nghĩa là thuyền nào đông như thuyền tôi thì đói dài dài, làm gì đủ cơm mà chia theo tiêu chuẩn. Cho nên chuyện đánh nhau, tranh giành nhau từ muổng cơm đến miếng thịt, cọng rau là không thể tránh khỏi. Chính vì sự lộn xộn này, đám cai tù càng được thể chửi chúng tôi là bọn vô liêm sỉ, tranh nhau từng cuộng rau, miếng thịt. Chủ thuyền phân công, cứ 3 gia đình chịu trách nhiệm chia cơm một ngày, hết lượt thì tiếp tục quay lại. Một lần tôi tham gia với hai anh nữa, chúng tôi toàn là dân trói gà không chặt nên chuyện chia cơm là một thử thách quá lớn. Để mọi người không dị nghị, gia đình vợ con 3 chúng tôi chia sau, nhưng khi còn gần 30 chục suất cơm nữa thì thùng cơm gần hết. Chết cha rồi, làm gì còn cơm mà chia như lúc đầu. Thế là 3 thằng chúng tôi (thằng chia cơm, thằng chia thịt, thằng chia rau) bị bà con chửi té tát cho một trận vì chia không đều. Đến lượt vợ con chúng tôi thì không được đến 1/2 tiêu chuẩn, vợ tôi cằn nhằn vì đàn con đói mà lại còn bị nghe chửi. Buồn quá, may mà tôi chỉ có làm một lần nghề chia cơm bất đắc dĩ.

Được hơn tuần, họ thay đổi chế độ ăn, sáng phát cơm, chiều phát bánh mì và thịt hộp. Tiêu chuẩn 1 người 2 lát bánh mì, 5 người 1 hộp sữa đặc (condensed milk), 5 người 1 hộp dzăm-bông (ham) 400 gr, 2 người 1 quả cam. Tiêu chuẩn này, ngày nay đối với chúng tôi thì no, nhưng thời ấy quả là đói. Người lớn buổi sáng có thể hít không khí, còn trẻ con thì không thể tập thể dục để thay bữa sáng. Vì thế bữa tối, tôi và nhà tôi mỗi người ăn 1 lát bánh, để dành 2 lát và hộp sữa nước để mai cho 3 đứa có quà sáng. Hầu như gia đình có con trẻ đều phải làm như vậy. Khổ nhất là trẻ dưới 12 tháng, chúng phải có chế độ dinh dưỡng khác, nhưng đây là trại giam những người nhập cư bất hợp pháp cho nên trẻ em và người lớn bình đẳng về nuôi dưỡng. Có gia đình kế bên, bất chấp lệnh cấm, anh chị lấy bếp dầu (giấu kỹ lắm) ra quấy bột hoặc nấu cháo cho con, có lần đang nấu cảnh sát đột ngột vào kho, đành tắt lửa, hỏng cả xoong bột. Bọn buôn lậu tuồn mì ăn liền vào bán 10 gói lấy 1 chỉ vàng. Sau giá mềm hơn, 1 hộp mỳ (30 gói) 1 chỉ, ấy thế mà nhiều gia đình phải bấm bụng mua để cho con ăn!

Đến chiều, chúng tôi lại ra sân xếp hàng chờ phỏng vấn. Nghe thì oai, phỏng con mẹ gì đâu, hai bàn kê ngay giữa sân, 3 nhân viên hải quan ăn mặc chỉnh tề và một thông dịch viên, người ngồi chính giữa tay cầm bút, tay tập hồ sơ, gọi từng gia đình lên, hỏi họ tên và tuổi. Không hỏi ngày sinh tháng đẻ, không hỏi nghề nghiệp, nguyên quán… sau đó hất đầu chỉ sang bàn bên. Bàn bên là người làm nhiệm vụ chụp ảnh lấy ngay (đen trắng), chủ hộ chụp riêng, còn vợ con chung nhau một ảnh, rồi ký tên vào hồ sơ. Sau đó mỗi hộ được cấp một chiếc xô nhựa đựng nước, một chậu nhựa, mỗi người một đôi dép lê (kiểu Thái Lan). Thế là xong thủ tục nhập cảnh bất hợp pháp. Chính vì chuyện này, nhiều người khi đi định cư nước thứ ba bị hụt tuổi, gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Chúng tôi ở Hong Kong gần 10 tháng, trước khi đi định cư ở Anh (1980), bản hồ sơ của gia đình mà tôi được giữ để trình với cơ quan hữu trách chỉ ghi năm sinh (không có ngày tháng) dựa theo khai tuổi của cuộc phỏng vấn ngày nhập cảnh từ 1979. Có nghĩa là sau 1 năm, chúng tôi là con ma vì tuổi vẫn giữ nguyên, không già đi! Cầm tờ giấy xuất cảnh mừng quá trời, hơi đâu mà cãi lý với Cục Di dân Hong Kong, vả lại có giấy tờ gốc gì đâu mà đối chứng. Sau sáu năm, xin nhập quốc tịch Anh, tôi điền vào mẫu khai giữ nguyên năm sinh như Cục Di dân Hong Kong ghi, chỉ điền thêm ngày, tháng và nơi sinh. Chúng tôi cũng không khai đi báo lại, sợ gây phiền hà, vả lại chuyện này cũng chẳng ảnh hưởng đến sinh mạng chính trị cho nên cho qua luôn.

Tất cả đám cảnh sát ở Kho Đen hình như đều từ giới cai tù được đưa đến để trông coi chúng tôi thì phải. Bởi vì họ rất ác, rất tàn bạo, bất cứ chuyện gì cũng chửi mà chửi rất độc địa. Đứng đầu là tay trung úy cảnh sát béo (tôi không biết tên), mở mồm là đ. m cái l. thối con mẹ mày! Tôi nhiều lúc cố tình nhìn xem mồm thằng này ăn gì mà chửi độc địa như thế. Không những thế, hễ ai làm điều gì sai, hắn rút dùi cui tẩn liền, không kể đàn bà, người già, trẻ con. Hễ có đoàn nào đến thăm quan hắn đều bôi xấu kể tội chúng tôi tranh nhau từng xô nước, muổng cơm như bọn chết đói mấy đời. Chúng tôi căm lắm, nhưng không thể làm gì thằng chó đẻ ấy. Cuối tháng 7, có đoàn của Liên Hiệp Quốc phụ trách về tỵ nạn đến Kho Đen, tôi rất may gặp được một linh mục người Việt trong đoàn, tôi tố về sự ngược đãi của bọn cai tù này. Vị mục sư an ủi, ông bảo bọn này vô học (?), chúng coi tù đã quen, hơn nữa chúng ghen tị với chúng tôi vì một thời gian ngắn nữa chúng tôi sẽ được đi định cư ở nước thứ ba, điều mà chúng nằm mơ cũng không có! Năm 1983, tôi gặp một anh vừa từ Hong Kong sang, kể chuyện xưa và nhắc đến thằng chó đểu ấy thì anh ta bảo, thằng trung úy béo ấy bị người tỵ nạn mình đâm chết năm 1982 rồi. Tìm không ra thủ phạm.

Đầu vào thì phải có đầu ra. Đây là chuyện khủng khiếp nhất trong 31 ngày của đời tôi. Là kho cho nên làm gì có nhà vệ sinh, cảnh sát Hong Kong có sáng kiến cho nhà vệ sinh nổi. Có nghĩa là một thuyền (nhà) vệ sinh. Trời đất, cả Kho Đen có đến hai ba ngàn người mà chỉ có 20 hố vệ sinh trên thuyền. Lần đầu tiên bước chân xuống toilet boat, vừa bước xuống mấy bước đã thấy bao nhiêu “vành khăn” như những con rắn nằm dọc nằm ngang kín mít, không có chỗ đặt chân, tôi theo anh em ra ngay mạn thuyền làm chức “quận công”. Kiểu này cũng rất nguy hiểm, bởi vì mỗi lần có xuồng hay ca-nô đi qua là toilet boat lại chao đi chao lại, nghiêng hẳn, vì số người làm quận công không cân hai mạn thuyền, bám không chặt là tòm ngay xuống biển, hứng trọn của quý của chính mình hay của bạn bên vừa thải ra. Mỗi lần nghĩ đến là rùng mình, sởn cả da gà. Tôi ở sát cuối nhà kho, rất kín, nên lấy những tấm gỗ bỏ không, bìa cứng quây lại làm 1 hố xí cho vợ con. Tôi phải tìm mãi mới kiếm được chiếc gầu múc nước của thuyền cũ làm thùng đựng. Sau khi 3 đứa con lần lượt xong, cho vào xô ngụy trang, lấy giấy che kín đi ra sân trước, nhìn trước nhìn sau không thấy cảnh sát là a-lê-hấp cho xuống biển liền. Kế hoạch này chỉ giải quyết được vào ban đêm, ấy thế mà tụi trẻ nhà tôi nó chịu được để đến tối mới trút bầu tâm sự. Hỏi ra chúng bảo sợ lão cảnh sát béo nên cố nhịn! Sau này nghe tin họ đưa nhà vệ sinh di động thay thế toilet boat.

Một hôm, tôi sang kho 2, gặp một anh là giáo viên trường Trung học Trung Hoa Hà Nội, chúng tôi nói chuyện tào lao, chỗ gia đình anh ngồi rất gần tay thượng sĩ cảnh sát đứng gác. Chúng tôi thấy tay thượng sĩ này không đến nỗi nào, hỏi chuyện làm quen. Tôi hỏi gã, tại sao cảnh sát các anh lại đối xử tàn bạo với chúng tôi thế. Gã cười, trả lời, “tám tiếng chúng mày còn được nằm, được ngồi, đi đi lại lại, tụi tao cứ phải đứng tại chỗ nhìn chúng mày, hễ chuyện gì xảy ra là xếp tao nó đì, có khi bị cúp lương. Tụi mày chỉ khổ vài tháng rồi được sang Mỹ sướng như tiên. Tao nằm mơ cũng chẳng được. Nếu mà đổi được, tao đổi cho mày, mày làm cảnh sát tao xuống làm thằng tỵ nạn. Chúng mày có đồng ý không?”

Đông người, lại giữa mùa hè, ăn ở nhếch nhác, bẩn thỉu, hơn nữa sau một chặng đường dài ai ai cũng mệt mỏi, nhất là người già và trẻ em, cho nên người ốm rất nhiều. Ngay kho 2 có một buồng rộng chừng hơn 10 mét vuông (có lẽ là văn phòng cũ) được biến thành phòng khám bệnh. Trong phòng khám có hai y sĩ (một người ở đảo Trà Cổ, một ở thị xã Quảng Yên) ra làm thầy thuốc tự nguyện, khám bệnh kê đơn và một y tá (?) người Hong Kong phát thuốc kiêm đón tiếp. Tôi hỏi anh giáo viên, anh ta kể, “tội nghiệp cho hai anh này, thuyền của các anh ra trại tự do từ lâu nhưng vì không có người thay nên đành chết gí ở đây. Họ đang tìm người hình nhân thế mạng để các anh ra tự do”. Tôi hỏi, sao y tế của Hong Kong không cử người xuống khám chữa bệnh. Anh ta bảo, cái này xin chịu, biết làm sao mà trả lời. Tôi hỏi, anh ta có được trả thù lao không? Trả cái con mẹ gì, may lắm thằng a-xề béo nó cho túi cam, hộp bánh đem về cho con. Hú vía, tí nữa tôi xung phong làm thì có mà hết hơi và thật may khi phỏng vấn nó không hỏi nghề nghiệp. Lại một lần nữa “Tái ông thất mã”!

Một buổi chiều, đang nằm khàn, mấy đứa con tôi chạy đến báo tin, chúng vừa cười như nắc nẻ vừa kể. Thằng a-sề bắt được 4 chú hút thuốc lào, nó bắt quỳ xuống, khám túi lấy hết bật lửa phong thuốc và bắt nâng điếu cầy lên đầu. Cái chú cầm điếu cầy, hai tay nghiêng nghiêng dần cho nước điếu đổ xuống, không ngờ nước điếu đổ vào chú B. Chú B. mắng thì chú ấy bảo không đổ nước điếu nhỡ nó bắt uống thì chết à!

Trại Kho Đen, nhà tù không ra nhà tù, trại tỵ nạn không ra trại tỵ nạn, trại cấm không ra trại cấm, vì thế cách đối xử của nhóm người cai quản chúng tôi ở đây mang đầy đủ tính cách của bọn lưu manh, đểu cáng, chúng coi chúng tôi như những kẻ tội phạm quốc tế.

Ấy thế mà thuyền chúng tôi phải ở 31 ngày (01-8 đến 31-8) tại Kho Đen. Một quãng thời gian không dài so với cuộc đời nhưng những gì trải nghiệm ở Kho Đen chẳng bao giờ phai mờ trong ký ức.

(Còn nữa)

Kỷ niệm 30 năm ở Kho Đen 17-8-2009

© 2009 Lâm Hoàng Mạnh

© 2009 talawas blog

Bình luận

4 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Buồn vui đời tỵ nạn (1)”)

  1. luanle viết:

    Tôi đã từng ở tại trại Bidong Mã Lai. So sánh kinh nghiệm riêng với chuyện bác Mạnh kể lại, tôi thấy đời sống ở trại Bidong đàng hoàng hơn Hong Kong khá nhiều. Có lẽ vì vậy mà không ít người tỵ nạn VN còn vương vấn những kỷ niệm buồn vui về biển đảo Bidong và muốn trở lại thăm. Không biết có người tỵ nạn VN nào từng ở trại tỵ nạn Hong Kong muốn trở lại thăm nơi đó như những người từng ở trại Bidong hay không?

    Sở dĩ có sự khác biệt phải chăng là vì dựng trại ở đảo như Bidong thì dễ được hưởng qui chế dễ dãi hơn, còn trại ở tại thành phố thì phải khắt khe hơn? Cám ơn bác Mạnh đã chia sẻ kinh nghiệm đau thương và tôi cũng phục tài kể chuyện có duyên của bác.

  2. vantruong viết:

    Cứ tà tà viết như thế này tiếp hết mọi chuyện dám chắc bác Lâm Hoàng Mạnh sẽ ra được cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Mấy”… “Chuyện thật” hấp dẫn quá, đáng để đời, cho nên vậy tôi xin trước hoan hô và cám ơn tác giả.

  3. phuongchi viết:

    Thưa bác Mạnh,

    Cám ơn bác đã chiếu lại những đọan phim vô cùng sống động và tả thực về thảm cảnh của “thuyền nhân VN”. Tuy nhiên người tỵ nạn VN đến HK sau bác (thập niên 80 khi HK đổi chính sách không cho “thuyền nhân” Việt ra ngoài đi làm kiếm sống, gọi là chính sách “trại cấm”, rồi từ năm 1988, khi HK tuyên bố chấm dứt chính sách nhận nguời tỵ nạn, áp dụng chế độ thanh lọc, khuyến khích “tự nguyện hồi hương” rồi “cưỡng bách hồi hương”) còn thê thảm hơn vậy gấp nghìn lần… Đời sống trong trại giam di dân nhập lậu (Illegal Immigrants Detention Centre) theo đúng quy chế nhà tù do nhân viên Cục Cải Huấn HK quản trị dồn con người đến chỗ sống theo quy luật bản năng khiến bất cứ ai có chút lương tâm đều thấy chua xót cho kiếp người Việt.

    Theo thiển ý, khi nào được kha khá, đề nghị bác nên in thành sách để nhiều người có cơ hội được đọc và biết về một giai đoạn đầy cay đắng của đất nuớc chúng ta. Kính.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>