talawas blog

Chuyên mục:

Tưởng Năng Tiến – Mưa ơi sao khổ thế

18/10/2009 | 1:03 sáng | 7 phản hồi

Tác giả: Tưởng Năng Tiến

Chuyên mục: Kinh tế - Môi trường, Tạp văn
Thẻ: >

“Mưa ngày nay như lệ khóc phần đất quê hương tù đày…”

(Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội)

Khi khổng khi không, sáng nay, tôi hơi bị nhức đầu. Đối với đàn ông, chuyện nhức đầu (nếu không vì những đêm quá chén) xưa nay hiếm. Mà đêm qua, nói có đất trời làm chứng, tôi chỉ uống (sương sương) có mấy chai bia thôi – chớ không nhấp thêm một giọt rượu nào ráo trọi.

Trong khi loay hoay tìm mấy viên Asprin, tôi chợt thấy Chuyện của một nguời di cư nhức đầu vừa phải. Cuốn sách này tôi được ký tặng đã lâu nhưng chưa đọc dòng nào, nửa dòng cũng không luôn.

Lý do: không phải vì tôi ghét chuyện nhức đầu mà chỉ vì tôi không ưa tác giả. Tôi đã long trọng tự hứa là sẽ không bao giờ đọc thêm một câu chữ nào – bất kể là bằng văn vần, văn xuôi, hay văn dịch – của nhà văn (kiêm nhà thơ và dịch giả) Nguyễn Bá Trạc.

Nói như vậy (nghe) dễ gây án mạng nên xin được giải thích đôi lời, dù có hơi lôi thôi và dài dòng chút đỉnh.  Chuyện bắt đầu từ hồi cuối thế kỷ trước – vào mùa hè năm 1984 – khi tôi vừa từ Santa Clara, di chuyển đến thành phố kế cận (có tên là San Jose) thuộc tiểu bang California.

Nơi đây, tôi đã có dịp được quen biết với danh sĩ Nguyễn Bá Trạc. Chúng tôi không “gần” nhau mấy dù cả hai đều đều thất nghiệp, và đều thuộc loại “tứ cố vô thân”.

Bởi rảnh nên hàng ngày Nguyễn quân vẫn đều đặn ghé qua tệ thất của tôi, dù tôi chưa bao giờ tỏ ý mời – kể cả mời lơi. Thêm một điều đáng phàn nàn khác nữa là đây (chả may) lại đúng vào lúc mà ông đang thai nghén một tác phẩm văn thơ tổng hợp: Ngọn cỏ bồng.

Sáng tác (thường) là một việc làm thầm lặng. Với họ Nguyễn thì khác, hoàn toàn khác. Do đó, trước khi cuốn Ngọn cỏ bồng được Nhà xuất bản Người Việt đem in, tôi đã phải nghe tác giả đọc đi đọc lại bản thảo (cỡ) một… tỉ lần! Riêng tiểu truyện “Ông Khó Tính” thì tôi phải nghe đến nhập tâm luôn:

Bạn tôi, ông Khó Tính, lúc còn ở Sài Gòn vốn làm nghề mô phạm. Kể cả trường công lẫn trường tư, sĩ tử theo học kinh nghĩa có đến mấy nghìn. Gặp lúc can qua, học trò thì đông mà chả mấy ai hiển đạt: cứ học nủa chừng lại bị gọi đi lính, ba phần chết tiệt mất hai. Số còn lại trở về chống gậy, đi xe lăn. Thầy trò nhìn nhau nghẹn ngào chửi thề những câu tục tĩu…

Khi cộng sản từ Bắc tiến vào Nam, xe tăng vừa ì ạch đến sát cửa Dinh Ðộc Lập thì ông Khó Tính quyết định dắt vợ cõng con xuống tàu lánh xa bạo ngược. Cuối cùng trôi dạt đến Mỹ. Ðất lạ quê người, tiếng Anh ăn đong, kinh nghĩa nói không ai hiểu…

Từ ngày xa nhà, tính tình lại càng khó chịu hơn. Mặt mày hầm hầm, mồm lúc nào cũng lẩm nhẩm nói chuyện một mình. Chiều chiều đứng chống nạnh bắt con tập võ ta. Ðứa đi quyền, đứa dang chân đứng tấn. Người bản xứ cho là lạ, tò mò rủ nhau nhìn trộm qua hàng rào như đi xem xiếc. Ban đêm bắt con học Việt sử. Ðứa nào không thuộc bài thì co giò mà đá, đến nỗi bị cảnh sát còng cả tay.

Càng cay đắng, càng chửi, càng chê. Chê người gì mà nhiều lông lá, chê nhà chọc trời nhìn thêm mỏi mắt, có ngày động đất nó đổ xuống đầu cho mà khốn. Lại chửi trời nhiều hơn, chửi tục hơn, gọi trời là thằng không kiêng nể gì nữa…

Bạn khen biển, ông chê lạnh, tắm cóc sướng bằng Long Hải, Vũng Tàu. Bạn khen núi, ông bĩu môi: “Tôi lấy làm ngờ về cái thẩm mỹ của anh. Núi trọc thế này so sao được gót chân Ðại Lãnh?”

Bạn ngượng, không còn dám mở mồm khen điều gì. Bụng bảo dạ: “Bọn Ðông Dương ta khối đứa bị bịnh tâm thần.” Có ý thương xót mà lui tới thăm viếng nhiều hơn…

Một hôm nhận được bao trà từ Việt Nam gửi sang, bạn thân ái mời ông Khó Tính đến. Nước đun sủi tăm, trà trút vào bình, chủ khách ân cần đối ẩm. Ðược đôi tuần, bạn lên tiếng hỏi:

“Trà uống được không?”

Ông Khó Tính:

“Cũng được. Nhưng thua Ðỗ Hữu”. Bạn cười giòn:

“Bố ơi! Chính hiệu trà Ðỗ Hữu Bảo Lộc vừa gửi sang.”

Ông Khó Tính:

“Thảo nào. Có điều cái nước máy chát quá!”

Bạn chồm lên:

“Biết tính bố thích trà Bảo Lộc, phải hứng nước mưa pha trà đây. Không phải nước máy đâu.”

Ông Khó Tính tuột giày gãi nách ngáp:

“Nước mưa ở Mỹ, uống vào đắng cả mồm!”

Tôi đã nghe rất nhiều danh gia tán thưởng sự duyên dáng (quá cỡ) của Nguyễn quân khi viết về Ông Khó Tính. Ai cũng thích thú, buột miệng  xuýt xoa khi đọc đến câu nói cuối cùng: “Nước mưa ở Mỹ uống vào đắng cả mồm!”

Tôi thật chết được chứ chả bỡn đâu, Giời ạ! Ai mà ngờ Nguyễn Bá Trạc (nói riêng) và cả đám những danh sĩ Việt Nam ở hải ngoại (nói chung) lại kém hiểu biết về vấn để môi sinh đến thế.

Ông Khó Tính không phải là một nhân vật hư cấu. Ông ấy sống (rành rành) ở thành phố San Jose một thời gian rất dài. Người vốn họ Trần, lấy tên thật làm bút hiệu: Trần Lam Giang.

Trần tiên sinh thích làm thơ, làm văn, làm báo… Đôi lúc, ông cũng làm luôn thợ điện hoặc thợ sơn [dù (hình như) không hào hứng gì cho lắm] nhưng riêng thời gian ở San Jose thì người tuyệt đối không làm gì hết trơn hết trọi. Nói cách khác: thằng chả (cũng) thất nghiệp luôn!

Bởi dư thì giờ nên chúng tôi có rất nhiều dịp hội kiến và mạn đàm về thế sự.  Nhân sinh quan và vũ trụ quan Trần quân ra sao, phận kẻ hậu sinh, tôi (tuyệt nhiên) không dán lạm bàn nhưng nhận xét của ông là “nước mưa ở Mỹ uống vào đắng cả mồm” –  theo thiển ý –  vô cùng chính xác.

Tôi bắt chước cổ nhân, làm bộ ăn nói cầu kỳ cho nó ra vẻ khiêm cung. Chứ  “nước mưa ở Mỹ uống ngang phè” là một sự kiện khách quan, chả có dính dáng (con bà) gì đến “tôn ý” hoặc “thiển ý” của bất cứ ai.

Những hóa chất như sulfur dioxide, nitrogen oxides… từ chất đốt của xăng dầu than củi trong không khí, khi gặp môi trường không khí ẩm thấp sẽ góp phần tạo thành mưa hay tuyết với nồng độ acid cao – có thể làm ô nhiễm nước uống, hư hại nhà cửa, mùa màng và ảnh hưởng đến sinh hoạt của của nhiều sinh vật – là một tiến trình tự nhiên.

Khói xe, khói nhà máy phun tùm lum ở Mỹ vẫn được coi là nguyên nhân chính tạo ra nồng độ acid cao trong nước mưa. Uống vào đắng cả mồm là phải.

Trần tiên sinh phán như thế thì có trật chỗ nào đâu mà quí vị che miệng (chúm chím) cười. Ðã thế, còn xa gần ám chỉ rằng tâm thần của ông ấy “hơi” bất ổn.

Ðã lâu, tôi không có dịp gặp lại ông Khó Tính – dù thỉnh thoảng vẫn nghĩ đến cố nhân với đôi chút quan hoài và (rất nhiều) ái ngại. Chúng tôi đều đã qua hơn nửa đời tha phương cầu thực, tóc đã điểm sương (từ lâu rồi) mà đường về vẫn chưa có lối.

Hà thời kết ốc vân phong hạ
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên

Mà nghe nói thì bây giờ nước suối, hay nước mưa (nơi cố lý) nếu đem pha trà uống xong dám… tắt thở như không –  theo như tường trình của ông Dương Hồng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường (“Mưa độc có thể tàn phá hệ hô hấp của con người”) đọc được trên VnMedia, vào hôm 23 tháng 12 năm 2008:

“Ở Việt Nam, lượng mưa axit đã chiếm 30%, có nơi tới 50% số lần mưa… gây tác hại không nhỏ đối với con người, cơ sở hạ tầng, sản xuất… Những báo cáo của mạng lưới quan trắc quốc gia cho thấy, mưa axit từ nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên…”

Ủa, “nước ngoài” là nước nào vậy cà?  Lào Quốc, Miên Quốc hay Trung Quốc?

Người Lào, dù đã vượt quá độ từ tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa từ lâu – nghe đâu – vẫn còn đi xe bò lòng vòng trong thành phố, và (vẫn) cưỡi voi dạo chơi tà tà ở trong rừng.

Còn người Miên, cách đây chưa lâu, họ vẫn còn có thể (nhân danh chủ nghĩa cộng sản) giết hàng triệu mạng bằng cuốc chim hay chầy vồ gì đó mà khỏi cần tới lò ga hay súng đạn gì ráo. Ðời sống của nhân dân ở hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng, ngoại trừ những lúc nướng khoai, đâu mấy khi có ai đụng chạm gì tới máy móc – sao khói dữ vậy được?

Vậy thì khói thải ở đâu ra? Phải có lửa ở chỗ nào đó mới được chớ, đúng không?  Không có lửa sao có khói? Lò dò một chập, tui tìm được xuất xứ của khói lạ (nguyên nhân gây ra “mưa axit từ nước ngoài vào nước ta”) qua một bài viết ngắn, bằng Anh Ngữ: “Transboundary sulfur pollution & Vietnam.”

Tác giả, một chuyên gia về khí quyển hiện sinh sống tại nước Úc, bày tỏ sự quan ngại rằng ở Ðông Nam Á có những quốc gia chỉ tạo ra những lượng lưu huỳnh rất nhỏ nhưng lại phải chịu nhận sự tích tụ của loại hóa chất này (rất lớn) từ những lân bang. Việt Nam và Nepal là hai “nạn nhân” điển hình, trong vùng, về tệ trạng này.

Tài liệu mà tiến sĩ Nguyễn Đức Hiệp trích dẫn (R. Arndt, G. Carmichael, J. Roorda – Seasonal source-receptor relationships in Asia, Journal of Atmospheric Environment, Vol. 32, No. 8, 1988, pp. 1937-1406) được phổ biến từ năm 1988. Hơn hai mươi năm sau, ông Dương Hồng Sơn – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường thuộc Viện Khoa học Khí tượng – mới từ tốn cho công luận biết là  “hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đáng giá tổng thể ảnh hưởng của mưa axit,” và chỉ nói xa gần rằng “mưa axit từ nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên…” nhưng nhất định không chịu cho biết đích xác nước nào là thủ phạm.

Theo như cách nói “đương đại” thì sự gia tăng mức độ và nồng độ mưa axit ở Việt Nam là do… khói lạ, từ nước lạ bay tới – thế thôi. Nếu ai cảm thấy bức xúc và muốn làm rõ vấn đề thì cứ tự nhiên (và tự phát) thiết kế “Trang Sulfuric Việt Nam” – làm y như nhóm chủ trương “Trang nhà Bauxit VN” vậy.

Ông Dương Hồng Sơn không phải là người duy nhất có thái độ dè dặt, tế nhị, và kín đáo như thế. Thời phải thế, thế thời phải thế!

Trong buổi hội thảo An ninh môi trường và trách nhiệm của ngành Công antổ chức lần đầu tại Hà Nội vào ngày 2 tháng 6 năm 2009 – người ta thấy có sự  tham dự của Trung tướng Đặng Văn Hiếu (Thứ trưởng Bộ Công an), Thiếu tướng TS. Nghiêm Xuân Dũng (Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Kỹ thuật) và  đông đảo các cán bộ quản lý đầu ngành tại Bộ Tài nguyên Môi trường, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam và các đơn vị nghiệp vụ trong lực lượng CAND…

Qua ngày hôm sau, 3 tháng 6 năm 2009, báo Điện tử của ĐCSVN tường thuật rằng: “Các tham luận đều nhất trí quan điểm, an ninh môi trường và an ninh quốc gia có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ. Mất an ninh môi trường có thể trở thành nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia.” Cả lũ đều gật gù hay phát biểu như một đàn vẹt thế thôi. An ninh môi trường mất (mẹ nó) lâu rồi, chứ còn “có thể trở thành nguy cơ” gì nữa, mấy cha?

Chuyện 60 phần trăm số lượng khí thải sulfur từ Trung Hoa – nước có lượng khí thải vào hàng thứ hai thế giới – vẫn theo “gió lạ” vào Việt Nam, gây ra những trận “mưa độc” với nồng độ axit mỗi lúc một cao  cũng được mọi người (nhất trí) bỏ qua luôn. Họ không biết, không dám, hay không hề bậm tâm về sự kiện này? Chắc cả ba.

Cho đến thời điểm hiện tại, mưa acid ở Việt Nam (có lẽ) không có ảnh hưởng gì tức thời đến sức khỏe của những ai có khả năng tài chính mua dùng những nước tinh khiết đóng chai.

Còn những người dân nghèo khổ ở thôn quê, những kẻ đang sống ở “những làng ung thư” thì sao?  Câu trả lời có thể tìm thấy trong thư ngỏ của Sơ Trịnh Thị Hồng, đọc được trên web của Hội Bác Ái Phanxicô – Franciscan Charity:

Nước trong cuộc sống là một điều không thể thiếu, và nước sạch lại càng cần thiết trong sinh hoạt hằng ngày giúp con người sống vui sống khỏe. Xin… Quý Ân Nhân Hải Ngoại quan tâm giúp đỡ để người nghèo có được những nhu cầu tối thiểu của con người: GIÚP GIẾNG NƯỚC, $140 USD/ 1 giếng.”

Tôi viết những dòng chữ này khi California đang bước (khẽ) vào Thu. Sáng trời đã bắt đầu se se lạnh, và lất phất mấy hạt mưa bay. Mưa không đủ làm ướt đất, và chắc cũng không làm nhạt được chén nước mắm của những o bán bánh bèo (ghánh) ở quê nhà.

Quê hương tôi ở vùng nhiệt đới, nơi đây mỗi năm chỉ có hai mùa: mưa và nắng. Vũ độ hàng năm tính hào phóng theo đơn vị mét (mètre), nghĩa là cả trăm “inches”. Cũng chính đây là nơi xuất xứ của câu thành ngữ “hiền như một ngụm nước mưa.” Vậy mà, sau hơn nửa thế kỷ đói ăn, đồng bào tôi –  đã đến lúc – phải ngửa tay đi xin luôn… nước uống. Mưa ơi, sao khổ thế!

Tưởng Năng Tiến

Phản hồi

7 phản hồi (bài “Tưởng Năng Tiến – Mưa ơi sao khổ thế”)

  1. noileo says:

    càng nghĩ càng đau cho thân phận một dân tộc sống ở cuối ngọn (gió)dưới nguồn (nước) của một anh láng giềng cực kỳ hiểm ác, (PTV) bị cai trị bởi một nhà cầm quyền chỉ biết quỳ gối truớc anh láng giềng cực kỳ hiểm ác để được anh láng giềng cực kỳ hiểm ác bảo kê cho ngôi vị đầu nậu trấn lột dân nghèo & đàn áp trí thức & ăn cắp quốc khố & mãi quốc cầu vinh!

  2. Bác Tưởng ơi. Em chưa tắm mưa ở Mỹ bao giờ nên không được nếm mùi nước mưa của xứ này xem ngọt đắng thế nào.

    Ngày xưa ở quê nhà, cũng có đến nửa thế kỉ trước, khi trời mưa em hay mặc quần xà lỏn chạy ra đường tắm cùng mấy đứa bạn, đứng dưới máng xối vừa gội đầu vừa uống nước mưa ừng ực mà sao thấy đã quá trời. Nhà em tuy lúc đó đã có nước máy, nhưng mẹ vẫn hứng nước mưa đựng vào mấy cái chum để dành nấu nước chè. Mẹ nói chè xanh nấu bằng nước mưa thì ngon thơm hơn nước máy. Ông Khó Tính không chừng cũng là anh em họ hàng gì với mẹ em.

    Bài viết của bác tuyệt quá, nhưng buồn. Vì không lẽ các em, những con cháu của mình giờ đây lại phải uống nước dơ, còn nước sạch ở Việt Nam ngày nay thiếu đến vậy sao? Em cứ tưởng quê nhà giờ cần mấy thứ như rau sạch, nhà sạch, đường phố sạch, còn đóng giếng để có nước sạch chỉ ở những nước bên châu Phi mới cần thôi chứ.

    Có lẽ nước ta giờ đây cần nhiều người sạch, đầu óc sạch, nhà nước sạch thì các thứ khác cũng sẽ trở nên sạch sẽ thôi.

  3. Phùng Tường Vân says:

    Mưa đưa ‘bệnh tật’ về làng!

    Nguồn nước sạch ở thành thị cũng như ở nông thôn trên đất nước ta, nhất là ở miền Bắc ngày càng ít ỏi đi, khan hiếm đi. Ngay như ở thành phố Sơn La, nước trong nguồn chảy ra rất mạnh nhưng nồng nặc mùi đá vôi không sao sử dụng cho nhu cầu ăn uống được, ngay cả dùng cho việc tắm giặt cũng phải dè dặt, cho nên nhà nhà, người người…đều trông mong vào nguồn nước mưa, hộ to hộ nhỏ thi nhau khai triển xây cất bể chứa nước mưa, có nhà tự hào có đủ trữ lượng nước mưa dùng cho cả năm, tình trạng của cả nước đều là như vậy cả nhưng hỡi ơi với cái hồi “chuông gọi hồn ai” cho nước mưa như tác giả vừa dóng dả thì không biết tương lai sẽ ra sao đây nhỉ, câu thơ “mưa đưa thương nhớ về làng” của những ngày xửa ngày xưa quen thuộc mà nay có mạo muội “chế” nó ra “Mưa đưa bệnh tật về làng” thiết nghĩ đâu có gì là quá lời và càng nghĩ càng đau cho thân phận một dân tộc sống ở cuối ngọn (gió)dưới nguồn (nước) của một anh láng giềng cực kỳ hiểm ác!

  4. hoanglinhvuong says:

    Đại loại là như thế này các anh chị ạ:

    “MƯỜI SÁU CHỮ VÀNG”

    “Láng giềng thân hữu”… chú ba tầu

    “Hợp tác toàn diện” … dạ chú đâu?

    “Ổn định lâu dài” … húp cháo trắng

    “Hướng tới tương lai” … mặt xỉ thầu.

    Hoàng Linh Vương

  5. Lê Quốc Trinh says:

    MƯA A-XÍT HIỂM VÀ ĐỘC

    Bác Tưởng Năng Tiến đã cảnh báo một vấn đề hệ trọng cho đất nước và nhân dân Việt Nam: Mưa A-Xít (acide).

    Trên cương vị một người làm khoa học kỹ thuật ở Canada, tôi xin phép được đóng góp thêm với bác TN Tiến vài dòng.

    Trong thập niên 70-80 báo chí truyền thông và giới trí thức khoa học Canada đã từng công khai mạnh bạo phản đối Hoa Kỳ nhiều lần vì thiệt hai trầm trọng do những cơn mưa a xít phá hoại cây rừng, mùa màng Canada. Nguyên nhân chính là những nhà máy nhiệt điện, hay nhà máy luyện kim, sử dụng hàng triệu tấn than đá để đốt lò hàng năm. Than đá có chứa lưu huỳnh (souffre), khi cháy không trọn vẹn khí sulfurơ theo khói bay vào không khí hoà lẫn với mây (hơi nước) khi rơi xuống thành mưa thì nồng độ acide này rất cao đi vào đất, làm thay đổi mực độ pH, gậm mòn rễ cây, làm úng lá cây, giết hại dần mòn cả triệu hecta rừng, chưa nói đến mầm mống ưng thư, hay lở loét bao tử.

    Chúng ta không lạ gì khi Việt Nam là nước sản xuất than đá bán rẻ cho TQ, trong đó than lậu cũng chiếm tỷ lệ không thấp. TQ mua than VN về chạy nhà máy và những đám mây chứa acide bay trở lại VN phá họai rừng cây và mùa màng VN. Dĩ nhiên chỉ ít người hoạt động khoa học mới thấm thía đau xót trước những tai hại, nguy cơ tàng ẩn này, chắc gì những cán bộ Nhà Nước ngu dốt hiểu nổi.

    Ngày nay, TQ gần như hiểu vấn đề, khai thác hầm mỏ than đá đã giết đi hơn 40 ngàn nhân công vì những vụ nổ lò thường xuyên, và ảnh hu8ởng môi trường do mưa acide gây ra. Do đó họ đã dụ dỗ chính quyền Hà Nội khai thác bể than sông Hồng (240 tỷ tấn), thiệt hại môi trường nhân dân VN lãnh đủ, chính quyền thì chỉ biết thò tay lấy tiền đút túi. Thêm một bài học kiểu bauxite Tây Nguyên !

    Chào thân ái

  6. Bắc Phong says:

    hại hơn át-xít trong mưa
    át-xít tư tưởng ngăn ngừa làm sao
    làm sao chặn cộng sản Mao
    chủ nghĩa bành trướng ngấm vào Việt Nam

  7. phivu56 says:

    Hoàn toàn đồng ý với “nhân sinh quan, vũ trụ quan và suy nghĩ quan” của anh Tưởng Năng Tiến. (Tôi không dám dùng từ “tư duy quan” sợ anh la là ăn phải “bã” của Cộng Sản). Thấm thía, cay đắng và đau lòng vô cùng khi đọc bài viết của anh.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả