talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Đôi điều với Liên Thành về “Biến động miền Trung”

03/11/2009 | 10:00 sáng | 31 phản hồi

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Chuyên mục: Chiến tranh Việt Nam, Tôn giáo
Thẻ: > >

Sau hơn 30 năm ra nước ngoài im hơi lặng tiếng, gần đây ông Liên Thành, cựu thiếu tá trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế, viết hồi ký nói lên những gì ông biết về tình hình chiến tranh, chính trị và xã hội tại miền Trung Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1963 đến 1975.

Được tin Liên Thành sẽ ra mắt sách tại Sacramento, thành phố thủ phủ tiểu bang California vào đầu tháng 11 năm 2009. Đang là một cư dân tại thành phố này, tôi xin gởi lời chào Liên Thành, một đồng hương xứ Huế và cũng người đồng trang lứa với tôi. Trước cùng lớn lên và đã sống hơn nửa đời trong khung trời Huế và nay trong cảnh “tha hương ngộ cố tri!”

Tập sách Biến động miền Trung (viết tắt BĐMT) và những bài viết của Liên Thành về một số nhân vật thành danh xứ Huế đã tạo nhiều dư luận xôn xao trong cộng đồng người Việt hải ngoại.  Xôn xao, bởi vì về mặt tâm lý, khát vọng lý giải hậu quả bi thảm của cuộc chiến Việt Nam đã trở thành một nỗi ám ảnh thường trực và chung thân đối với tập thể người Việt tỵ nạn ở nước ngoài. Sự phân định, xác quyết, chỉ danh điểm mặt hai tuyến nhân vật thiện–ác, chánh–tà trong cuộc tương tranh ba mươi năm đầy máu lệ là một nhu cầu tình cảm, tâm lý và tri thức của cả một thế hệ đang lần bước đến tuổi già, đang từng tháng, từng ngày thay phiên nhau về đất.

Trong một tiến trình truy tìm bằng chứng, phân tích, lý giải để tìm câu trả lời cho một vấn đề, nếu chỉ đứng về mặt phương pháp luận thì Đông–Tây rất khác nhau. Người phương Tây thiên về lý, phương Đông ta thiên về tình; phương Tây thường lý luận và chứng minh bằng dữ kiện khách quan độc lập, phương Đông ta thường suy diễn bằng cảm nhận và kinh nghiệm chủ quan tập thể. Xác định điều này để nói lên sự dè dặt và cẩn trọng cần thiết về tính khả tín – mức độ đáng tin cậy – khi đọc và tìm hiểu một bản tin thời sự hay một tác phẩm liên quan đến tình hình thời cuộc như Liên Thành và BĐMT.

Qua những điều Liên Thành đã viết và đã nói trên đài phát thanh, trong các buổi hội luận thì chi tiết này kia có chỗ khác nhau, nhưng nội dung và chủ đích chỉ có 3 điều nổi rõ hơn cả:

Thứ nhất, Liên Thành đã cố gắng tạo ra một bối cảnh xuất thân đầy sôi động về vai trò và quyền lực cá nhân trong vị thế trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế quá nhỏ bé và giới hạn của bản thân mình trong bối cảnh chung của toàn đất nước bằng một thế giới thiên hình vạn trạng của lĩnh vực “tình báo”. Đó là một thế giới của mê hồn trận mà trong lịch sử chiến tranh và chính trị kim cổ, cho đến nay, con người vẫn còn hoang mang trong vấn nạn nhiều hơn là giải đáp vì nó dày đặc huyền thoại nhiều hơn là dữ kiện.

Thứ hai, Liên Thành đã cố ý cột buộc và đồng hóa phong trào đấu tranh Phật giáo 1963 và các hoạt động của Phật giáo trở về sau đều là cộng sản. Theo ông, các nhà sư Phật giáo trong hàng giáo phẩm lãnh đạo phong trào là đảng viên cộng sản. Từ đó, ông suy luận và diễn giải rằng, các sinh hoạt Phật giáo có liên quan gián tiếp hay trực tiếp với một tình hình xã hội miền Nam thời chiến đầy biến động là do cộng sản Việt Nam (CSVN) điều khiển, giật dây. Tự phong cho mình vai trò phán quan của một kiểu tòa án mặt trận thời chiến pha trộn với hình thức ngôn ngữ của các cuộc đấu tố, Liên Thành cho mình quyền tự do mạ lỵ không tiếc lời các đối tượng mà ông đã “phán” là cộng sản.

Thứ ba, Liên Thành đã tự mình, cùng lúc, đứng ra làm thủ lãnh, chứng nhân, nạn nhân, quần chúng… của một thế giới ma để ông tha hồ gắn lên môi, lên mép, lên nhân dáng tưởng tượng của những người đã nằm im trong lòng đất những lời nói, ý tưởng, động thái, chứng tích không thể kiểm chứng và không còn ai đối chất. Từ đó, ông đã đơn giản yên trí rằng, ông đã “đả thông tư tưởng”, thuyết phục được độc giả và người nghe đứng về phía ông để cho đấy là “sử liệu sống” của thời nay.

Tìm hiểu phản ứng của một số người giới hạn có dùng internet và đọc sách báo tiếng Việt thuộc mọi thành phần xã hội, tôn giáo, có biết đến Liên Thành và BĐMT thì được biết thái độ của họ đã thể hiện trong nhiều cách thế khác nhau:

  • Những người tin những điều ông nói là đúng sự thật và lên tiếng thì đứng khắp mọi phía bên này, bên kia; đằng này, đằng nọ, nên kết luận phía này lắm lúc trở thành câu hỏi của phía khác.
  • Những người cho Liên Thành là dối trá thì phản ứng lạnh nhạt. Họ cho rằng đây chẳng qua là một cuộc đánh trống khua chiêng của Liên Thành tự quảng cáo mình một cách dễ dãi phù hợp với bản chất cố hữu của ông từ trước tới nay với sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhóm “Phù Ngô phục hận” đầy bản lĩnh đang đứng ở hậu trường (?!)
  • Những người có quan tâm mà im lặng thường không phải là họ không biết, nhưng chỉ vì vấn đề và hoàn cảnh chẳng đáng quan tâm nên không đáng nói mà thôi.

Trong giới hạn của một bài viết ngắn dưới hình thức “đôi điều góp ý”, thay cho lời chào hỏi xã giao khách phương xa đến viếng vùng mình, người viết không có tham vọng và có lý do đứng ở một vị trí nào đó để làm công việc biện minh không cần thiết và phán xét chưa đủ căn cứ cho các nhân vật và hoàn cảnh đã được nêu lên trong BĐMT. Những nhân vật lịch sử và những ván bài thời cuộc xin trả về cho lịch sử sẽ phán xét công bằng và chung quyết. Đây chỉ là đôi lời dấy lên như một phản ứng “qua đường thấy việc bất bằng chẳng tha” mà thôi. Xin đi vào nội dung:

Điệp báo và nói láo

Đó là nhan đề cuốn sách Of Spies and Lies của John F. Sullivan viết về mặt trận tình báo trong chiến tranh Việt Nam. Nội dung cuốn sách đã trực tiếp hay gián tiếp nhắc đến nhiều trường hợp các nhân sự Việt Nam trong giới thường dân, công chức, cảnh sát, quân đội… làm cộng tác viên, điểm chỉ viên với các đơn vị tình báo của Mỹ đã bị các đơn vị đặc nhiệm phản tình báo của CSVN đánh tráo tin tức. Sự đánh lừa trong nhiều trường hợp đã tạo ra những nguồn tin sai lạc nhằm gây mâu thuẫn, phân hóa, chia rẽ, hạ bệ và bôi đen phẩm cách của những nhân vật “bị” nổi tiếng mà xét ra không có lợi cho ý đồ lâu dài trong sách lược chiếm trọn miền Nam của họ. Giới tình báo hành chánh bị lừa ngồi trong công sở và bàn giấy chỉ việc rung đùi nghe báo cáo từ các cộng tác viên, yên trí lớn là đã “nắm vững tin tức tình báo” để phản ứng. Thái độ chấp nhận vấn đề – dối trá hóa thật – mà cứ mang ảo tưởng là nắm vững và giải quyết được vấn đề đã góp phần tạo nên những tai họa cho địa phương và cả miền Nam sau này.

Đọc phần nói về vai trò tình báo bao quát trong mọi lĩnh vực, thấu suốt mọi vấn đề, nắm vững mọi hoàn cảnh, thấy được mọi ngõ ngách bao gồm luôn cả ta, địch và đồng minh của Liên Thành trong BĐMT, người đọc có cảm tưởng như đang coi truyện võ hiệp kỳ tình. Trong đó, chưởng môn Liên Thành ngồi trong trướng võ đàn mà thấy hết hoàn toàn thiên hạ sự. Vì vậy, có thể tạm gọi BĐMT là một tập “hồi ức tạp ghi”… nghĩ chi nói nấy của tác giả Liên Thành; còn rất xa mới đủ tính khả tín của chứng tích và sử liệu.

Được biết Liên Thành lên tiếng là chỉ chấp nhận tranh luận “sự nghiệp tình báo” của ông với những người ở trong lĩnh vực tình báo mà thôi (?!). Riêng kẻ viết những dòng này chẳng thuộc nòi hổ báo, tình báo gì cả; nhưng chưa hẳn là kẻ “ngoại đạo” trong lĩnh vực này. Không biết nên chăng cần hé chút tâm sự riêng rằng, tôi đã từng dịch những hồ sơ “classified” cho Peter Downs, giám đốc cơ quan xã hội Tin lành Việt Nam (VNCS: Vietnamese Christian Social Services) suốt mấy năm liền song song với nghề dạy học. Sau này mới biết ông ta là cục phó CIA đặc trách miền Trung. Vì chỉ “dịch nhi bất tác” nên sau 1975, tôi chỉ bị đuổi dạy, lái xe lam mà khỏi đi tù.  Tôi có hai người anh ruột. Ông anh cả là chỉ huy trưởng lực lượng Biệt kích Dù lần lượt ở các trại Biệt kích trọng điểm như Thượng Đức, Khâm Đức và Khe Sanh, gắn liền số phận sinh tử với các tổ nhảy toán tình báo vào đất địch. Anh đã tử trận ở Khe Sanh năm 1967 – “Biệt kích Dù vị quốc vong thân!” Ông anh thứ hai cũng ở trong lĩnh vực tình báo của quân lực Việt Nam Cộng hoà (VNCH), làm ở phòng an ninh Không đoàn 41. Thời gian làm việc với P. Downs và hoàn cảnh anh em chia sẻ, thông tin thường xuyên cho nhau đã giúp tôi học hỏi, làm quen và có được cái nhìn không ảo tưởng về một thế giới mà người khí tiết, kẻ gian tà, nhóm trung thành, phường phản bội biến hiện, quần thảo nhau như bóng với hình thường khó lòng phân biệt. Đó là thế giới tình báo hay nhân danh tình báo. Và, thêm vào đó, bản thân tôi cũng là chuyên viên điều tra tòa án (court investigator) về các hồ sơ tội phạm ngược đãi thanh thiếu niên thuộc chương trình CPS của chính phủ Hoa Kỳ trong suốt 18 năm công tác liên tục tại Sacramento.

Học hỏi và kinh ngiệm đã chỉ cho tôi biết rằng, đánh giá kết quả tình báo, điều tra là nhìn vào thành quả chứ không thể căn cứ vào hiện tượng chiến thuật và sách lược biểu hiện đầy vẻ “dung dăng, dung dẻ” biến hiện không lường trên bề mặt nổi. Kiểu cách dùng lời lẽ đại ngôn để vẽ hươu, vẽ vượn cốt làm hoa mắt thiên hạ về những điều vừa mâu thuẫn, vừa không thể nào chứng minh được là một lối diễn xuất phường tuồng, chẳng dính dáng gì đến tổ chức tình báo và tác dụng của tình báo đích thực cả.

Hoàn cảnh thực tế của Thừa Thiên Huế trong thời kỳ Liên Thành làm trưởng ty cảnh sát chỉ còn cái lõi thành phố là tương đối còn an ninh trong phập phồng lo sợ. Có thể nói đây là thời kỳ tệ hại nhất về mặt an ninh của xứ này. Chiều chiều, từng đoàn người dân quê trong độ tuổi lao động từ các vùng nông thôn phải đạp xe đạp lên thành phố ngủ trọ qua đêm. Bốn phía đều trở thành những vùng xôi đậu, ngày Quốc gia, đêm Việt cộng. Đi xe đạp rời khỏi cột cờ Phu Văn Lâu chừng 10 phút ra khỏi giới hạn An Hòa, Bao Vinh, Chợ Dinh, Dạ Lê, Thủy Xuân, Phường Đúc… sau chạng vạng tối là đã nơm nớp lo sợ du kích cộng sản bắt cóc hay bắn sẻ bất cứ lúc nào.

Trong cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968 của CSVN trên toàn miền Nam thì Huế bị rơi vào tình trạng thê thảm nhất. Trên 5000 người dân vô tội bị thảm sát. Theo các nguồn thông tin đáng tin cậy thì thủ phạm điểm chỉ bắt người và giết người là những giao liên du kích cộng sản nội thành mà phần đông trước đó, đã quen đường thuộc lối, lên núi và về đồng bằng; vào thành phố Huế dễ dàng như đi chợ. Nếu Liên Thành có một mạng lưới tình báo “cái gì cũng biết” như ông nói thì thực tế đau thương của Huế tự nó đã phản bác nghiêm khắc lời tự phong vu vơ, hoàn toàn thiếu căn cứ của ông. Theo tác giả chuyên nghiệp tình báo về cuộc chiến Việt Nam, James J. Wirtz, viết trong sách Tổng công kích Tết: Sự thất bại của tình báo trong chiến tranh (The Tet Offensive: Intelligence Failure in War) thì tình báo Mỹ đã biết trước cuộc tổng công kích này từ tháng 11 năm 1967, nhưng chưa xác định được ngày giờ đích xác. Sự thất bại của tình báo Mỹ bắt nguồn từ sự thất bại của tình báo Việt Nam, mặc dầu đã biết trước sự cố từ hơn 3 tháng trước.

Sự đại ngôn thái quá của Liên Thành trong lĩnh vực tình báo đã gây tác dụng ngược cho các chi tiết về những nhân vật và hoàn cảnh mà ông đã đưa ra với dụng ý chứng minh, phân loại và phê phán theo quan điểm tố cộng cực đoan và bất nhất riêng của mình. Mức độ đáng tin cậy về tính chất thiện, ác; chánh, tà của người và việc trong BĐMT cũng theo sự thổi phồng sai sự thật đó mà rơi xuống mức độ thấp nhất, hay trong nhiều trường hợp đã bị hiểu ngược lại. Chào mừng Liên Thành đến Sacramento, tôi chỉ muốn nhắc với người anh em đồng hương, đồng tuổi, thuộc dòng dõi quý tộc triều Nguyễn rằng, bản chất của tình báo là sự thông minh (intelligence) chứ chẳng phải là ngược lại.

Trả lời và câu hỏi

Như đã xác định theo tiêu đề của bài viết, đây chỉ là đôi điều góp ý ngắn gọn. Muốn phân tích và chia sẻ cho thấu tình đạt lý về vấn đề BĐMT với Liên Thành thì ít nhất cũng cần vài ba trăm trang như có người đã viết, vì nó liên quan đến quá nhiều nhân vật, nhiều sự cố đã thành cố sự.  Do đó, tôi chỉ đi thẳng vào trọng tâm của vài ba vấn đề tiêu biểu.

Trước hết là vấn đề Phật giáo với cộng sản. Phật giáo Việt Nam (PGVN) – nói chung chứ không phải là Giáo hội PGVN thân chính quyền đang hiện diện trong nước – cơ bản theo tinh thần Đại Thừa. Đạo Phật đi vào cuộc đời hiện thực nên có sự tương tác tùy duyên giữa đạo và đời; đời và đạo. Tinh thần nhập thế của đạo Phật Việt Nam đã được thể hiện hài hòa từ thời Lý Trần. Vua Trần Nhân Tông là một thiền sư. Nhưng khi cần, vua cũng cầm quân ra trận đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Khi thanh bình trở lại, vua treo kiếm, coi chuyện công danh như đôi dép bỏ, lên Trúc Lâm Yên Tử tu hành giác ngộ. Đạo Phật Việt Nam uyển chuyển như một dòng sông; đi song song với dòng lịch sử dân tộc nên phải chảy qua những chặng đường quanh co, khúc khuỷu theo vận nước thăng trầm. Nhìn đạo Phật mà chỉ nhìn vào một giai đoạn, một bộ phái, một tổ chức hay một phong trào riêng lẻ nằm trong toàn thể sinh hoạt Phật giáo, rồi vội vàng kết luận đạo Phật như thế này, như thế kia… là nhìn biển qua sóng, nhìn sông qua bèo; nên có nhìn mà không thấy!

Khi Việt Minh (tiền thân CSVN) dấy lên phong trào toàn quốc chống Pháp vào mùa Thu năm 1945, những người Việt Nam yêu nước không phân biệt khuynh hướng, thành phần, giai cấp xã hội đều lên đường tham gia kháng chiến. Lịch sử còn ghi lại những hình ảnh cảm động của xóm đạo Tha La. Tuy đạo Thiên Chúa chịu nhiền ân nghĩa với Pháp, nhưng năm 1946, thanh niên xứ đạo Tha La bỏ ruộng vườn, xóm đạo lại đằng sau; Linh mục Nguyễn Bá Kính cũng cởi áo lên đường cứu nước. PGVN với lịch sử gắn liền với vận nước nên nhiều nhà sư từ Bắc chí Nam cũng đã tham gia những phong trào cứu quốc nên đã bị Pháp gọi là “Giặc Thầy Chùa”.

Sau thời kỳ Việt Minh trở thành CSVN thì sự hệ lụy giữa tôn giáo và chính trị kéo dài khi nổi, khi chìm; nhưng chưa bao giờ đạo Phật quay lưng với đất nước và dân tộc.

Trong BĐMT, Liên Thành đã nhìn thấy cộng sản khắp nơi. Điều này đúng. Khắp miền Nam, từ phủ tổng thống đến các nha, sở, bộ; trường học, chùa chiền, tu viện; thậm chí tư thất, tư dinh đều có cộng sản len lỏi vào. Liên Thành chọn bối cảnh cho “biến động miền Trung” bằng cách cắt một mảnh cuối cùng trong cuộc chiến Việt Nam từ 1963 đến 1975. Nghĩa là từ khi có phong trào tranh đấu Phật giáo và Ngô triều bị sụp đổ cho đến khi CSVN chiếm hết miền Nam.

Nội dung và chủ đích chính của Liên Thành và cái “Think Tank” (bồn trí tuệ) sau lưng ông là trang hoàng, sơn phết, làm đầy cho một cái khung định kiến đã đúc sẵn. Cái khung khép lại chỉ đơn giản như thế này:

Phật giáo + Cộng sản = Đảo chánh nhà Ngô + Mất miền Nam

Đó là… cứu cánh của cách đặt vấn đề trong BĐMT. Mọi phương tiện dầu đúng, dầu sai, dầu hay, dầu dở đều là phương kế khả thi nếu nó phục vụ cho cứu cánh đã đặt định. Điều khó hiểu nhất đối với một người đọc trung bình là có chăng trăm nghìn sự kiện mâu thuẫn và cách hành xử nghịch lý như những điều Liên Thành đã diễn tả trong BĐMT đã thực sự diễn ra tại miền Nam?  Những thắc mắc chính đáng của độc giả đã thể hiện qua những câu hỏi cụ thể, đại khái như:   Tại sao một trưởng ty cảnh sát nhỏ bé như Liên Thành lại có quyền lực khắp nơi, khắp chốn như vậy? Tại sao một nhân viên cấp tỉnh như Liên Thành lại có uy quyền trên cả hàng tổng, bộ trưởng? Tại sao một hệ thống quân giai có kỷ cương như quân lực VNCH lại để cho một viên thiếu tá địa phương như Liên Thành có quyền hành xử tùy tiện và bất chấp như thế? Chỉ có một trong hai bên đúng: Hoặc là giới lãnh đạo quân đội và dân sự miền Nam hoàn toàn vắng bóng; hoặc là Liên Thành nói sai sự thật. Nói cường điệu quá đà toàn những chuyện không thật thì người Huế gọi đó là nói “phách tấu”. Mà lẽ nào người Hoàng phái như Liên Thành lại đi nói điều phách tấu?

Có thể nói những tiết mục hấp dẫn nhất trong BĐMT là những màn “tình báo nổi”. Trong kỹ thuật tình báo kinh điển có nói đến phần nhận diện nhân dáng và quan sát tang vật hiện trường như một nghệ thuật “warm up” (hâm nóng) ban đầu để đo lường phản ứng của nhân vật; chuẩn bị tinh thần cho một tiến trình tra vấn tiếp theo. Nhưng không biết Liên Thành đã tốt nghiệp ở trường tình báo nào mà thường khi lẫn lộn giữa kỹ thuật nhận diện với tiểu xảo coi tướng của các ông thầy bói xem giò gà xứ Huế theo kiểu xếp bộ “mắt trắng môi thâm”, “tai dơi mặt chuột”… để sơ kết bản chất của những nhân vật mà ông sắp sửa kết án (nhưng chưa chắc đã thấy bao giờ). Cũng theo nguyên tắc tình báo quốc tế thì sự lẫn lộn giữa định kiến, cảm tính và lý tính sẽ “nullification” (vô hiệu) kết quả điều tra.

Trong số nhiều khuôn mặt được ông đưa ra tố cộng trong BĐMT, có hai nhân vật Phật giáo được ông chiếu cố tận tình nhất là thầy Trí Quang và thầy Đôn Hậu.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng nhân vật Thích Trí Quang vẫn còn là một đối tượng tham khảo và phân tích của các học viện chính trị, nhân chủng và xã hội quốc tế, nhất là ở Mỹ. Mọi sự suy diễn đơn giản và phiến diện về nhân vật này là một trường hợp “nullification” dữ kiện đáng tiếc mà tôi đã có dịp nói ở trên.

Gần 30 năm trước, lúc mới chân ướt chân ráo đến Mỹ thì tôi đã đọc một bài viết xuất phát từ vùng Tiểu Sài Gòn nói rằng, thầy Trí Quang là trung tá Việt cộng. Ngày CSVN chiếm Sài Gòn, thầy mang lon đội mũ trung tá cầm cờ chạy rông ngoài đường phố hoan hô quân miền Bắc. Tin tức kiểu tiếu lâm AVT đó, nay mới nghe lại Liên Thành lặp lại trong BĐMT! Không có gì thú vị và “xả hơi” hơn khi đọc về nhân vật Thích Trí Quang qua màn tình báo Liên Thành. Nguồn tin tình báo Liên Thành cho rằng, thầy Trí Quang là đảng viên cộng sản. Rằng, thầy là cộng sản gộc, nhận chỉ thị Trung ương Đảng đứng ra sách động phong trào đấu tranh Phật giáo. Đi xa hơn nữa, Liên Thành còn viết là thầy Trí Quang có người yêu già nhân ngãi non vợ chồng là một cô bé làm thị giả 13 tuổi. Có lý nào Liên Thành là cháu của danh tăng Thích Tịnh Khiết lại hiểu tổ chức Phật giáo Huế có tiếng về giới luật khắt khe, nghiêm ngặt một cách quá nông nổi và sai lạc đến như thế. Trong tổ chức Phật giáo làm sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng “thị giả” nữ 13 tuổi bên cạnh một thượng tọa là thế nào? Chưa hết, Liên Thành còn kể là ông đã cãi lệnh tướng tư lệnh cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan, vào lục soát phòng riêng của thầy Trí Quang và tìm thấy một bằng chứng hùng hồn cho sự nghiệp tình báo của ông là một cái xì líp đàn bà. Tưởng tượng vượt quá giới hạn đạo lý sẽ trở thành vô luân.

Thầy Trí Quang là một tu sĩ nổi bật trong cuộc đấu tranh Phật giáo 1963. Thầy được (hay bị?) báo chí Âu Mỹ và Việt Nam khai thác triệt để; hình thầy xuất hiện trên trang đầu của những tờ báo lớn như Time, FP với những lời bình luận nóng hổi. Đa số những bài viết đều có một điểm chung khá tương tự về khuynh hướng dân tộc của thấy Trí Quang: Không lệch theo con đường duy vật vô thần của khối cộng sản; mà cũng chẳng nghiêng về con đường duy linh nhất thần của khối tư bản. Thầy đứng giữa “hai lằn đạn”. Bên tả cho thầy là CIA, bên hữu cho thầy là cộng sản.

Biến động 1966 phát xuất từ nguồn gốc là người Mỹ đã chuyển hướng biến miền Nam thành kho súng đạn sau khi xoa tay bức tử triều đại Ngô Đình. Mỹ không muốn mất thời gian tái tổ chức một xã hội miền Nam theo mẫu mã dân sự ổn định như Hoa Kỳ mà nóng lòng muốn dứt điểm cuộc chiến Việt Nam để ôm Trung Quốc bằng cách quân đội hóa toàn miền Nam. Mỹ là chuyên viên dựng lên những chính quyền quân sự ở các nước chậm tiến và bất ổn như một sự dằn mặt giới lãnh đạo đương quyền do Mỹ hỗ trợ rằng, hãy khôn hồn, đảo chánh và lật đổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tại sao một miền Nam đang đối đầu với một đối thủ có bộ máy chính trị quá chặt chẽ như miền Bắc mà đồng minh Hoa Kỳ lại áp dụng một sách lược “ăn xổi ở thì” như vậy?   Những chính khách miền Nam chống cộng không nằm trong guồng máy hành chánh quân sự đều có chung mối quan ngại như thế.

Thầy Trí Quang và một số các nhà sư Phật giáo đã đứng lên đòi hỏi một hiến pháp và một sách lược mới thích hợp cho chính thể VNCH ổn định và có thực lực tại miền Nam trong thời điểm 1966 là đi ngược lại sách lược của Mỹ đang triển khai tại vùng châu Á Thái Bình Dương. Đồng thời, CSVN cũng thấy được nguy cơ của một miền Nam ổn định. Trong lúc đó, Kissinger đang đi đêm thương thuyết với Bắc Kinh và thuyết phục nội các Johnson bỏ rơi miền Nam. Vô hình chung, nhân vật Trí Quang trở thành đối đầu cùng lúc với cả Mỹ lẫn CSVN. Và khi Mỹ đã bật đèn xanh với túi đô la lè kè bên cạnh thì dẫu cho họ có muốn sông cạn núi mòn trong chớp mắt cũng chẳng có gì là khó. Đã có quá nhiều tài liệu công bố nói rằng, Mỹ đã cho nhân vật Trí Quang một trong ba sự chọn lựa là: Im lặng bó tay vào chùa dịch kinh niệm Phật, lưu vong sang Hoa Kỳ hay về thăm… cụ Diệm (?!)

Trong suốt 40 năm qua, thầy Trí Quang sống yên lặng trong chùa, “thủ khẩu như bình, thủ ý như thành”. Tất cả về thầy Trí Quang sau 1975 mà tôi được biết là hai tác phẩm dịch thuật. Một là bản dịch Kinh Kim Cương, 263 trang, do Mai Lan Lệ Ấn hải ngoại ấn hành năm 1987. Hai là bản dịch Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, 1162 trang, cùng nhà xuất bản năm 1996.

Nhân vật thứ hai được Liên Thành mang ra trình làng là thầy Đôn Hậu. Hành tung và sự nghiệp của thầy được Liên Thành mô tả trong BĐMT thảy đều là “Việt cộng toàn ròn”. Rốt lại còn “dễ sợ” hơn là thầy Trí Quang!

Ông Đỗ Trung Hiếu, bí danh Mười Anh, người Quảng Trị, đảng viên cộng sản thâm niên, được Đảng giao làm công tác tôn giáo vận, một thời là kiến trúc sư Phật giáo Nhà nước, đã khách quan nhận định rằng, thầy Đôn Hậu bị phe cách mạng cưỡng ép đưa lên núi sau vụ Tết Mậu Thân ở Huế và đem ra Hà Nội trong thời gian chiến tranh, gán cho chức Ủy viên Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam; năm 1976 là đại biểu Quốc hội khóa 6 và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc. Nhưng một thời gian sau, để phản đối việc chính quyền cộng sản đàn áp Phật giáo ở miền Nam, thầy Đôn Hậu đã công khai bằng văn thư từ bỏ hết mọi danh vị và chức tước bị gán nói trên. Thầy cực lực chống đối việc thống nhất Phật giáo thành Phật giáo Việt Nam (thường gọi là Phật giáo Nhà nước hay Phật giáo Quốc doanh) để làm công cụ chính trị cho Đảng Cộng sản. Thầy giữ vững lập trường này cho đến ngày viên tịch (23.4.1992). Ý hướng của thầy đã biến thành hành động cụ thể. Cuối đời, thầy Đôn Hậu đã phó thác ấn tín lãnh đạo Phật giáo Việt Nam Thống nhất (PGVNTN) lại cho thầy Huyền Quang.

Trong truyền thống Phật giáo, truyền y bát cho nhân vật lãnh đạo kế thừa đồng nghĩa với sự phó thác tâm phúc nhất niềm tin và lý tưởng vào sự nghiệp hành đạo độ sanh của người kế vị. Với ý nghĩa đó, tưởng cũng nên khách quan tìm lại những nét tiêu biểu nhất về chí hướng của nhân vật thừa kế thầy Đôn Hậu trong PGVNTN. Trong cao trào kháng chiến chống Pháp năm 1945, như tôi đã lược trình ở trên, thầy Huyền Quang tham gia Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5 trong những ngày đầu của cao trào yêu nước chống ngoại xâm. Năm 1951, thầy bị Việt Minh lúc bấy giờ đã biến tướng thành CSVN bắt giam lỏng 4 năm vì phản kháng quyết định độc đoán biến Phật giáo thành hội đoàn của cộng sản. Năm 1963, thầy Huyền Quang là tổng thư ký của Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, làm việc trực tiếp với Uỷ ban Liên bộ của chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Năm 1977, thầy Huyền Quang bị CSVN bắt biệt giam cùng với các thầy Thiện Minh và thầy Quảng Độ. Năm 1992, sau khi được sự phó thác của thầy Đôn Hậu trở thành người lãnh đạo kế nhiệm của PGVNTN, thầy Huyền Quang đã viết yêu sách 9 điểm, nêu lên những sai lầm của nhà cầm quyền và yêu cầu nhà nước CSVN phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Kết quả là thầy đã bị CSVN quản chế cho đến ngày viên tịch (5-7-2008). Ngoài ra, những tu sĩ Phật giáo ở vị thế lãnh đạo khác trong phong trào đấu tranh Phật giáo mà Liên Thành cho là do cộng sản dựng lên cũng đã bị CSVN ngược đãi, giam cầm như: Thầy Thiện Minh (chết bí mật năm 1978 sau thời gian bị giam cầm). Thầy Quảng Độ, thầy Đức Nhuận cũng bị tù tội triền miên.

Một nhà văn nào đó đã kêu lên: “Trong cảnh tranh tối tranh sáng này, anh em nhìn rõ mặt nhau thật khó!” Nhìn rõ nhau đã khó, phán xét đúng càng khó hơn.

Đôi điều với Liên Thành

Sau 35 năm im lặng, khi Liên Thành lên tiếng để xác nhận sự hiện diện của mình nơi đất khách thì tiếng nói của ông cũng đã lạc hậu mất 30 năm! Những ngày đầu sau 1975, người dân miền Nam hầu hết đều ngỡ ngàng trước thực tế. Câu hỏi lớn nhất vẫn là tại sao quân lực VNCH với phương tiện thủy, lục, không quân còn nguyên vẹn lại phải bị bức tử bỏ cuộc?

Khi ra nước ngoài, những thư viện lưu trữ tài liệu về chiến tranh Việt Nam phần lớn nghiêm túc và đáng tin cậy trong các trường đại học Mỹ mà tôi đã theo học và giảng dạy; kết hợp với phương tiện truyền thông đại chúng tại các nước tự do Âu Mỹ về Việt Nam phong phú đã giúp tôi tìm hiểu sự thật nên xin được bày tỏ sự bất đồng hoàn toàn với những điều mang tính “hồi ức” và suy diễn theo cảm tính bốc đồng của Liên Thành trong BĐMT. Sự kiện lịch sử đã nói lên quá rõ rằng, đồng minh Hoa Kỳ đã bỏ miền Nam vì quyền lợi của chính đất nước họ với đối tác mới Mỹ-Trung; cũng như trước đó, họ đã quyết định thay ngựa giữa dòng với chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm. Mỹ đã thực hiện rốt ráo nguyên tắc chi phối chính trị của họ trên toàn thế giới: Ai làm chủ túi tiền, người đó là vua. Chiến tranh và chính trị cũng chỉ là một hình thức “thương vụ” quốc tế. Có lời thì tiếp tục kinh doanh mà thua lỗ thì dẹp tiệm. Khi Mỹ đã quyết định thì họ đóng vai nguyên nhân, tất cả còn lại chỉ là nguyên cớ.

Trước khi phong trào tranh đấu Phật giáo phát khởi tại Huế thì Mỹ đã quyết định thay chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm vì tâm huyết sâu sắc, lòng yêu nước đậm cốt cách liêm khiết Nho phong và cách dùng người nhân hậu của Cụ đã bị nịnh thần và phản thần chuyên quyền lợi dụng. Nhất là ở miền Trung, tham vọng quyền lực và vật chất của thế lực gian thần ngày càng tác oai tác quái đã làm mờ đi chính nghĩa của cụ Ngô. Niềm tin khô cạn, nhân tâm lý tán. Thực trạng này làm chậm bước tiến chinh phục ảnh hưởng toàn vùng châu Á Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nên sự thay thế lãnh đạo là điều không tránh khỏi. Khi đèn xanh đèn đỏ của phú ông chi tiền đã chớp thì nếu không có phong trào Phật giáo này, cũng sẽ có vô số những phong trào tương tự khác, mang biển hiệu và màu sắc khác rộ lên.

Ngày 29-3-1973, cả miền Nam có bóng dáng ông sư bà vãi nào lên tiếng đâu, thế  mà Mỹ vẫn đơn phương hoàn toàn rút quân ra khỏi Việt Nam. Nguyên nhân ở tận Washington DC và Bắc Kinh chứ không phải ở Huế, Sài Gòn hay nằm trong đống hồ sơ vụn vặt của một ông trưởng ty tỉnh lẻ như Liên Thành. Trâu bò đại khánh, ruồi muỗi đánh nhau. Thảm trạng của thân phận nhược tiểu xưa nay là thế.

Hoặc vì không đầu tư học hỏi nghiêm túc, không chịu tham khảo tới nơi tới chốn; hoặc vì một động cơ khó hiểu hay dễ dãi nào khác đã khiến Liên Thành đang đứng ở ngã tư thế giới nhưng vẫn tưởng như còn đang đứng ở Ngã Ba Bánh Bèo xứ Huế “mô rứa răng ri, thích chi noái nấy” qua 400 trang của BĐMT! Vì không dụng công, Liên Thành đã nhìn Phật giáo qua nhãn quan một chiều, qua sự hiểu biết giới hạn và qua nhận thức đóng khung của một viên cảnh sát trưởng địa phương. Liên Thành đã mang định kiến xào trộn với mớ hồ sơ vi cảnh và cái gọi là “tình báo” đầy hoang tưởng để cột buộc Phật giáo với cộng sản.

Hồi ký của những nhân vật trùm cuộc chiến Việt Nam, có đủ kiến văn, dữ liệu và thẩm quyền để nói như McNamara (viết trong In Retrospect), Kissinger (trong Diplomacy), Rusk (trong As I saw It), Nolting (trong From Trust to Tragedy)… Hay gần gũi với thế giới người Việt hơn là các hồi ký của hơn 20 nhân vật người Việt đã từng ở vị thế lãnh đạo trong cuộc chiến và thời kỳ cận đại, từ cựu hoàng Bảo Đại (Con rồng Việt Nam) viết về thời kỳ 1913-1987; đến tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cố vấn cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, (Khi đồng minh tháo chạy) viết về giai đoạn Mỹ tham chiến ở Việt Nam cho đến năm 1975 là những tư liệu lịch sử và chính trị đáng tham khảo. Thế nhưng khi viết về những sự kiện có liên quan đến thời kỳ biến động trong cuộc chiến và phong trào Phật giáo thời 1963 vẫn còn nhiều dè dặt và giới hạn. Tác giả cũng như độc giả khi được phỏng vấn, đều có chung sự suy nghĩ rằng, những hình ảnh và chứng liệu cụ thể nặng tính dữ kiện và sử liệu khoa học vẫn còn chưa đủ tầm cỡ để nhận định và đánh giá chân xác, khách quan về bối cảnh và nhân vật liên quan đến những cuộc biến động miền Trung. Mớ tài liệu nhếch nhác chạy giặc mang theo, tầm hiểu biết hạn chế, vị trí nhỏ bé và hồi ức tuổi già của Liên Thành đã đưa ông đến chỗ can đảm một cách thảm hại không đúng thời, đúng chỗ, đúng đối tượng đã làm cho độc giả, ngay cả những chiến hữu một thời thân cận nhất của ông, thất vọng.

Đây chưa phải là bài điểm sách và cũng chẳng phải là bài phản hồi nghiêm túc tương xứng với vấn đề đặt ra mà chỉ là đôi điều góp ý.

Cũng xuất thân là một người con trai đàn ông Huế như Liên Thành, điều góp ý gần gũi nhất là những gì liên quan đến quê hương xứ sở mình. Huế nghèo nhưng thanh bạch. Thanh bạch trong cách sống và trong lời nói. Người bốn phương yêu Huế vì cái phong cách Huế mà đặc biệt là sự tao nhã, tính văn hóa và dáng vẻ khiêm cung trong ngôn ngữ. Rất tiếc là Liên Thành rời Huế quá sớm nên không chứng kiến được sự dị ứng và trăn trở của Huế sau ngày miền Bắc thắng trận.  Đó là khi một thiểu số thành phần xuất thân giữ trâu, giữ bò vô học trở thành người chiến thắng, có chút thế lực trong tay ngông nghênh dùng lời lẽ hạ cấp bất xứng với người thất thế. Những người này đã gọi là “thằng”, là “hắn” là “lũ” là tên này tên nọ tuốt luốt như: “Thằng Thiệu, thằng Kỳ, thằng Mỹ, thằng Ngụy…” với những người đáng tuổi cha ông của mình ở miền Nam bị liệt vào thành phần Mỹ, Ngụy; ngược lại thì cũng tương tự như những người mà Liên Thành liệt vào thành phần cộng sản trong BĐMT. Loại ngôn ngữ hằn học, thô lỗ, thiếu văn hóa đó đã bị không những Huế mà tất cả người miền Nam khinh bỉ và lên án. Dẫu có ngoan cố bào chữa cách nào cũng không ai chấp nhận nên cuối cùng họ phải bỏ đi. Tôi hơi ngỡ ngàng khi bắt gặp loại ngôn ngữ thô bạo này trong BĐMT mà Liên Thành đã dành cho bất cứ ai, kể cả thầy dạy học cũ của mình, các vị tu sĩ Phật giáo cao niên, những nhân vật lớn nhỏ mà ông đã quy kết là cộng sản, theo cộng, hay thân cộng. Xuất thân là một sĩ quan, một sinh viên đại học Huế, một người Hoàng phái danh gia tử đệ mà vô tình ông Liên Thành đã giẫm lên vết chân của những người thuộc thành phần thấp kém từ Bắc mới vô Nam năm 1975 thì quả là điều xót xa và đáng tiếc! Qua Mỹ đã hơn 30 năm và đã từng làm trong nghề an ninh trật tự xã hội, ông Liên Thành cũng hiểu ít nhiều về nguyên tắc luật lệ và trật tự của một xã hội có văn hóa và văn minh: Dẫu là người phạm tội rành rành nhưng chưa có phán quyết của tòa án thì vẫn còn là nghi can. Nhưng cho dẫu là tội phạm chăng nữa thì cũng phải đối xử công bằng và nhân bản. Lẽ nào Liên Thành không biết hay quên?

Được hân hạnh đón Liên Thành về thăm vùng đất tỵ nạn của mình đã sống trong hơn hai chục năm qua, tôi chỉ ước mong những người cùng thế hệ, cùng chịu chung nỗi vinh nhục của quê hương gặp nhau, nhìn nhau và thấy được nhau.

Là một Phật tử độc lập, tôi chỉ biết theo giáo lý nhà Phật để tự giáo hóa chính mình tìm sự an lạc như phần đông các Phật tử xuất gia và tại gia khác. Có thêm được chỗ dựa tinh thần và năng lực hóa độ của tăng ni đạo cao đức trọng vẫn là ân đức mong tìm của người Phật tử. Cho nên tôi vẫn thường lặp đi lặp lại hoài như một lời tâm niệm về hình ảnh đạo Phật là một biển thái hòa an lạc. Nước của trăm nguồn đổ về biển cả, dẫu cho trong sạch hay dơ bẩn đến mức độ nào thì cuối cùng cũng được hóa giải. Trên đường tìm cầu học hỏi, chúng tôi không ngây thơ cho rằng, tất cả tăng ni qua hình tướng đầu tròn áo vuông đều là thánh tăng hay chân tăng. Nhất là trong thời đại “kinh tế thị trường” vàng thau lẫn lộn này thì nhìn rõ chân tướng của nhau thật khó. Ai không an trú trong giới luật, sẽ thọ lãnh nghiệp quả của mình. Tiền thân của đức Phật là bồ tát Thường Bất Khinh. Gặp bất cứ ai, ngài cũng cất một lời khiêm tốn: “Thưa ngài, tôi không dám coi nhẹ ngài vì ngài là một đức Phật tương lai!” Nhân danh là những nguời Phật tử, chúng ta có thể nói với nhau một lời đơn giản mà sâu dày như thế được chăng.

Sacramento, cuối Thu 2009

© 2009 Trần Kiêm Đoàn

© 2009 talawas blog

Phản hồi

31 phản hồi (bài “Trần Kiêm Đoàn – Đôi điều với Liên Thành về “Biến động miền Trung””)

  1. 1mitee says:

    Kể từ khi bài của TKD xuất hiện trên một số trang Web khác ngoài talawas, đã có một số phản hồi nói rằng TKD đã tham gia phong trào tranh đấu thời 1966.

    Tôi không rõ thông tin như thế có đúng hay không nên muốn hỏi tác giả TKD về sự thực hư.

    Nếu đúng như thế thì tôi sẽ hiểu bài của TKD theo một hướng khác và tôi nghĩ là nếu TKD đã tự bạch thông tin này thì sự khả tín của bài ông viết lại cao hơn vì nó trung thực và TKD càng càng được kính trọng vì tính quang minh, chính đại.

    Nhưng nếu thông tin đó đúng thì điều ông viết rằng ông “là một Phật tử độc lập” là không phản ánh sự thật.

  2. Trần Gia Phụng says:

    Khi viết phần nầy, tôi cũng thắc mắc như anh/chị Phùng Tường Vân (04/11/2009 lúc 8:35 sáng). Tôi định chú thích nhưng sợ bài báo dài quá nên không chú thích. Tôi dùng tài liệu của Đoàn Thêm, trong Hai mươi năm qua trang 354. Tôi có hỏi một vị cao niên trong ngành hành chánh về việc nầy. Vị đó trả lời đại ý như sau: Một người đã chết, nhưng trong hành chánh chưa có giấy tờ báo tử chính thức, hoặc giấy báo tử chưa đến, thì người ta không thể tự động bỏ tên ra khỏi sổ sách và vẫn tiến hành theo thủ tục, nhưng đương nhiên tòa án biết là không thể kết tội được nữa. Vấn đề còn lại của tôi là tôi sẽ kiểm chứng lần nữa trên Công báo Việt Nam Cộng hòa về vụ án nầy và tôi sẽ hỏi thêm những thân nhân trong gia đình Nguyễn Tường Tam mà thỉnh thoảng tôi có gặp ở California, nhất là anh Nguyễn Tường Thiết, tôi mới gặp với anh Phạm Phú Minh trong thời gian gần đây. Xin cảm ơn ý kiến của anh/chị Phùng Tường Vân.

    Toronto, 4-11-2009

  3. Trần Văn Tích says:

    Bài viết của Trần Kiêm Đoàn có điểm này điểm khác cần bàn lại.
    Sách của cựu Thiếu tá Liên Thành nêu đích danh một vài nhà sư chứ không “đồng hoá phong trào đấu tranh Phật giáo 1963 và các hoạt động của Phật giáo trở về sau đều là cộng sản.” Qui trách nhiệm theo kiểu này là quá đáng. Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, quí Thượng toạ Thích Tâm Châu, Thích Tâm Giác, Thích Tâm Ấn có được Liên Thành “chiếu cố” theo cung cách như đối với nhị vị Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang đâu. Phật giáo Cổ sơn môn có xuất hiện trong sách Liên Thành không? Ai sống qua giai đoạn liên hệ cũng đều biết là giới tăng ni Phật tử thuở bấy giờ có hai phái, phái ôn hòa và phái quá khích. Không ai u mê ám chướng đến nỗi cho rằng Phật giáo vào thuở đó đều là cộng sản hết. Đã thế, Trần Kiêm Đoàn còn nêu cả giáo lý Đức Thế Tôn, còn dẫn cả chư vị thiền sư thời Lý Trần; hai kiến giải này, theo ngu ý, là hoàn toàn thừa thãi. Khi qui y tam bảo Phật Pháp Tăng, đệ tử nhà Phật hiểu rằng chỉ có Phật, Pháp là bất khả tư nghị, còn tăng chúng, ni chúng chẳng qua cũng chỉ là người trần mắt thịt nên có thể sai lầm, thậm chí phạm tội. Đương nhiên kể rằng ông sư A, bà vãi B làm điều sai trái không hề có nghĩa là xúc phạm Phật giáo.
    Trần Kiêm Đoàn cho rằng Liên Thành đề cập đến “những người đã nằm im trong lòng đất”. Thượng toạ Thích Trí Quang, quí ông Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân hiện nay đang ở đâu vậy?
    Cách phân loại độc giả của sách Liên Thành thành ra ba hạng là một hành động vô bổ, vì sách nào mà chẳng có ba hạng độc giả như ông Trần liệt kê.
    Nếu Liên Thành tự phong cho mình vai trò phán quan theo tác giả họ Trần thì chính ông Trần cũng tự phong cho mình vai trò chiêm bốc khi nhắc đến nhóm “Phù Ngô phục hận”, đến “Think Tank” sau lưng Liên Thành và đến cả “bản chất cố hữu” của ông Liên Thành nữa!
    Để chứng minh hành trạng của Thượng toạ Đôn Hậu, ông Trần đan cử một ông “đảng viên cộng sản thâm niên, được Đảng giao làm công tác tôn giáo vận” v.v… Chừng nào thì ông Trần Kiêm Đoàn viện dẫn Trần Dân Tiên, Trần Huy Liệu?
    Với lại cung cách viết biện minh trạng của ông Trần có phần gượng gạo quá. Thượng toạ Đôn Hậu có thể chống cộng cùng mình vào một thời điểm nào đó, nhưng điều đó đâu có thể phủ nhận thái đô thân cộng của Ngài vào một thời điểm khác trong quá khứ?
    “Khi đèn xanh đèn đỏ của phú ông chi tiền đã chớp thì nếu không có phong trào Phật giáo này, cũng sẽ có vô số những phong trào tương tự khác, mang biển hiệu và màu sắc khác rộ lên.” Vấn đề không phải ở chỗ không có phong trào Phật giáo này thì cũng có phong trào tương tự khác, vấn đề ở chỗ nhóm Phật giáo Ấn quang quá khích có châm thêm dầu, góp thêm điện cho đèn xanh đèn đỏ của phú ông không.
    Đương nhiên cuốn sách của cựu Thiếu tá Liên Thành có những điểm có thể gây tranh luận. Nhưng tranh luận như thế nào cũng là điểm nên tranh luận.

  4. Phùng Tường Vân says:

    Tha bổng người chết!

    Ông Hòa Nguyễn “…giới thiệu bài viết ‘Lý do cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963’ ngắn gọn tương đôi trung thực của Trần Gia Phụng…” tôi vào đọc thấy có chi tiết sau đây: “Hôm sau ngày 12/7/1963 tòa xử các quân nhân và nhân sĩ vắng mặt… có 14 trường hợp được tha bổng. Trong số những người được tha bổng có nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.” Ông Nguyễn Tường Tam tự tử ngày 7/7/1963, tố quyền đương nhiên bị tiêu diệt, làm gì có chuyện kết án hay tha bổng một người đã qua đời!

  5. hoang trieu says:

    Đào Nguyên KHÔNG có “phương trình “Phật giáo + Cộng sản = Đảo chánh nhà Ngô + Mất miền Nam”.
    Phương trình trên là của Trần Kiêm Đoàn (xem trong bài.)

  6. Hoà Nguyễn says:

    Le Chi nói: “Tôi là một người trẻ nên đã không sống qua thời kỳ Đệ I Cộng hòa và những xáo trộn sau đó.”

    Ông Đào Nguyên có “phương trình “Phật giáo + Cộng sản = Đảo chánh nhà Ngô + Mất miền Nam”

    Lý do mà những biến cố ở miền Nam từ 1960 đến 1975 vẫn còn được bàn tới cho tới bây giờ là vì có nhiều điều không sáng tỏ với nhiều người. Tôi xin giới thiệu bài viết “Lý do cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963” ngắn gọn, tương đối trung thực của Trần Gia Phụng, đăng trên tờ Calitoday.

    Cuộc đảo chính năm 1963 là nhân phong trào Phật giáo tranh đấu bắt đầu ở Huế, nhưng phong trào này không chủ trương lật đổ ông Diệm, mà chỉ dấy lên như một chất xúc tác tạo ra nhiều phản ứng dây chuyền. Nhiều tướng tá miền Nam đã bất mãn với hai ông Diệm, Nhu từ trước, như họ làm đảo chính năm 1960, và ném bom dinh Độc lập năm 1962. Mỹ lúc đó muốn đưa quân vào miền Nam (thêm vào số cố vấn quân sự hay chuyên viên kỹ thuật) vào lúc lực lượng Giải phóng miền Nam lớn mạnh rất nhanh (điển hình là trận Ấp Bắc 2/1/1963). Theo ông Lê Xuân Khoa trong Việt Nam 1945-1975 (trang 450), thoạt tiên những người Công giáo như Trần Kim Tuyến và Phạm Ngọc Thảo dự định đảo chính để loại bỏ ông Nhu, nhưng không thực hiện được, hoặc bị ngăn chặn bởi nhóm khác mà đa số là người theo đạo Phật, như Trần Văn Đôn, Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Đỗ Mậu, Nguyễn Cao Kỳ, cả Tôn Thất Đính (là Phật tử nhưng nằm trong Quân ủy Cần lao của ông Nhu), họ không liên hệ gì với cuộc tranh đấu của Phật giáo xảy ra ngoài phố lúc đó (biểu tình, tự thiêu). Theo các hồi ký, tình cảm tôn giáo của những người này ít nhiều đóng một vai trò nào đó trong quyết định của ho, nhất là khi các chùa chiền ở miền Nam bị Lực lượng Đặc biệt (chỉ huy bởi một đại tá Công giáo) tấn công đêm 21-8-1963 theo lệnh của ông Nhu. Sau cuộc đảo chính, có những xung đột nhỏ giữa hai bên lương giáo dân ở Sài Gòn, Huế (Phú Cam), Đà Nẵng. Theo ông Trần Văn Đôn, nhóm đảo chính chọn ông Nguyễn Văn Thiệu tấn công dinh Gia Long (nơi ông Diệm ở) là vì “muốn một người Thiên Chúa giáo đảo chánh một người Thiên Chúa giáo” (theo Việt Nam nhân chứng trang 272), như thế là để tránh tiếng. Nhưng dù sao, cuộc tấn công vào các chùa cũng khiến TT Kennedy chấp nhận quyết định “không ngăn chặn” cuộc đảo chính, nếu ông Diệm không thay đổi đường lối lãnh đạo (theo sách Lê Xuân Khoa đã dẫn trang 451).

    Sau 1-1-1963, những người đảo chính thành công có những tham vọng chính trị riêng (như Nguyễn Khánh), một số người còn trung thành với ông Diệm (như Cao Văn Viên), và môt số người tham gia đảng Đại Việt, hay nhóm chính trị nào khác, đã liên tục lật đổ nhau (nhưng họ không thanh toán, sát hại nhau khi thắng, trừ Phạm Ngọc Thảo bị chết mờ ám). Chưa kể những nhận vật như Phạm Ngọc Thảo (Công giáo nhưng có thể là điệp viên của MTGP) có thể muốn “quậy” cho chính sự miền Nam nát bét thêm vì mục đích riêng mà nay còn chưa biết rõ. TT Trí Quang và nhóm Phật giáo tranh đấu ở Huế dường như muốn có tiếng nói mạnh hay có vai trò quyết định trong chính trường miền Nam, đồng thời họ có khuynh hướng chống Mỹ (như đốt phòng Thông tin Mỹ ở Huế) hay ít ra họ chống việc Mỹ mở rộng chiến tranh ở VN. TT Nhất Hạnh thời này làm nhiều thơ phản chiến, đòi Mỹ và miền Nam chấm dứt chiến tranh, như “Lời người lao động Sài Gòn (1) :

    thành lập một chính quuyền dân sự
    chúng tôi nói: được!
    ủng hộ nội các chiến tranh
    chúng tôi nói: không!

    Hay bài “Lời người dân lao động Sài Gòn (2):

    chúng tôi đòi hòa bình, hoà bình, hòa bình
    nghĩa là đòi chấm dứt chiến tranh
    các người đã nghe rõ chưa
    chúng tôi đòi hòa bình

    (Trích từ quyển Thử tìm dấu chân trên cát của Chơn Không Cao Ngọc Phượng)

    Từ đó, Nguyễn Cao Kỳ, sau này vẫn cho mình là Phật tử, (có lẽ đã giúp rất nhiều cho việc xây chùa Vĩnh Nghiêm ở Sài Gòn và đối xử công bằng hơn với giáo phái Theravada), nhưng quyết định dùng biện pháp mạnh dẹp tan cuộc “biến động” ở miền Trung do TT Trí Quang chủ trương với nhóm tranh đấu ở Huế qua “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc”. Sự đối lập giữa chế độ đệ Nhị Cộng hoà với Phật giáo có từ đó. Trong các cuộc bầu cử quốc hội, Phật giáo Ấn Quang (TT Trí Quang) luôn luôn ủng hộ các nhóm đối lập chính quyền, trong khi nhóm Phật giáo của TT Tâm Châu thân chính quyền hơn.

    Về ông Liên Thành, tôi nghĩ là thuộc thành phần sĩ quan lớp trẻ thời đó, dù là Phật tử ở Huế hay không, được đào tạo để làm tròn một trách nhiệm trước mắt là theo dõi, bắt giữ, dẹp tan các nhóm Cộng hay thân Cộng chống chính quyền ở Huế, không xét tới khía cạnh tôn giáo trong việc làm đó. Cho nên Liên Thành thấy TT Đôn Hậu khi đã theo Mặt trận thì là CS chứ không là tăng sĩ bình thường nữa (còn chuyện về bà hiệu trưởng Đồng Khánh không biết đúng sai thế nào). Liên Thành cũng thấy Trịnh Công Sơn thân Cộng vì có liên hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhưng cũng thấy Liên Thành chống vài người trước kia làm việc cho ông Cẩn (tôi không nhớ tên), nên không thể nói là muốn chống Phật giáo vì muốn phục hồi chế độ ông Diệm.

  7. 1mitee says:

    Nhân nói về TT Trí Quang, một tài liệu vừa do CIA giải mật tháng 3 năm 2009, “CIA and the Generals – CIA và các tướng lãnh,”

    http://today.ttu.edu/wp-content/uploads/2009/03/01-cia-and-the-generals.pdf

    có vài chi tiết liên quan đến TT Trí Quang và Tết Mậu Thân như sau:

    – Trang 38: Từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1965, TT Thích Trí Quang đã nhận của CIA 2.000.000 (2 triệu) đồng Việt Nam, tương đương 12.500 đô la lúc bấy giờ. Giải thích của CIA ở Saigon là để giúp TT Trí Quang huấn luyện (training), nhưng Tổng Hành Dinh CIA ở Mỹ lại lo ngại TT Trí Quang có thể dùng tiền đó để huấn luyện biểu tình phản kháng!

    (Cũng nên nhắc lại là nhân viên CIA Lou Conein đã chi cho các tướng lãnh chỉ 3 triệu đồng Việt Nam khi lật đổ chế độ và giết hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu! Rất nhiều sách về chính biến 1/11/1963 có đăng lại biên lai nhận tiền của các tướng.)

    Một câu hỏi được đặt ra là TT Trí Quang nhận tiền của CIA để làm gì? Ông hoạt động gì cho CIA? Có phải TT Trí Quang vừa hoạt động cho cộng sản, như Liên Thành khẳng định trrong “Biến động miền Trung,” mà cũng vừa làm việc cho CIA hay không?

    Có lẽ câu hỏi này chỉ được trả lời nếu có sự giải mật của các tài liệu từ Bộ Chính trị Đảng CSVN ở Hà Nội, nhưng chắc chắn lịch sử sau này sẽ có câu trả lời cho nghi vấn này!

    TKD nói rằng 40 năm nay TT Trí Quang chỉ tịnh khẩu và dịch kinh sách. Hãy thử hỏi nếu TT Trí Quang đóng góp phần nào vào việc CS Bắc Việt thôn tính miền Nam để sinh linh toàn thể đất nước sống trong nô lệ, nhân phẩm bị chà đạp như hiện nay thì những bộ kinh ông dịch có hóa giải được cái nghiệp của ông không? Và Phật giáo từ sau 30/4/1975 đến nay có bị đàn áp không mà TT vẫn an nhiên tự tại ngồi dịch kinh trong khi bao nhiêu Phật tử đã chết trong trại tù, ngoài biển khơi hay trong rừng già Cam Bốt, khi tìm đủ mọi cách thoát bỏ cuộc sống nông nô trong chế độ cộng sản! Dĩ nhiên mỗi người sẽ có nhận định riêng của mình về TT Trí Quang nên TKD cũng không thể buộc người khác phải nhìn sự việc theo quan điểm mình. Và cũng không nên cao giọng tự đề cao mình là khoan dung, từ bi, hãy chứng tỏ bằng hành động!

    – Trang 72: “… Then, on 29 January, an ARVN report intercepted by US intelligence specified Tet as the launch date.” (Sau đó, vào ngày 29 tháng 1 (tức 29 Tết) một báo cáo của quân đội VNCH mà tình báo Hoa Kỳ chặn lấy được đã xác quyết rằng Tết sẽ là ngày phát động (tấn công) …

    Một câu hỏi được đặt ra là đơn vị nào của quân lực VNCH đã thực hiện báo cáo nàỵ? CIA đã làm gì với báo cáo? Tại sao CIA không thông báo cho chính phủ VNCH để báo động quân đội cho dù có ngưng chiến 3 ngày Tết? Và sau khi cuộc tấn công Mậu Thân xảy ra, tài liệu này có được sử dụng để đánh giá những thất bại, yếu kém về tình báo, quân sự hay không? Hay CIA ém nhẹm tài liệu này luôn để khỏi bị nhục nhã, mất mặt!

    Trong “Biến động miền Trung” LT có nói đến chuyện báo cáo lên thượng cấp về tin tức cộng sản có thể tấn công dịp Tết thì bị họ bác bỏ, cho rằng tin không chính xác, đừng làm dân chúng hoang mang! Nhưng chính những thượng cấp của LT sau đó cũng bị khám phá là nằm vùng, hoạt động cho cộng sản!

  8. 1mitee says:

    Trước đây tôi rất thích những bài viết củaTrần Kiêm Đoàn (TDK) trên talawas và sách viết về Huế của ông sau khi được một người bạn cho quyển “Con yêu bánh nậm”.

    Nhưng khi đọc bài này tôi thất vọng vì thấy có lẽ TKD đã giận quá mất khôn trong bài này khi viết về quyển “Biến động miền Trung” (BDMT) của tác giả Liên Thành (LT), cùng là một người Huế, lại là dòng Hoàng tộc.

    TKD là nhà văn, bằng cấp cao nên văn chương trau chuốt, trôi chảy trong khi LT là một quân nhân, là người hành động nên giọng văn giản dị, thẳng thắn nhưng phải nói là BĐMT đọc rất lôi cuốn. Tôi đã đọc hết quyển BĐMT và cũng có một số câu hỏi muốn hỏi tác giả LT khi có dịp.

    Tôi cũng là người Huế gốc Bao Vinh mà ông TKD cho là vùng mất an ninh. Sự thực không phải thế, hằng năm Tết đến gia đình chúng tôi đều về nhà gần chợ Bao Vinh ăn Tết, chỉ năm Mậu Thân, mẹ tôi bệnh nặng phải ăn Tết ở Quảng Ngãi. Cũng may, nếu không chắc là cả gia đình đã tiêu vong: hai người chú và một người cậu đã chết trong Mậu Thân. Tôi theo học đại học Sư phạm và Văn khoa Huế 1971-1975 và cũng có rất nhiều bạn Công giáo cũng như Phật giáo. Đặt biệt mấy chú từ Chùa Bảo Quốc trường rủ lên chùa nói chuyện, ăn cơm chay nhiều lần. Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, khi dân chúng từ Quảng Trị chạy vào Huế, họ lấy cư xá sinh viên sư phạm trên đường Đội Cung làm trại tạm cư nên tôi và đám bạn phải về Quảng Ngãị. Nói vậy để thấy tôi cũng có một ít kinh nghiệm về một biến động ở Huế.

    TKD nói bài của ông kho6ng phải là bài điểm sách BĐMT của LT nhưng tôi không rõ TKD thực sự đã đọc BĐMT hay chưa vì bài viết không đề cập đến chi tiết nào trong quyển sách mà chỉ đưa những nhận xét chung chung, hay nghe qua lời người khác mà tôi thấy rất nhiều trên mạng. Trong quyển BĐMT tôi thấy LT chỉ đề cập đến những sự kiện cụ thể từ vị trí của một người trong cuộc: các “biến động” Phật tử tranh đấu 1966, Mậu Thân năm 1968, và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. LT không nói gì đến những chuyện trong năm 1963 vi lúc đó ông ta vẫn đang là sinh viên ở Huế, chưa vào lính hay làm gì trong cảnh sát! TKD nói LT đề cập đến giai đoạn 1963-1975 là không đúng.

    Ngoài ra, những sự kiện LT nêu ra trong BĐMT, xuất bản từ 5/2008, nhưng tới nay tôi chưa thấy một phản bác nào đứng đắn, cụ thể về những nhân vật như các TT Trí Quang, Đôn Hậu, Bà Đào Thị Xuân Yến (Bà Tuần Chi mà LT cho là tình nhân và cùng ra Bắc với TT Đôn Hậu sau 1968) hay về anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, v.v. Nữ sĩ Nhã Ca trong “Giải khăn sô cho Huế” cũng đã nói về các nhân vật này từ năm 1972.

    TKD cho là LT dùng lời lẽ thô tục trong BĐMT làm hạ phẩm giá người Huế! Tôi thì thấy khi đề cập đến vai trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường, LT lúc nào cũng gọi là “Thầy Tường” vì có học với HPNT ở trường trung học Quốc học. Ngoài ra tôi cũng không thấy LT gọi ai bằng “thằng” như TKD chỉ trích. Tôi sẽ đọc lại BĐMT và sẽ đếm xem có bao nhiêu từ “thằng” trong đó.

    LT là một người Huế, theo phỏng vấn trên YouTube thì ông là một Phật tử thuần thành, cháu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, bà nội và cố Đại Lão Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết là anh em bạn dì, một người em và một người chú của LT là đại đức thời 1966, do đó những lời buộc tội LT là đánh phá Phật giáo là khó tin và chỉ thể hiện thái độ “cả vú lập miệng em” mà thôi. Ngoài ra LT chỉ đề cập đến TT Trí Quang, Đôn Hậu, Chánh Trực, Thiện Siêu. Mấy vị này là “Phật giáo Việt Nam” hay sao? Chúng ta tin vào đạo hay tin vào sư, thầy?

    Một nhận định của TKD mà tôi cho là hồ đồ là “Liên Thành… với sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhóm ‘phù Ngô phục hận’ đầy bản lĩnh đang đứng ở hậu trường(?!)” Rất khó, nếu không nói là không thể, biết động cơ của một người qua ngôn từ và hành động và do đó không nên gán cho người khác những động cơ, mưu đồ, này nọ nếu không có cơ sở, bằng chứng. Những điều LT đưa ra trong BĐMT là một cái nhìn chủ quan của tác giả về những sự kiện trong một giai đoạn lịch sử và chúng ta cần nhiều người trình bày những cái nhìn cũng chủ quan của họ để hy vọng có một bức tranh hoàn chỉnh hơn về những sự việc quá khứ. Sau đó là tùy quan điểm, thái độ của từng người, để tin hay không về một sự kiện nào đó mà thôi!

    TKD viết và nói nhiều về Phật giáo, mà ở đây lại vọng ngữ, gán cho người khác mưu đồ này nọ mà không có dữ kiện, cơ sở thì xin đề nghị TKD nên kiểm chứng lại sự thực hành chánh ngữ và chánh niệm trong Bát Chánh Đạo của mình. Nói thì lúc nào cũng dễ, thực hành lại rất khó.

    TKD cũng viết: “Đã có quá nhiều tài liệu công bố nói rằng, Mỹ đã cho nhân vật Trí Quang một trong ba sự chọn lựa là: Im lặng bó tay vào chùa dịch kinh niệm Phật, lưu vong sang Hoa Kỳ hay về thăm… cụ Diệm (?!)” Xin TKD cho biết cụ thể tài liệu nào nói về việc Mỹ cho TT Trí Quang các chọn lựa này! Nói chung chung như thế không khả tín.

  9. Le Chi says:

    Tôi là một người trẻ nên đã không sống qua thời kỳ Đệ I Cộng hòa và những xáo trộn sau đó.

    Thắc mắc của tôi (tôi nghĩ) rất đơn giản: nếu như TT Diệm và chính phủ của ông đã đàn áp Phật giáo thì sau khi chính phủ này bị lật đổ, tại sao vẫn có những tranh đấu quyết liệt của Phật giáo miền Trung? Như vậy là các tướng lãnh (đảo chính) và Đệ II Cộng hòa cũng đàn áp Phật giáo?

  10. Lê Quốc Trinh says:

    Quý vị độc giả muốn biết một version về sự thật biến cố Pháp Nạn 1963 và cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, xin mời vào những website của Phật giáo hải ngoại, tìm đọc Bạch thư của Hoà thượng Thích Tâm Châu hay liên lạc với ông Nguyễn Trọng Nho, hiện là thẩm phán toà án California. Những nhân vật này đã từng trực tiếp liên hệ tới phong trào đấu tranh Pháp Nạn từ 1963 và vài năm sau đó trên chính trường VNCH.

    Khi bàn về Phật giáo, hãy có một cách nhìn đúng chính xác theo đường lối tu hành trong nhà Phật, còn bàn về chủ nghĩa cộng sản thì cũng nên cố gắng tách rời yếu tố Phật giáo ra. Trừ phi quý vị có dẫn chứng giấy trắng mực đen rằng lãnh tụ Phật giáo miền Nam thời đó đích thật là hậu thuẫn của ĐCS miền Bắc.

    Thời buổi nhiễu nhương này, vẫn còn có kẻ thích trương lá cờ chống Cộng ở hải ngoại để lấy lòng quần chúng, nhưng thực tế thì rỗng tuếch.

  11. Phùng Tường Vân says:

    @ Trần Kiêm Đoàn vs Liên Thành,

    Lại thêm có Tôn Nữ Khuynh Thành đang chờ vỗ tay tán thưởng, vậy thì trên sân cỏ lịch sử phen này hai chàng “Beckham” của xứ Huế làm gì không phô hết chiêu thức, tài nghệ. “Yết đế, yết đế…”!

  12. Tôi đã thấy nhiều Phật tử, tăng sĩ Phật giáo dùng nhiều lý luận hay dữ kiện không thuyết phục lắm để cố biến dấu = trong phương trình “Phật giáo + Cộng sản = Đảo chánh nhà Ngô + Mất miền Nam” thành dấu =/= .

    Qua bài viết trên, tác giả không làm thế, nhưng tôi nghĩ phương trình trên đã biến thành: Phật giáo + Mỹ = Đảo chánh nhà Ngô + Mất miền Nam + giao thương Mỹ Trung + US$.

    Âu chẳng qua là số phận hẩm hiu của tôn giáo nói chung và Phật giáo VN nói riêng! Nó trở nên một biến số trong những phương trình tính toán đong đo lường đếm đầy tai hại chết người của thế gian!

  13. Nam Phan says:

    Tôi hoàn toàn không có ý kiến gì về những lời qua tiếng lại giữa hai ông Trần Kiêm Đoàn và Nguyễn Phúc Liên Thành về cuốn Biến động miền Trung. Tôi chỉ “băn khoăn” về đôi điều ông Trần Kiêm Đoàn đưa ra:
    “Liên Thành… với sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhóm ‘phù Ngô phục hận’ đầy bản lĩnh đang đứng ở hậu trường(?!).”

    Đây chắc chắn không phải là nơi ông Trần Kiêm Đoàn sợ lỡ chân đứng nhầm “lề”. Cũng chẳng cần phải kiêng dè gì vì sợ “khối đoàn kết Quốc gia” sứt mẻ. Sao ông không “bật mí” xem cái đám ném đá giấu tay kia nó tròn, méo ra sao cho bàng dân thiên hạ mãn nhãn, mà lại để một dấu hỏi với một dấu chấm than trong ngoặc? Hay đây cũng thuộc phạm vi “tình báo”? Hoặc là “phong cách” của “người Huế Trần Kiêm Đoàn”? (Tôi nhất định không bước vào vết xe ông Trần Phong Giao đã bước ngày nào!).

    “Trước khi phong trào tranh đấu Phật giáo phát khởi tại Huế, Mỹ đã quyết định thay thế chính quyền TT Ngô Đình Diệm vì tâm huyết sâu sắc, lòng yêu nước đậm cốt cách liêm khiết Nho phong và cách dùng người nhân hậu của Cụ đã bị nịnh thần, phản thần chuyên quyền lợi dụng…” (thế thì chết là đáng tội, tương xứng lắm rồi!)

    Nhưng còn cái tâm huyết sâu sắc, lòng yêu nước đậm cốt cách Nho phong và sự nhân hậu biết giấu vào chỗ nào?

    Ngô mà như ông Trần “tản mạn” như trên thì cũng đáng “phù” lắm chứ!

  14. Tri Ngộ says:

    Thưa ông Trần Kiêm Đoàn,
    Tôi đọc bài của ông và tôi rất sung sướng nhận thấy là trong Cộng đồng chúng ta ở hải ngoại cũng còn có những người có cái nhìn như ông và đã để thì giờ viết lên cái nhìn đó, chia sẻ cùng mọi người. Xin cảm ơn talawas đã tạo duyên cho một bài như thế này được đăng lên.
    Theo tôi, chiến tranh VN đã gây ra quá nhiều khổ đau và những người Việt ở hải ngoại căm thù người CSVN, theo tôi nghĩ, còn đông lắm. Điều này không có gì sai quấy. Cái sai quấy là có nhiều người như ông Liên Thành, vì có thể bị hận thù dẫn dắt, hoặc vì bất đắc chí, hoặc vì có một hidden agenda (chương trình/mục đích thầm kín) nào đó, đã có thể vô tình vì cái nhìn chưa được trung thực mà “xâm phạm nhân phẩm người khác” qua ngòi bút của mình.
    Một điều chắc chắn, người CSVN hiện nay, nhất là những đảng viên cầm quyền, họ đang bị đồng tiền và quyền lực làm hoa mắt và với một quân đội hùng mạnh có đầy vũ khí trong tay, họ đang ép cả dân tộc đi theo một con đường tối tăm và đầy chông gai. Cộng đồng VN ở hải ngoại, theo tôi, được may mắn có đầy đủ tự do, có thể nên tự tạo cho mình cái bổn phận tiếp tục nói lên những bất công hiện nay ở VN, và cùng cố gắng tạo nên những điều kiện tốt để có thể ngồi lại với nhau và đoàn kết nhau hơn. Những quyển sách và bài báo như quyển BĐMT của ông Liên Thành chỉ đổ thêm dầu vào lửa, lửa thù hận vẫn còn rừng rực cháy trong lòng một số người xa quê.

  15. tntc says:

    Ah ha ha! Brrrrrrraaaaaaaaavvvvvvooooo!
    Hai chàng trai xứ Huế đã gặp nhau trên sân cỏ. Quan võ TT Liên Thành gặp quan văn TS Trần Kiêm Đoàn. Trận đấu mở màn cực kỳ hấp dẫn! Lão cầu thủ Liên Thành lừa bóng từ phải qua trái, từ khung thành địch đến ta như vào chỗ không người. Muốn sút vào khung thành cú nào tùy ý. Bỗng lão cầu thủ Trần Kiêm Đoàn ở đâu bất đồ phóng ra sân, xuất tuyệt chiêu tấn công khung thành đối phương dữ dội…
    Phải nói là từ mấy tháng qua, Liên Thành đã khuấy động được dư luận với tác phẩm Biến động miền Trung vì sự đả phá Phật giáo rất mạnh mẽ tuy tính thuyết phục còn yếu. Đã có một vài bài phản biện nhưng chưa gây được ấn tượng mạnh nơi người đọc. Nay bài phản biện của Trần Kiêm Đoàn mới đúng là bài mà mọi người đang chờ đợi.
    Đây là một bài viết rất hay về cả nội dung sâu sắc lẫn văn phong đẹp và trôi chảy như thơ.
    Qua bài này, có vẻ như Trần Kiêm Đoàn đánh Liên Thành thành hết chiêu khi dám đem những chi tiết đời tư của chính mình làm cơ sở phản biện và dẫn chứng.
    Đọc Biến động miền Trung của Liên Thành và đọc bài góp ý của Trần Kiêm Đoàn, ta có cảm tưởng như đây là một cuộc đối đầu không cân sức. Liên Thành thiên về lối kể chuyện luộm thuộm và bình dân. Trần Kiêm Đoàn thì sắc bén và uyên bác.
    Có lẽ trận đấu chỉ mới mở màn. Chờ xem những cú sút tung lưới của cả hai bên trên sân cỏ sắp đến.

    TN Tố Cần

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả