talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Văn – Bức tường

30/10/2009 | 7:16 sáng | 1 phản hồi

Tác giả: Phạm Văn

Chuyên mục: Lịch sử, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

Bức tường

Bộ phim tài liệu Mur của đạo diễn Simone Bitton mở đầu bằng những hình vẽ thanh bình với màu sắc tươi sáng trên nhiều mảng tường cao ghép lại dọc theo đường lái xe. Lời đối thoại bằng tiếng Do Thái giữa Bitton và bọn trẻ con bên này bức tường. Khán giả chỉ nghe tiếng, không thấy người.

Bitton: Cái gì đây?

Trẻ con: Bức tường!

Bitton: Để làm gì vậy?

Trẻ con: Họ bắn người Ả Rập từ chỗ này.

Trẻ con: Không, người Ả Rập bắn mình.

Trẻ con: Vì vậy mình nấp phía sau bức tường.

Bitton: Ai bắn ai?

Pham Van 1Rồi màn ảnh chuyển qua cảnh những mảng tường bê tông xám đang được cần trục chậm chạp dựng lên sát bên nhau, che dần ngọn tháp đền thờ Hồi giáo và làng mạc của người Palestine đằng xa. Đoạn phim chậm kéo dài nhiều phút, không một lời nói, ngoại trừ tiếng nổ giòn của máy móc và tiếng lách cách của cần trục. Rồi trên màn ảnh không còn gì khác, ngoài bức tường vô tri giác lấp đầy. Cả cuốn phim chỉ nói lên một điều ấy.

Con người là một sinh vật lạ kỳ có thể lãng phí sức của bọn dân cùng khổ để xây dựng lăng tẩm, cung điện, thánh đường vĩ đại, phù du cho ngàn đời sau ca tụng. Con người cũng đã dựng nên nhiều bức tường để chia cách nhau trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Vạn lý trường thành được xây lên bằng cái chết của hàng triệu người Trung Hoa để ngăn các sắc dân Hung Nô, Xích Mi, Mông Cổ, Nữ Chân… từ phía bắc và phía tây tràn vào xâm lấn. Bức tường vạn dặm này, cho đến nay vẫn là bức tường vĩ đại nhất của nhân loại, bắt đầu xây từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, và được các triều đại sau nối tiếp trong hàng ngàn năm, trải dài từ Sơn Hải Quan ở bờ biển phía đông đến Gia Dục Quan thuộc tỉnh Cam Túc ở phía tây. Vào đầu thập niên 120 sau Công nguyên, đế quốc La Mã xây Bức tường Hadrian, gọi theo tên của vị hoàng đế dựng lên nó, ở Anh quốc ngày nay, giữa Tyne và Solway Firth. Tường thành dài 120 km, bằng gạch, hai bên có hào nước rộng và sâu. Mục đích của Bức tường Hadrian là ngăn cách dân La Mã với bọn dã man, bọn “barbarian” nói thứ tiếng ba xí ba tú mà người La Mã không hiểu được. Trong lịch sử cận đại, Đức Quốc Xã đã dựng lên những bức tường vây quanh khu tập trung người Do Thái để giam giữ họ trước khi chở họ đến các lò sát sinh trên khắp Âu châu. Rồi thế chiến thứ hai chấm dứt, chiến tranh lạnh bắt đầu. Năm 1961, Bức tường Bá Linh mọc lên như phép lạ qua đêm để ngăn cách những người Đức cùng tổ tiên (có thời gọi một cách đa cảm hơn: Bức tường ô nhục). Bức tường bằng bê tông cốt sắt, cộng với dây kẽm gai, bãi mìn, chó dữ, với các tháp canh sẵn sàng nhả đạn. Bức tường chia đôi thành phố Bá Linh dài khoảng 43 km, nếu không kể đến những đoạn khác bao vây khu vực của Anh-Pháp-Mỹ.

Vạn lý trường thành không ngăn nổi rợ Hồ tràn qua đất nước tự xưng là trung tâm của thế giới. Bức tường Hadrian không đạt được kết quả về quân sự và văn hoá như mong muốn. Những bức tường nhốt người Do Thái không diệt được sức sống của sắc dân từng chịu nhiều gian khó từ thời Cựu ước, và sau thế chiến thứ hai, họ từ khắp nơi trên thế giới lũ lượt trở về Jerusalem để cầu nguyện bên Bức tường Than khóc và lập nên quốc gia của mình. Bức tường Bá Linh rồi cũng sụp đổ do chính người hai bên bức tường cùng nhau phá vỡ. Rồi đến những năm cuối cùng của thế kỷ 20, những hàng rào khác lại rủ nhau mọc lên, như những đoạn tường biên giới xấu xí ngăn cách Mỹ với Mễ, và bức tường mà đạo diễn Simone Bitton ghi lại trong bộ phim Mur của bà.

Pham Van 2

Vùng Trung Đông là một trong những nơi bất ổn rõ nét nhất của thời hiện đại, và dường như cũng là nguồn gốc của nhiều bất ổn khác trên khắp thế giới. Bức tường Palestine, theo như tên thường gọi vì xây trên đất Palestine, là một trong nhiều biểu tượng của sự bất ổn đó. Dựng lên để ngăn chặn người Palestine đi qua vùng có dân Do Thái sinh sống, bức tường này phức tạp hơn, có lẽ vì con người ngày nay văn minh hơn và có kỹ thuật tân tiến hơn. Phần lớn bức tường làm bằng nhiều lớp dây kẽm gai trên bãi đất rộng trơ trụi ở những vùng thưa thớt dân cư. Một số đoạn làm bằng từng miếng bê tông cốt sắt, cao 8 mét, ráp lại, trải dài giữa thành phố hoặc những nơi đông người sinh sống. Trạm gác, lô cốt, lính tuần tiễu hiện diện thường xuyên dọc bức tường, cộng với những máy móc điện tử tối tân để phát hiện mỗi khi có sự di chuyển gần đó. Bức tường Palestine chưa xong sứ mạng của nó, và chưa ai tiên đoán được cuộc đời của nó sẽ như thế nào, dù đã có biết bao nhiêu bài học của lịch sử.

Mur với những khuôn ảnh đông cứng, máy quay phim đứng bất động tại chỗ để ghi lại những hoạt động chậm chạp tại điểm quay, những vẻ đẹp đang bị tàn phá trong vùng đất đã là cái nôi của nhân loại, những trái ôliu chín thối rữa không người hái, những sỏi đá ngổn ngang và những mắt kẽm gai lấp lánh. Trong điện ảnh, có lẽ ít khi âm thanh giữ vai trò quan trọng bằng hình ảnh, Mur là một trong những hiếm hoi đó. Với sự tự chế đáng kể, Bitton hiện diện trong bộ phim chỉ qua giọng nói của bà, bằng tiếng Do Thái và Ả Rập, tiếng Pháp và Anh, làm nền phía sau ống kính, ở bên này và bên kia bức tường. Bức tường Palestine dưới cái nhìn của Bitton cắt ngang cảnh quan, như vết sẹo ngoằn ngoèo, cô lập một nhóm dân bên này, giam cầm một nhóm dân khác bên kia. Bức tường 500 km, với giá trung bình 2 triệu đô la mỗi cây số, nhằm che chở cho một quốc gia rộng 22.000 km² (hoặc 20.770 km² trước Trận chiến 6 ngày năm 1967, hoặc 28.000 km² nếu kể vùng West Bank hiện do quân đội Do Thái kiểm soát), với mục đích bẻ gãy ý chí chống chọi của người bị chiếm đất bằng cách gián tiếp phá hủy môi trường sống của họ. Và cũng vì thế bức tường hủy diệt tình láng giềng, gây uất ức và tuyệt vọng cho những người bên kia, và gieo sợ hãi và bất an cho những người bên này bức tường mà nó muốn bảo vệ.

Pham Van 3Có lẽ Bitton không muốn thiên vị hay có hàm ý phê phán chính trị nào trong cuốn phim tài liệu của bà, nhưng người xem khó có thể tìm thấy một kết luận nào khác: Bức tường Palestine là mối ô nhục của thời hiện đại. Cuốn phim không có lời thuyết minh hay giải thích, ngoại trừ những cuộc phỏng vấn đứt quãng của Bitton với những người có cuộc sống bị bức tường ảnh hưởng đến. Đó là cuộc sống hàng ngày của những người Palestine quanh bức tường, của dân định cư Do Thái, và của đủ mọi sắc dân đang là công nhân xây bức tường để giam cầm chính họ.

Một người dân định cư Do Thái nói: Bức tường này chỉ phí tiền, vì nếu nó làm được mục đích đó thì chúng tôi đã xây nó từ 50 năm trước. Đứa bé Do Thái nói: Đừng quay phim cháu. Người đàn ông bên kia bức tường nói: Đừng quay phim tôi. Viên tướng hồi hưu Amos Yaron, tổng giám đốc thuộc Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm xây bức tường nói: Chúng tôi xem đất đai cả hai bên bức tường là của chúng tôi. Bản tiếng Anh phiên dịch chữ ông tướng dùng là “wall”, “barrier” và “seam zone” để chỉ công trình đáng sợ do ông làm. Bức tường, hàng rào, vùng đệm? Tìm một tên gọi chính xác cho một sự việc cụ thể vẫn là một trong những điều khó nhất của con người. Có lẽ tiếng nói mang tính phê phán nhất trong bộ phim là của Shuli Dichter, một cư dân Do Thái sống trong kibbutz từ nhiều đời, ông bực tức về thái độ tự giam cầm của chính dân tộc ông: Chúng tôi yêu mảnh đất này, chúng tôi yêu nó đến nỗi chúng tôi muốn bóp nó nghẹt thở, hàng rào này làm hại khả năng hoà nhập của chúng tôi với khu vực.

Những bức tường làm bằng gạch, đất, đá, gỗ, sắt thép, bê tông, dụng cụ điện tử… đã có rất nhiều trong lịch sử nhân loại, nhưng bức tường ngăn cách kiên cố nhất chỉ có thể là bức tường vô hình, tự dựng lên giữa lòng mỗi người. Tuy nhiên, ống kính của Bitton cho thấy vẻ bằn bặt của một cô gái Hồi giáo lặng lẽ trèo qua bức tường, nét nhẫn nhịn của một gia đình Palestine đỡ nhau qua hàng rào kẽm gai, sự cam chịu của một phụ nữ Hồi giáo đứng nhìn qua khe hở của bức tường như chờ người thân đang ở bên kia, nụ cười như mếu của người thợ xây dựng già, vẻ xót xa của một phụ nữ Do Thái nhìn nhóm người Palestine đi bộ nhiều giờ đến chỗ có thể vượt qua bức tường để tìm việc làm. Họ cùng với những người như Dichter có lẽ là niềm hy vọng duy nhất của vùng đất ấy.

Pham Van 4Mur, 97 phút, 2004.

Đạo diễn: Simone Bitton.

Sản xuất: Thierry Lenouvel.

Quay phim: Jacques Bouquin.

Âm thanh: Jean-Claude Brisson.

© 2009 Phạm Văn

© 2009 talawas blog

Phản hồi

1 phản hồi (bài “Phạm Văn – Bức tường”)

  1. Trần Đắc nói:

    BỨC TƯỜNG KHÔNG CÓ LỖI
    Qua sự kiện Bát Nhã, chắc nhiều quý vị biết về chương trình “hiểu và thương”, là phép thực tập theo pháp môn Làng Mai, đang được lan rộng ở nhiều nơi. Muốn thương thì trước hết phải hiểu, hiểu kỹ, hiểu sâu. Người ra thù nhau chỉ vì không chịu lắng nghe, hoặc không có điều kiện lắng nghe nên không thể hiểu nhau, từ đó nghĩ sai về nhau và dẫn đến thù hận. Nhưng muốn lắng nghe để hiểu thì cái tâm phải tĩnh, nhưng muốn cái tâm tĩnh phải có những không gian tĩnh, mà một trong những cái có lúc làm cho không gian tĩnh chính là … bức tường.
    Trong quan hệ xã hội cũng vậy, chẳng hạn mâu thuẫn vợ chồng có quá nhiều căng thẳng, có nhiều lần xung đột, thì giải pháp “bức tường” – tức ly thân, lúc này là một giải pháp cần thiết. Bức tường sẽ tạo ra cho mỗi bên một không gian riêng, lúc đó từng bên mới dần dần tĩnh tâm để xem xét vấn đề bất đồng. Khi giải quyết vấn đề, cần phải thực tâm lắng nghe để hiểu, chia sẻ để cảm thông lẫn nhau. Khi đã nghe, đã hiểu, đã cảm thông thì chắc chắn sẽ thương, và khi thương thì bức tường lúc đó mới trở thành vô nghĩa, hay lúc đó mới là bức tường ô nhục.
    Vì vậy, đừng vội lên án bức tường, nó rất cần trong những thời điểm lịch sử cụ thể. Bức tường chỉ là giải pháp tình thế chứ không phải giải pháp lâu dài. Lâu dài phải là nghe để hiểu, hiểu để thương, thương rồi … dỡ tường. Tuy nhiên giải pháp „bức tường“ là giải pháp quá tốn kém, không nên phát huy và tốt nhất là không nên xảy ra. Nếu chịu khó lắng nghe để „hiểu và thương“ thì không bao giờ cần đến giải pháp này.
    Bức tường không có lỗi, cái lỗi là ở những người hai phía dựng lên, đã thế khi có bức tường rồi mà vẫn không chịu lắng nghe để hiểu nhau, để rồi cùng làm khổ nhau và cuối cùng trút hết cơn giận lên bức tường.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả