talawas blog

Chuyên mục:

Lại Nguyên Ân – Xác định lại thời điểm công bố lần đầu bài thơ “Tình già”

04/10/2009 | 5:45 chiều | 2 Comments

Tác giả: Lại Nguyên Ân

Category: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: > >

Lâu nay, làng văn làng báo nước ta gần như hoàn toàn nhất trí lấy ngày 10/3/1932 làm ngày mở đầu phong trào Thơ Mới tiếng Việt đầu thế kỷ XX. Chúng ta đều dựa vào Hoài Thanh, người đã khẳng định cái mốc ấy, vào năm 1941, khi viết: “Nhưng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là ngày 10 Mars 1932”; và ông chú thích rõ dưới chân trang: “Tức là ngày xuất bản tờ Phụ nữ Tân văn số 122 trong ấy có bài ‘Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ’.” (“Một thời đại trong thi ca”, Thi nhân Việt Nam 1932-1941, bản tái bản, Hà Nội: Nxb. Văn học, 1988, tr. 22).

Sự ghi nhận như trên cũng có nghĩa là: nếu chúng ta biết được rằng bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” đã từng được công bố sớm hơn, thì mặc nhiên, điểm khởi đầu Thơ Mới cũng phải được tính sớm hơn.

Quả vậy. Việc được đăng tải trên tuần báo Phụ nữ Tân văn số 122 ở Sài Gòn ngày 10/3/1932 không phải là lần ra mắt đầu tiên của bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, − bài báo mà trong đó Phan Khôi đề xướng “thơ mới” và đưa bài thơ “Tình già” của mình ra như một thí dụ. Bởi vì trước đó ở Hà Nội, ngày 17/2/1932 trên tờ Đông Tây của chủ nhiệm Hoàng Tích Chu đã có bài của ký giả Thượng Minh “Đôi lời về lối thơ mới của Phan Khôi”; ngay câu mở đầu,  Thượng Minh cho biết: ông đã được “xem bài ‘Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ’ của Phan tiên sinh, đăng trong Tập văn mùa Xuân của Đông Tây”. Sau đó, người ta thấy ý kiến Thượng Minh đã được Phan Khôi trả lời bằng bài “Về lối thơ mới sau bài ‘Tình già’: Vừa mở ra đã có người lo cột lại!” cũng đăng trên Đông Tây ngày 12/3/1932 (tức là chỉ 2 ngày sau khi bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” được đăng [đúng ra là đăng lại] trên Phụ nữ Tân văn ở Sài Gòn).

Vậy thì điều cốt yếu là chúng ta phải tìm ra Tập văn mùa Xuân của Đông Tây, nơi đăng tải lần đầu bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”.

Người đọc tinh ý, xem Phụ nữ Tân văn số 122, sẽ thấy trang cuối bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, trang 16, còn dư khá nhiều giấy, tòa soạn dùng để in 4 khung quảng cáo, trong đó có khung quảng cáo 3 ấn phẩm của Tân Việt Nam thư xã ở Hà Nội (mà P.N.T.V. làm đại lý tại Sài Gòn), gồm 2 cuốn sách dịch Vô gia đình, Đông Châu liệt quốcTập văn mùa Xuân của Đông Tây.

Nhưng cách gộp vào đó có lẽ là tiện cho việc quảng cáo, chứ thật ra, Tập văn mùa Xuân không phải là sách của Tân Việt Nam thư xã. Có thể gọi nó là giai phẩm Xuân hoặc phụ trương Tết của báo Đông Tây. Điều gây khó cho hậu thế là, trong lưu trữ của Thư viện Quốc gia ở Hà Nội, các phụ trương báo Tết thường không được đóng trong cùng bộ sưu tập báo chính. Tôi có chút kinh nghiệm mươi năm trước, khi tìm số Tết 1946 cho bán nguyệt san Tiên phong: không có thông tin gì ở khu vực báo, đành mò sang khu vực sách, và rồi cũng tìm thấy cuốn Nguồn sống mới chính là mấy số đang thiếu trong bộ sưu tập Tiên phong. Lần này cũng vậy, rốt cuộc ở khu vực sách, tôi đã tìm thấy Tập văn mùa Xuân của báo Đông Tây, xuất bản vào dịp đầu xuân 1932.

Bìa 1 "Tập văn mùa Xuân" của báo Đông Tây

Bìa 1 "Tập văn mùa Xuân" của báo Đông Tây

Bìa 2 "Tập văn mùa Xuân" của báo Đông Tây

Bìa 2 "Tập văn mùa Xuân" của báo Đông Tây

Nếu báo Đông Tây dùng khổ rộng 60x45cm, thì phụ trương Tết này lại dùng khổ nhỏ 32x20cm, gồm 24 trang ruột và 4 trang bìa; chỉ có giấy in là cùng loại in báo Đông Tây. Có lẽ vì muốn tiết kiệm nên dù ở chân bìa 1 có in sai là “Tập văn mùa Xuân này xuất bản đầu năm Nhâm Thìn” nhưng vẫn để nguyên, chỉ ở bìa 2 mới đóng khung đăng cải chính: “Tập văn muà Xuân này xuất bản đầu năm Nhâm Thân (1932) chứ không phải đầu năm Nhâm Thìn như đã in lầm ở bìa vậy. Nay cải chính”! Bài vở trong tập này là sự góp mặt của những cây bút như Hoàng Tích Chu, Ngym, Nhị Lang, Nam Hương, Trịnh Đình Rư, Trúc Đình, Đặng Trọng Duyệt, Vi Huyền Đắc, Thượng Minh, Vũ Bằng, Đại Thanh,… và tất nhiên có Phan Khôi: ông góp đến 2 bài, tổng cộng 4 trang: bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, và một bài bình luận thời sự, viết về chuyến bay mở đường của hai phi công Pháp Codos và Robida khởi hành từ Marseille sáng 5/1/1932, qua Athènes, Alleep, Bassorah, Karachi, Calcutta, Bangkok, đến 15 giờ ngày 11/1/1932 hạ cánh xuống sân bay Bạch Mai; – chuyến bay tìm lộ trình ngắn từ Marseille sang Hà Nội, chứng tỏ chính phủ Pháp đương thời rất chú ý rút ngắn con đường từ chính quốc đến cái “bao lơn trên Thái Bình Dương” là xứ Đông Dương thuộc Pháp.

Trang 6 "Tập văn mùa Xuân" của báo Đông Tây

Trang 6 "Tập văn mùa Xuân" của báo Đông Tây

Trang 7 "Tập văn mùa Xuân" của báo Đông Tây

Trang 7 "Tập văn mùa Xuân" của báo Đông Tây

Bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” đăng trong Tập văn mùa Xuân của báo Đông Tây có cái hay cho người đọc là ở đấy vẫn còn khoảng trên 100 từ mà khi Phụ nữ Tân văn đem đăng lại sẽ bị kiểm duyệt bỏ đi mất, như người ta đã biết. Ta sẽ thấy rằng, những gì Phan Khôi nói về bài thơ “Dân quạ đình công” của mình, sẽ đều bị sở kiểm duyệt ở Sài Gòn buộc xóa đi khi in lại trên Phụ nữ Tân văn. Liên quan với bài thơ ấy, ta sẽ rõ ý Phan Khôi về thí nghiệm lần trước: cái mới của đề tài chưa phải mới thật sự.

Xin dẫn lại đoạn có xen lẫn những câu chữ sẽ bị kiểm duyệt bỏ khi đăng P.N.T.V. như sau (những chữ tô xanh là chữ bị bỏ khi in P.N.T.V.):

[……..]

Duy tân đi! Cải lương đi! À, có rồi chứ có phải không đâu. Thí dụ như bài thơ:

Dân quạ đình công

…………………………..

Bài ấy của tôi đã đăng trong Đông Pháp Thời báo năm 1928, được nhiều người hoan nghênh, kể cũng đáng cho là một ngôi sao chổi giữa trời thơ! Cho đến ngày nay tôi đọc lại vẫn còn nhìn là được, nhưng thích thì tôi không thích.

Đại phàm thơ là để tả cảnh, tự tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải quý cho chơn. Lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn hay thất ngôn, tuyệt cú hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Mà dầu có phóng ra theo lối thất cổ, như bài “Dân quạ đình công” đây, cũng vẫn còn bị câu thúc. Hễ bị câu thúc thì nó mất cái chơn đi, không mất hết cũng mất già nửa phần.

Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ, là bài nào cũng như bài nấy. Cứ rủ nhau khen hay thì nó là hay, chớ nếu lột tận xương ra mà xem, thì chẳng biết cái hay ở đâu. Như bài “Dân quạ đình công” đó, chỉ nhờ có đem việc đình công là một việc mới ra mà tả, việc ấy lại hiệp với… người đời nay thành thử người ta ưa, chớ coi kỹ thì nó cũ quá, thiệt tình chẳng phải hay gì.

Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới. Vì nó chưa thành thực nên chưa có thể đặt tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là: Đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết. Ấy là như: TÌNH GIÀ [….]

Như vậy, đến đây có thể khẳng định: bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” đã được Phan Khôi đưa đăng trong Tập văn mùa Xuân của báo Đông Tây ở Hà Nội trước, sau đó mới đăng Phụ nữ Tân văn ở Sài Gòn. Thời điểm đăng Phụ nữ Tân văn là rất xác định (10/3/1932), vì gắn với ngày xuất bản ấn phẩm định kỳ. Còn ngày ra mắt một giai phẩm hay phụ trương thì ít nhiều bất định, lại không in ngày phát hành lên ấn phẩm nên càng khó xác định. Vậy là phải phỏng đoán. Ngày nguyên đán (mồng 1 Tết) Nhâm Thân vào ngày 6/2/1932. Một ấn phẩm bán vào dịp Tết chắc chắn phải phát hành trước Tết ít nhất là một tuần. Như vậy có thể dự đoán Tập văn mùa Xuân Nhâm Thân 1932 của báo Đông Tây phải được phát hành vào cuối tháng 1/1932.

Vậy, điểm khởi đầu phong trào Thơ Mới hay là cuộc “cách mệnh về thi ca” tiếng Việt – nói bằng chữ của Hoài Thanh – cũng nên được đánh dấu bằng điểm khởi đầu tại Hà Nội vào mùa Xuân Nhâm Thân 1932, nếu cộng đồng văn học Việt Nam tiếp tục gắn tín hiệu đó với sự xuất hiện bài báo “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” của Phan Khôi.

Hà Nội, 23/9/2009

Lại Nguyên Ân

______________

Phụ lục

Bản A (đăng Tập văn mùa Xuân của báo Đông Tây, khoảng cuối tháng 1/1932)

MỘT LỐI “THƠ MỚI” TRÌNH CHÁNH GIỮA LÀNG THƠ

Mới đây, tôi có được gặp ông Phạm Quỳnh ở Sài Gòn. Trong khi nói chuyện, ông nhắc đến mấy bài “Trúc chi từ” của tôi đã làm trên sông Hương khi gặp người bạn cũ là ông Nguyễn Bá Trác ở ngoại quốc mới về; ông Phạm tỏ ý khen mấy bài đó và nói chính mình đã dịch nó ra tiếng Pháp. Sau hết, ông khuyên tôi nên giữ cái thái độ ngâm thơ như hồi đó thì hơn.

Lời khuyên của ông Phạm đó, dầu là lời nói dỡn đi nữa, với tôi, tôi cũng phải nhìn là có ý nghĩa. Nhưng sau khi nghe lời ấy, tôi chỉ có thể gật đầu mà làm thinh, không dám vội vàng tỏ ra mình đã vui lòng lãnh giáo. Vì con người ta mà muốn thay đổi cách sinh hoạt về tinh thần, lại còn khó hơn chánh phủ thay đổi cái chế độ giáo dục hay chế độ nấu rượu nữa, không phải việc chơi đâu mà hấp tấp.

Duy có vì nghe lời ông đó mà tôi nhớ sực lại sự làm thơ. Thật, cái động cơ viết bài này là chính ở mấy lời của ông.

Ông Phạm bảo tôi nên lấy lại cái thái độ ngâm thơ hồi trước, trong đó tỏ ra rằng bấy lâu tôi đã bỏ mất hay là đã đổi cái thái độ ấy đi, nghĩa là bấy lâu nay tôi không ngâm thơ. Mà quả thế, gần mười năm nay tôi không có bài thơ nào hết, thơ bằng chữ gì cũng không có.

Trước kia tôi dầu không có tên tuổi trong làng thơ như ông Nguyễn Khắc Hiếu, ông Trần Tuấn Khải, song ít ra trong một năm, tôi cũng có được dăm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng Nôm. Mà dăm bảy bài của tôi, không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được. Vậy mà gần mười năm nay mót lắm chỉ được một vài bài mà thôi, kể cũng như là không có.

Xin thú thật với mấy ông thợ thơ. Không có, không phải tại tôi không muốn làm hay không thèm làm, nhưng tại tôi làm không được!

Vậy thì hiện nay, đừng nói tôi không chịu nhận lời khuyên của ông Phạm, dầu cho tôi nhận đi nữa, mà tôi không còn làm thơ được, thì ông mới xử trí cho tôi làm sao? Đó, chính cái vấn đề ở đó rồi.

Lâu nay, mỗi khi có hứng, tôi toan giở ra ngâm vịnh, thì cái hồn thơ của tôi như nó lúng túng, chẳng khác nào cái thân của tôi là lúng túng. Thơ chữ Hán ư? Thì ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi rồi. Thơ Nôm ư? Thì cụ Tiên Điền, bà huyện Thanh Quan đè ngang ngực tôi, làm cho tôi thở không ra. Cái ý nào mình muốn nói, lại nói ra được nữa, thì đọc đi đọc lại, nghe như họ đã nói rồi. Cái ý nào họ chưa nói, mình muốn nói ra, thì lại bị những niêm, những vận, những luật bó buộc mà nói không được. Té ra mình cứ loanh quanh lẩn quẩn trong lòng bàn tay của họ hoài, thật là dễ tức!

Duy tân đi! Cải lương đi! À, có rồi chứ có phải không đâu. Thí dụ như bài thơ:

Dân quạ đình công

…………………………..[1]

Bài ấy của tôi đã đăng trong Đông Pháp Thời báo năm 1928, được nhiều người hoan nghênh, kể cũng đáng cho là một ngôi sao chổi giữa trời thơ! Cho đến ngày nay tôi đọc lại vẫn còn nhìn là được, nhưng thích thì tôi không thích.

Đại phàm thơ là để tả cảnh, tự tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải quý cho chơn. Lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn hay thất ngôn, tuyệt cú hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Mà dầu có phóng ra theo lối thất cổ, như bài “Dân quạ đình công” đây, cũng vẫn còn bị câu thúc. Hễ bị câu thúc thì nó mất cái chơn đi, không mất hết cũng mất già nửa phần.

Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ, là bài nào cũng như bài nấy. Cứ rủ nhau khen hay thì nó là hay, chớ nếu lột tận xương ra mà xem, thì chẳng biết cái hay ở đâu. Như bài “Dân quạ đình công” đó, chỉ nhờ có đem việc đình công là một việc mới ra mà tả, việc ấy lại hiệp với… người đời nay thành thử người ta ưa, chớ coi kỹ thì nó cũ quá, thiệt tình chẳng phải hay gì.

Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới. Vì nó chưa thành thực nên chưa có thể đặt tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là: Đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết. Ấy là như:

TÌNH GIÀ

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

− “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;

Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”

− “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thuỷ chung?”

……………………………………………………….

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau;

Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!

Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi!

Đó là bài thơ tôi làm trước đây vài tháng, mà tôi kêu là một lối thơ mới đó. Chẳng phải là tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm đất mới; mà miếng đất tôi kiếm được đó chẳng biết có ở được không, nên mới đem ra mà trình chánh giữa làng thơ.

Chẳng phải tôi là người thứ nhứt làm ra việc nầy. Hơn mười năm trước ở Hà Nội cũng đã có một vị thanh niên làm việc ấy mà bị thất bại.

Tôi dại gì lại đi theo cái dấu xe đã úp? Nhưng tôi tin rằng cái lối thơ của ta đã hết chỗ hay rồi, dường như một nơi đế đô mà cái vượng khí đã tiêu trầm rồi, ta phải kiếm nơi khác mà đóng đô. Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi đây sẽ thất bại lần nữa; nhưng tôi tin rằng sau này có người sẽ làm như tôi mà thành công.

PHAN KHÔI

Tập văn mùa Xuân. Báo Đông Tây xuất bản, Hà Nội, Tết Nhâm Thân 1932, tr. 6-7

_________________

Bản B (đăng Phụ nữ Tân văn ngày 10/3/1932)

MỘT LỐI THƠ MỚI TRÌNH CHÁNH GIỮA LÀNG THƠ

Mới đây, tôi có được gặp ông Phạm Quỳnh ở Sài Gòn. Trong khi nói chuyện, ông nhắc đến mấy bài “Trúc chi từ” của tôi đã làm trên sông Hương khi gặp người bạn cũ là ông Nguyễn Bá Trác ở ngoại quốc mới về; ông Phạm tỏ ý khen mấy bài đó và nói chính mình đã dịch nó ra tiếng Pháp. Sau hết, ông khuyên tôi nên giữ cái thái độ ngâm thơ như hồi đó thì hơn.

Lời khuyên của ông Phạm đó, dầu là lời nói dỡn đi nữa, với tôi, tôi cũng phải nhìn là có ý nghĩa. Nhưng sau khi nghe lời ấy, tôi chỉ có thể gật đầu mà làm thinh, không dám vội vàng tỏ ra mình đã vui lòng lãnh giáo. Vì con người ta mà muốn thay đổi cách sanh hoạt về tinh thần, lại còn khó hơn chánh phủ thay đổi cái chế độ giáo dục hay chế độ nấu rượu nữa, không phải việc chơi đâu mà hấp tấp.

Duy có vì nghe lời ông đó mà tôi nhớ sực lại sự làm thơ. Thật, cái động cơ viết bài này là chính ở mấy lời của ông vậy.

Ông Phạm bảo tôi nên lấy lại cái thái độ ngâm thơ hồi trước, trong đó tỏ ra rằng bấy lâu tôi đã bỏ mất hay là đã đổi cái thái độ ấy đi, nghĩa là bấy lâu nay tôi không ngâm thơ. Mà quả thế, gần mười năm nay tôi không có bài thơ nào hết, thơ bằng chữ gì cũng không có.

Trước kia tôi dầu không có tên tuổi trong làng thơ như ông Nguyễn Khắc Hiếu, ông Trần Tuấn Khải, song ít ra trong một năm, tôi cũng có được năm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng Nôm. Mà năm bảy bài của tôi, không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được. Vậy mà gần mười năm nay mót lắm chỉ được một vài bài mà thôi, thì kể cũng như là không có.

Xin thú thật với mấy ông thợ thơ. Không có, không phải tại tôi không muốn làm hay không thèm làm, nhưng tại tôi làm không được!

Vậy thì hiện nay, đừng nói tôi không chịu nhận lời khuyên của ông Phạm, dầu cho tôi nhận đi nữa, mà tôi không còn làm thơ được, thì ông mới xử trí cho tôi làm sao? Đó, chính cái vấn đề ở đó rồi.

Lâu nay, mỗi khi có hứng, tôi toan giở ra ngâm vịnh, thì cái hồn thơ của tôi như nó lúng túng, chẳng khác nào cái thân của tôi là lúng túng. Thơ chữ Hán ư? Thì ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi rồi. Thơ Nôm ư? Thì cụ Tiên Điền, bà huyện Thanh Quan đè ngang ngực tôi, làm cho tôi thở không ra. Cái ý nào mình muốn nói, lại nói ra được nữa, thì đọc đi đọc lại, nghe như họ đã nói rồi. Cái ý nào họ chưa nói, mình muốn nói ra, thì lại bị những niêm, những vận, những luật bó buộc mà nói không được. Té ra mình cứ loanh quanh lẩn quẩn trong lòng bàn tay của họ hoài, thật là dễ tức!

Duy tân đi! Cải lương đi!

(bị bỏ một đoạn dài)

Đại phàm thơ là để tả cảnh, tự tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải quý cho chơn. Lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn hay thất ngôn, tuyệt cú hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Mà dầu có phóng ra theo lối thất cổ, ………………………………….. cũng vẫn còn bị câu thúc. Hễ bị câu thúc thì nó mất cái chơn đi, không mất hết cũng mất già nửa phần.

Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ, là bài nào cũng như bài nấy. Cứ rủ nhau khen hay thì nó là hay, chớ nếu lột tận xương ra mà xem, thì chẳng biết cái hay ở đâu……….

Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới. Vì nó chưa thành thục nên chưa có thể đặt tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết. Ấy là như:

TÌNH GIÀ

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

− “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;

Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”

− “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thuỷ chung?”

……………………………………………………….

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau;

Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!

Ôn chuyên cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi,

Đó là bài thơ tôi làm trước đây vài tháng, mà tôi kêu là một lối thơ mới đó. Chẳng phải là tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm đất mới; mà miếng đất tôi kiếm được đó chẳng biết có ở được không, nên tôi mới đem ra mà trình chánh giữa làng thơ.

Chẳng phải tôi là người thứ nhứt làm ra việc nầy. Hơn mười năm trước ở Hà Nội cũng đã có một vị thanh niên làm việc ấy mà bị thất bại.

Tôi dại gì lại đi theo cái dấu xe đã úp? Nhưng tôi tin rằng cái lối thơ của ta đã hết chỗ hay rồi, dường như một chỗ đế đô mà cái vượng khí đã tiêu trầm rồi, ta phải kiếm nơi khác mà đóng đô. Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi đây sẽ thất bại lần nữa, nhưng tôi tin rằng sau nầy có người làm như tôi mà thành công.

PHAN KHÔI

Phụ nữ Tân văn, Sài Gòn, s. 122 (10/3/1932), tr. 15-16

Nguồn: Bài vừa đăng trên Văn nghệ Trẻ 10/2009


[1] Bài báo để chấm lửng chứ không in kèm bài thơ. Dưới đây là toàn văn bài thơ “Dân quạ đình công” của Phan Khôi đăng trong Phụ trương Văn chương của Đông Pháp Thời báo số 726 (2. 6. 1928):

Mồng bảy tháng Bảy năm Canh Thân,

Chiếu lệ bắc cầu sang sông Ngân.

Hằng hà sa số cu li quạ,

Bay bổng về trời dường trảy quân.

Hai bên bờ sông đậu lóc ngóc,

Con thì kêu đói, con kêu nhọc.

Đường sá xa xuôi việc nặng nề,

Phần lũ con thơ ở nhà khóc.

Bỗng nghe lệnh Trời truyền khởi công,

Nào con đầu cúi, con lưng cong,

Thêm thầy huyện Bẻo đứng coi việc,

Đụng đâu đánh đó như bao bông.

Ngán cho cái kiếp làm dân thiệt !

Làm có, ăn không, chết chó chết !

Cắn cỏ kêu Trời, Trời chẳng nghe,

Một con bay lên đứng diễn thuyết :

“Hỡi đồng bào, nghe tôi nói đây !

Dân quyền thạnh nhứt là đời nay,

Việc mà chẳng phải việc công ích,

Không ai có phép đem dân đày.

Trối kệ Hoàng Ngưu với Chức Nữ,

Qua được thì qua, không thì chớ ;

Quốc dân Ô Thước tội tình gì,

Mà bắt xâu bơi làm khổ sở ?

Anh em ta hè, về quách thôi ! “

Luôn thể kéo nhau vào cửa trời,

Động trống đăng văn ầm đế tọa,

Ngai vàng bệ ngọc rung rinh, rơi.

Có tin dân quạ nổi cách mệnh :

Trời sai thiên lôi ra thám thính,

Đầu đen máu đỏ quyết hi sinh.

Ngừng búa, thiên lôi không dám đánh.

Tức thì chiếu Trời vạch mây ra,

Đánh chữ đại xá Trời ban tha ;

Dân quạ ở đâu về ở đó.

Từ nay khỏi bắc cầu Ngân Hà.

Ờ té ra :

Mềm thì ai cũng nuốt,

Cứng thì Trời cũng nhả !

Hằng hà sa số cu li quạ,

Bay về hạ giới kêu “khá khá”.

(đã in trong: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928, Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, Nxb. Đà Nẵng, 2003, tr. 305-306)

Bình luận

2 Comments (bài “Lại Nguyên Ân – Xác định lại thời điểm công bố lần đầu bài thơ “Tình già””)

  1. Báo “Đông Tây tiểu thuyết” là một tờ khác hẳn. Theo “Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam” của Nguyễn Thành (Nxb. VHTT, H., 2001) thì tờ này dùng khổ 16×24 cm, số 1 ra ngày 1/9/1937, số cuối cùng, s. 251 ra tháng 6/1940, chủ nhiệm Nguyễn Xuân Thái, tòa soạn Nam Ký thư quán, 17 Francie Garnier, Hanoi.

    Cũng ra tại Hanoi còn có tờ “Đông tây báo” của Dương Tụ Quán, số 1 ngày 27/11/1935, bị cấm sau khi ra số 26 ngày25/6/1937, trụ sở 193 Hàng Bông, khổ báo 30×45 cm.

    Tờ “Đông tây” (ban đầu là “Đông tây tuần báo”) của Hoàng Tích Chu ra số 1 ngày 15/12/1929, bị cấm sau số 222 ngày 25/7/1932.

    Đó là 3 tờ cùng mang tên “Đông Tây” ở Hanoi hồi trước 1945. Tôi đã viết tương đối kỹ về số phận tờ “Đông tây” của Hoàng Tích Chu trong lời dẫn sách “Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1932” chưa in; cũng đã viết sơ qua về tờ ấy trong lời dẫn sách “Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931”, có thể xem tại địa chỉ: lainguyenan.free.fr/phankhoi

  2. Phùng Tường Vân viết:

    @Lại Nguyên Ân

    Nhân anh nhắc đến tạp chí Đông Tây của nhà báo kỳ cựu Hoàng Tích Chu, tôi có một câu hỏi đã lâu không biết tìm lời giải đáp ở đâu, nay xin được cầu viện đến anh: Số là vào khoảng những năm đầu của thập kỷ 1940 tôi có được đọc và đọc khá say mê một tạp chí cũng có tên là Đông Tây chuyên đăng nhiều kỳ như một thứ lịch sử tiểu thuyết chiến tranh như Nhật Nga Chiến Kỷ, Trung Nhật Chiến Tranh… còn nhớ láng máng người chủ trương là hai ông Nguyễn Nam Thông và Nguyễn Xuân Thái, vậy xin anh làm ơn mách cho là có sự liên quan nào giữa hai tờ Đông Tây nói ở trên hay không. Xin được cảm ơn anh trước.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...