Nguyễn Đình Đăng – Một thị trường nghệ thuật đích thực ở Việt Nam?
24/09/2009 | 7:01 sáng | 9 phản hồi
Chuyên mục: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Thị trường nghệ thuật > Tranh giả
(Cảm nghĩ nhân đọc “Tranh Việt …và thị trường đấu giá quốc tế” cuả Lý Đợi)
Cách đây chừng một phần tư thế kỷ, có một dạo hầu như ngày nào tôi cũng đạp xe đi vẽ cảnh phố xá Hà Nội. Khi tôi đứng đường vẽ như vậy, thường có nhiều trẻ con người lớn vây xung quanh xem. Có lần một cậu thiếu niên hỏi tôi:
- Anh ơi, anh vẽ để làm bài dự thi à?
- Không. – Tôi trả lời
- Thế anh vẽ để bán à?
- Không.
- Thế để triển lãm à?
- Không.
- Thế thì anh vẽ để làm gì?
- Chẳng để làm gì. Thích vẽ thì vẽ.
- Thế thì vẽ làm cái đéo gì! – Cậu thiếu niên nói rồi bỏ đi.
(Tôi thành thật xin lỗi quý vị vì tôi cho rằng, trong trường hợp này, chỉ có viết rõ toàn bộ mới có hy vọng truyền được phần nào cái âm hưởng của tiếng Hà Nội thanh lịch, quê hương của tôi.)
Một hoạ sĩ Hà Nội từng nói với tôi rằng nếu không là để bán thì anh ta không vẽ. Nói đến chuyện vẽ tranh để bán, tại một số thành phố của các nước mà tôi có dịp đi qua, đều có những địa điểm nơi các hoạ sĩ tụ tập bày tranh, vẽ tranh để bán cho khách du lịch. Paris có Place du Tertre trên đồi Montmartre, Naples có Galleria Umberto, Lisbon có phố Augusta, Moscow có phố Arbat, Tokyo có bậc tam cấp vào công viên Ueno, v.v. Ở Việt Nam tuyệt nhiên không có những chỗ như thế. Tại một đại hội văn nghệ sĩ được tổ chức ở Nhà hát Lớn Hà Nội cách đây chừng hai chục năm, tôi có đọc một tham luận trong đó tôi nêu ý kiến đề nghị Nhà nước, cụ thể là Bộ Văn hoá và thành phố Hà Nội, cho phép mở một địa điểm như vậy ở Hà Nội. Khi tôi nói xong quay về chỗ ngồi, một anh bạn hoạ sĩ ngồi cạnh nói nhỏ với tôi: “Thực ra không ai cấm làm như vậy.” Khoan bàn tới đề tài là ở Việt Nam “không ai cấm” không đồng nghĩa với “được phép làm”, đến nay tôi cũng đã thấy rằng đề nghị của tôi có lẽ là bất khả thi vì hai lý do. Một là: một khi cả thành phố đã thành một Place du Tertre, với hàng loạt galleries bán nhiều tranh “series” giống nhau, thì liệu có cần thêm một cái Place du Tertre bên trong nó nữa? Hai là: ở những chỗ thanh thiên bạch nhật như thế, hoạ sĩ không chỉ bày bán tranh phong cảnh, tĩnh vật tầm tầm là xong, mà còn cần trổ tài vẽ chân dung của khách du lịch làm sao cho… giống trong vòng nửa giờ hay 45 phút. Quả này xem ra khó nhằn đối với nhiều hoạ sĩ được đào tạo từ các trường mỹ thuật của ta, mà theo như nhận xét của ông chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Trần Khánh Chương, nhiều người trong số họ còn “chưa làm chủ kỹ thuật”[1]. Ông chủ tịch hội Mỹ thuật Hà Nội Nguyễn Đỗ Bảo thì kể: “Tôi từng hỏi đại diện một trường mỹ thuật là có ai đủ trình độ vẽ một cái tay, cái chân cho chuẩn, các anh ấy bảo khó đấy!”.
Như thế không biết đã đủ để độc giả có thể tự kết luận tại sao Việt Nam chưa thể có một thị trường nghệ thuật “đích thực” hay chưa?
Nói ra nghe cứ ngỡ như một nghịch lý, nhưng nghệ thuật đích thực phải không nhằm bất cứ mục đích nào khác nằm ngoài, hoặc cao hơn, việc thể hiện thiên phú của nghệ sĩ. Tranh pháo, được “sản xuất” trước hết để bán, để phục vụ tuyên truyền, hay bất cứ thứ gì khác, nếu không là “rác thải văn hoá” (tên gọi mỹ miều của đồ vứt đi), thì cũng có rất ít giá trị, được dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ đã là may lắm rồi.

Tô Ngọc Vân, Hai thiếu nữ và em bé (1944) Trái: bản của BTMT Việt Nam. Phải: bản của BTMT châu Á tại Fukuoka (Nhật Bản)
Vì thế, theo thiển ý của tôi, chỉ khi nào Việt Nam có nhiều hoạ sĩ vẽ tranh không nhằm mục đích chủ yếu là để bán, mà vẽ vì ý thích là mục tiêu tối thượng, chỉ vì nếu không vẽ thì không chịu được, vẽ chẳng để làm cái (…) gì, thì lúc đó mới có hy vọng ở Việt Nam xuất hiện một thị trường tranh thực thụ. Nếu chính các hoạ sĩ cũng làm tranh giả nhan nhản để bán, chính các viện bảo tàng mỹ thuật (BTMT) – kho báu nghệ thuật của quốc gia – lại đi “khơi mào chuyện chép tranh”[2] để rồi các kiệt tác của hội hoạ Việt Nam tiền chiến (trước 1945) như hai bức “Chơi ô ăn quan” của Nguyễn Phan Chánh và “Hai thiếu nữ và em bé” của Tô Ngọc Vân đều có mỗi bức tới hai “bản gốc”, một bản treo ở BTMT Việt Nam, bản kia treo ở BTMT của Nhật Bản, mà cho đến giờ phút này vẫn chưa bảo tàng nào chịu nhận tranh của mình là bản sao[3], thì viễn cảnh về một thị trường tranh đích thực, một nhà đấu giá tranh đích thực do người Việt làm chủ ở Việt Nam e rằng còn xa vời.
Nghệ sĩ là con đẻ của xã hội. Người Việt ta có câu: “Giỏ nhà ai quai nhà ấy.” Một xã hội dân trí thấp, vận hành theo một cơ chế vàng thau lẫn lộn, những người biết (vừa uyên bác vừa thông minh) thì không nói (hoặc không được nói) vì không lấy ai và lấy gì bảo đảm quyền tự do sau khi phát ngôn của họ, còn những người không biết (vừa dốt vừa ngu lại vừa độc đoán) thì lại được quyền tha hồ ba hoa chích choè, giáo dục khủng hoảng, đạo đức băng hoại, tham nhũng là quốc nạn, thì thử hỏi liệu làm sao có thể sản sinh ra một nghệ thuật có giá trị cao được, nếu không nói là liệu còn có thứ gì đáng được gọi là nghệ thuật nữa hay không?
Buồn!
Tokyo 21/9/2009
© 2009 Nguyễn Đình Đăng
© 2009 talawas blog
[1] “Tranh sơn dầu đương đại Việt Nam: Nhiều hoạ sĩ chưa làm chủ kỹ thuật”, Lao Động, 17/11/2008
[2] “Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam khơi mài chuyện chép tranh?”, Báo Đất Việt 15/5/2009
[3] Bức luạ “Chơi ô ăn quan” (1931) của Nguyễn Phan Chánh và bức sơn dầu “Hai thiếu nữ và em bé” (1944) của Tô Ngọc Vân đồng thời có mặt tại sưu tập cố định của BTMT Việt Nam và BTMT châu Á ở Fukuoka (Nhật Bản). Xem:
http://www.baotangmythuat.vn/tb_view.asp?Id=296
http://faam.city.fukuoka.lg.jp/search/view.php?view=00002189
http://faam.city.fukuoka.lg.jp/cgi-bin/eng/collection/collection.cgi?cnid=0405241453201442
Phản hồi
9 phản hồi (bài “Nguyễn Đình Đăng – Một thị trường nghệ thuật đích thực ở Việt Nam?”)


Tôi cũng đã nhiều lần từng đặt câu hỏi vì sao dân ta lại dùi đục chấm mắm cáy thâm căn cố đế như vậy và cũng đã có những nhận định như bà Bùi Như Hương. Tuy nhiên hẳn là con người đến một lúc nào đó sẽ phát triển toàn diện hơn, vấn đề là thời gian. Nhưng có sao đâu, mặt trời còn sống vài triệu năm nữa kia mà, còn xơi, còn xơi..
Ý kiến của bà Bùi Như Hương – nhà bình luận mỹ thuật, Ban Mỹ thuật Hiện đại – Viện Mỹ thuật (Hà Nội):
———————————————–
Bài viết rất hay, chính xác, sắc sảo, hoàn toàn đúng. Tôi chỉ muốn đưa thêm một suy nghĩ của cá nhân sau đây.
Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam từ xa xưa đã luôn gắn với mỹ thuật ứng dụng (đình chùa, miếu mạo, bàn thờ, đồ cúng tế, đồ gốm…). Người Việt, có lẽ vì nghèo chăng, nghèo nhiều đời và quá nghèo, cho nên mỹ thuật Việt luôn có tính lưỡng dụng: vừa để ngắm (thưởng ngoạn) và vừa để dùng (sử dụng). Hình như chẳng có gì làm để chơi thuần túy mà không dùng vào việc gì. Tranh thờ cũng để thờ, tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống thì sản xuất thật nhiều mang ra chợ bán… Cái nghèo đến tận xương tận tủy dường như làm cho người Việt đa phần là thực tế, thực dụng, ít bay bổng lãng mạn. Và điều này gần như đã trở thành bản sắc. Đó là nỗi buồn.
Có lẽ vẫn chuyện miếng cơm manh áo mà suy nghĩ của ngườì Việt thường nhỏ nhặt, đơn sơ, thực dụng, ít lớn lao. Trong nghệ thuật cũng vậy. Một nền nghệ thuật quá non trẻ, sinh ra trên một đất nước nghèo nàn, thường xuyên đói ăn và chiến tranh, với những con người chỉ luôn quẩn quanh với chuyện sinh nhai, nên chuyện vẽ tranh đã là xa xỉ, vẽ tranh vu vơ thiếu tư tưởng càng là tất yếu, và vẽ để bán lại càng là điều mặc nhiên nữa.
Cứ thế thôi, nước mình, dân mình sinh ra ở một vùng địa khí hậu hình như không để làm việc lớn, không để tư duy sáng tạo lớn, mà tất cả cứ luôn ở kích cỡ nhỏ, lặt vặt, trong mọi lĩnh vực, ăn xổi ở thì như khí hậu. Nghệ thuật Việt Nam có lẽ cũng vậy, chỉ ở giáp ranh hàng mỹ nghệ – trang trí, nghệ thuật hàng chợ dành cho đại chúng, rất rất ít những cái đáng kể lớn lao vượt bậc.
Cũng không biết nữa, nhưng tôi luôn cảm thấy thế. Chỉ có vượt ra ngoài vùng địa – chính trị- khí hậu này thì may ra mới làm được điều gì đó khá hơn chăng?
Có lẽ số phận dân tộc, bản sắc, tính cách con người Việt Nam đã bị qui định bởi rất nhiều lý do, nhưng trên hết môi trường thiên nhiên – địa khí hậu là một trong những yếu tố gây tác động ảnh hưởng nhiều nhất. Có gì đó giống như người Cu Ba chỉ thích nhảy nhót vui vẻ, người Đức chỉ suy tư – suy tư nghiêm túc thái quá, trong khi người Việt Nam chẳng thích nghĩ gì cả, hoặc nghĩ rất ngắn, cụ thể, hời hợt và dễ dãi.
[...] Trần Khánh Chương, nhiều người trong số họ còn “chưa làm chủ kỹ thuật”[1]. Ông chủ tịch hội Mỹ thuật Hà Nội Nguyễn Đỗ Bảo thì kể: “Tôi từng [...]
[...] [1] “Tranh sơn dầu đương đại Việt Nam: Nhiều hoạ sĩ chưa làm chủ kỹ thuật”, Lao Động, 17/11/2008 [...]
Vì thừa một ngoặc đơn nên một link trong trả lời Chaien không mở. Link chính xác là:
http://nguyendinhdang.blogspot.com/2009/01/tr-liphng-vn-ca-phng-vin-bo-tin-phong-m.html
Trả lời Sacroyant Nguyen:
————————————————-
Một bài báo tới 1400 từ tại http://www.xaluan.com là đã quá đủ.
Trả lời ann phong:
————————————————-
Như tôi cũng đã từng viết (tại
http://www.talawas.org/?p=3722,
http://www.talawas.org/?p=3884, http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5590&rb=0201),
dân trí chỉ có thể được nâng lên nhờ giáo dục và mở cửa thông tin. Mỹ thuật và âm nhạc cần được dạy từ trong trường phổ thông song song với việc học đánh vần, ngữ pháp, văn chương và thơ phú. Thay vì nhồi nhét kiến thức để thi cử, lấy bằng, nhận học vị, cần rèn luyện phương pháp tư duy độc lập, tư tưởng cởi mở, tinh thần tự do, cách tranh luận văn minh, để tránh được cái hậu quả chứa nhiều thứ trong đầu nhưng vẫn … vô giáo dục.
Đối với các hoạt động văn hoá thông tin, cần bãi bỏ tất cả các cơ quan kiểm duyệt văn hóa – tư tưởng, cũng như việc dùng tường lửa ngăn chặn thông tin trên internet, bởi đó là những biện pháp vi hiến, bưng bít (ngu dân), mang tính đối phó, rất tốn kém, ít hiệu quả, gây bất bình trong xã hội vì cách ứng xử, trịch thượng, coi khinh người dân của nhà chức trách.
Trả lời Chaien:
————————————————-
Kỹ năng là điều cần thiết để nghệ sĩ thể hiện thành công ý tưởng và cảm xúc nghệ thuật của mình. Kỹ năng có thể học được và rèn luyện được. Đại học mỹ thuật (ĐHMT) tất nhiên cần truyền cho sinh viên các kiến thức và kỹ năng cơ bản của chuyên ngành. Tôi không rõ ĐHMT SG thế nào, nhưng, trong lần nói chuyện về kỹ thuật vẽ sơn dầu tại ĐHMT Hà Nội (HN) vào tháng 1/2009, tôi được biết có nhiều sinh viên đã tốt nghiệp ĐHMT HN về hội hoạ sơn dầu song vẫn không biết màu trong (transparent), màu đục (opaque), bán trong (semi-transparent), bán đục (semi-opaque) của sơn dầu , và trường ĐHMT HN – một đại học hàng đầu về mỹ thuật của quốc gia, được thành lập cách đây hơn 80 năm – đến nay vẫn chưa có một cuốn giáo trình để dạy sinh viên về kỹ thuật hội hoạ sơn dầu.
(Xem http://nguyendinhdang.blogspot.com/2009/01/tr-liphng-vn-ca-phng-vin-bo-tin-phong-m.html)
Hình vẽ ra dẹt hay nổi khối, cứng đơ hay mềm mại, vô hồn hay sống động chẳng phải do nhìn ảnh hay nhìn mẫu thực, do máy ảnh có ống kính ngắn hay dài, mà là do cái tài của người vẽ. Không phải đợi đến thế kỷ 20 hoạ sĩ mới dùng máy ảnh như công cụ giúp cho việc vẽ. Các hoạ sĩ Baroque như Jan Vermeer đã sử dụng camera obscura để vẽ tranh (Xem http://ribf.riken.go.jp/~dang/kythuat/kythuatvesondau.pdf , trang 34). Tuy nhiên tranh của Vermeer không vì thế mà mất đi chiều sâu của không gian, cảm giác của ánh sáng lung linh và không khí tràn ngập. Khác với kỹ năng là thứ có thể đạt được nhờ luyện tập cần cù, tài năng chỉ có được do Trời cho. Tuy nhiên, thiếu kỹ năng tài năng sẽ không nở rộ được. Điều này có thể ví như hai hòn đá: một hòn có ngọc ở bên trong, hòn kia chỉ là đá thường. Đá có ngọc phải được mài thì ngọc mới hiện ra, toả sáng. Đá không có ngọc thì có mài đến hết cả đá cũng không thấy gì.
Tự nhiên đọc cái vụ anh nói vẽ tay chân/tỷ lệ cơ thể mới nhớ có lần về Vn ngồi vẽ ở phòng tranh, nghe bà quản lý khen tôi “vẽ phác có vài nét mà thành hình người rất giống”, hóa ra những buổi cặm cụi ngồi tập luyện kết quả là như vậy. Và đúng là nhiều “họa sĩ” ở VN không hiểu ảnh chụp qua kính 50mmm và tele khác nhau ở chỗ nào, cho nên khi vẽ truyền thần mặt cứ “bèn bẹt” mà không biết làm sao để sửa. Và nếu vẽ với người thật thì… quên đi. Đây mới chỉ nói chuyện tỷ lệ, góc nhìn, chưa nói đến phối màu xa gần, stroke… hoàn toàn là ‘chuyện dở hơi’ đối với “họa sĩ” đã tốt nghiệp trường mỹ thuật. Nhưng hình như sinh viên mỹ thuật công nghiệp SG có vẻ khá hơn, nhờ học hình họa?
Cảm ơn bài viết của họa sĩ Nguyễn Đình Đăng, đã phác họa rõ nét về thực trạng của nhiều họa sĩ đang sống tại quê nhà. Chén cơm manh áo nhà cửa xe xộ ly bia đã làm mờ đôi mắt thật của người cầm cọ.
Không biết cho đến lúc nào thì trình độ hiểu biết nghệ thuật của dân ta mới được nâng cao? Thật ra điều này không những xảy ra tại Việt Nam mà còn ở ngoài Việt Nam nữa. Mỗi lần tôi triển lãm tại các phòng tranh của Mỹ thì người Mỹ thích ngắm tranh trước rồi sẽ trao đổi phê bình tranh với họa sĩ. Còn người Việt Nam ta đi coi tranh thường hay hỏi họa sĩ bán được bao nhiêu tranh rồi. Khi tôi cười trả lời rằng tranh tôi vẽ không nhắm vô người mua thì họ nhìn tôi như một người khùng!
Chào chú Nguyễn Đình Đăng,
Bài viết này rất thú vị, cháu tán đồng quan điểm của chú về sáng tạo nghệ thuật.
Sáng tạo nghệ thuật trước hết là một đòi hỏi tự ngã, một sự thúc giục từ bên trong, khiến cho người nghệ sĩ không thể không làm việc để giải tỏa những dồn nén nội tâm lên tác phẩm của họ. Cháy thấy các từ “cảm hứng sáng tạo” hay “khát vọng sáng tạo” không diễn tả được điều này.
Cách đây không lâu, dư luận trong nước rộ lên vụ bàn tán về trường phái hội họa “Cây đời vĩ đại” do Nguyễn Khắc Cường khởi xướng – http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=118763 – với bức tranh mà anh ta định giá 180 tỷ. Chú nhận xét gì về sự kiện ấy và con người nghệ thuật Nguyễn Khắc Cường?