talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Đôi điều với Liên Thành về “Biến động miền Trung”

03/11/2009 | 10:00 sáng | 31 Comments

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Category: Chiến tranh Việt Nam, Tôn giáo
Thẻ: > >

Sau hơn 30 năm ra nước ngoài im hơi lặng tiếng, gần đây ông Liên Thành, cựu thiếu tá trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế, viết hồi ký nói lên những gì ông biết về tình hình chiến tranh, chính trị và xã hội tại miền Trung Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1963 đến 1975.

Được tin Liên Thành sẽ ra mắt sách tại Sacramento, thành phố thủ phủ tiểu bang California vào đầu tháng 11 năm 2009. Đang là một cư dân tại thành phố này, tôi xin gởi lời chào Liên Thành, một đồng hương xứ Huế và cũng người đồng trang lứa với tôi. Trước cùng lớn lên và đã sống hơn nửa đời trong khung trời Huế và nay trong cảnh “tha hương ngộ cố tri!”

Tập sách Biến động miền Trung (viết tắt BĐMT) và những bài viết của Liên Thành về một số nhân vật thành danh xứ Huế đã tạo nhiều dư luận xôn xao trong cộng đồng người Việt hải ngoại.  Xôn xao, bởi vì về mặt tâm lý, khát vọng lý giải hậu quả bi thảm của cuộc chiến Việt Nam đã trở thành một nỗi ám ảnh thường trực và chung thân đối với tập thể người Việt tỵ nạn ở nước ngoài. Sự phân định, xác quyết, chỉ danh điểm mặt hai tuyến nhân vật thiện–ác, chánh–tà trong cuộc tương tranh ba mươi năm đầy máu lệ là một nhu cầu tình cảm, tâm lý và tri thức của cả một thế hệ đang lần bước đến tuổi già, đang từng tháng, từng ngày thay phiên nhau về đất.

Trong một tiến trình truy tìm bằng chứng, phân tích, lý giải để tìm câu trả lời cho một vấn đề, nếu chỉ đứng về mặt phương pháp luận thì Đông–Tây rất khác nhau. Người phương Tây thiên về lý, phương Đông ta thiên về tình; phương Tây thường lý luận và chứng minh bằng dữ kiện khách quan độc lập, phương Đông ta thường suy diễn bằng cảm nhận và kinh nghiệm chủ quan tập thể. Xác định điều này để nói lên sự dè dặt và cẩn trọng cần thiết về tính khả tín – mức độ đáng tin cậy – khi đọc và tìm hiểu một bản tin thời sự hay một tác phẩm liên quan đến tình hình thời cuộc như Liên Thành và BĐMT.

Qua những điều Liên Thành đã viết và đã nói trên đài phát thanh, trong các buổi hội luận thì chi tiết này kia có chỗ khác nhau, nhưng nội dung và chủ đích chỉ có 3 điều nổi rõ hơn cả:

Thứ nhất, Liên Thành đã cố gắng tạo ra một bối cảnh xuất thân đầy sôi động về vai trò và quyền lực cá nhân trong vị thế trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế quá nhỏ bé và giới hạn của bản thân mình trong bối cảnh chung của toàn đất nước bằng một thế giới thiên hình vạn trạng của lĩnh vực “tình báo”. Đó là một thế giới của mê hồn trận mà trong lịch sử chiến tranh và chính trị kim cổ, cho đến nay, con người vẫn còn hoang mang trong vấn nạn nhiều hơn là giải đáp vì nó dày đặc huyền thoại nhiều hơn là dữ kiện.

Thứ hai, Liên Thành đã cố ý cột buộc và đồng hóa phong trào đấu tranh Phật giáo 1963 và các hoạt động của Phật giáo trở về sau đều là cộng sản. Theo ông, các nhà sư Phật giáo trong hàng giáo phẩm lãnh đạo phong trào là đảng viên cộng sản. Từ đó, ông suy luận và diễn giải rằng, các sinh hoạt Phật giáo có liên quan gián tiếp hay trực tiếp với một tình hình xã hội miền Nam thời chiến đầy biến động là do cộng sản Việt Nam (CSVN) điều khiển, giật dây. Tự phong cho mình vai trò phán quan của một kiểu tòa án mặt trận thời chiến pha trộn với hình thức ngôn ngữ của các cuộc đấu tố, Liên Thành cho mình quyền tự do mạ lỵ không tiếc lời các đối tượng mà ông đã “phán” là cộng sản.

Thứ ba, Liên Thành đã tự mình, cùng lúc, đứng ra làm thủ lãnh, chứng nhân, nạn nhân, quần chúng… của một thế giới ma để ông tha hồ gắn lên môi, lên mép, lên nhân dáng tưởng tượng của những người đã nằm im trong lòng đất những lời nói, ý tưởng, động thái, chứng tích không thể kiểm chứng và không còn ai đối chất. Từ đó, ông đã đơn giản yên trí rằng, ông đã “đả thông tư tưởng”, thuyết phục được độc giả và người nghe đứng về phía ông để cho đấy là “sử liệu sống” của thời nay.

Tìm hiểu phản ứng của một số người giới hạn có dùng internet và đọc sách báo tiếng Việt thuộc mọi thành phần xã hội, tôn giáo, có biết đến Liên Thành và BĐMT thì được biết thái độ của họ đã thể hiện trong nhiều cách thế khác nhau:

  • Những người tin những điều ông nói là đúng sự thật và lên tiếng thì đứng khắp mọi phía bên này, bên kia; đằng này, đằng nọ, nên kết luận phía này lắm lúc trở thành câu hỏi của phía khác.
  • Những người cho Liên Thành là dối trá thì phản ứng lạnh nhạt. Họ cho rằng đây chẳng qua là một cuộc đánh trống khua chiêng của Liên Thành tự quảng cáo mình một cách dễ dãi phù hợp với bản chất cố hữu của ông từ trước tới nay với sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhóm “Phù Ngô phục hận” đầy bản lĩnh đang đứng ở hậu trường (?!)
  • Những người có quan tâm mà im lặng thường không phải là họ không biết, nhưng chỉ vì vấn đề và hoàn cảnh chẳng đáng quan tâm nên không đáng nói mà thôi.

Trong giới hạn của một bài viết ngắn dưới hình thức “đôi điều góp ý”, thay cho lời chào hỏi xã giao khách phương xa đến viếng vùng mình, người viết không có tham vọng và có lý do đứng ở một vị trí nào đó để làm công việc biện minh không cần thiết và phán xét chưa đủ căn cứ cho các nhân vật và hoàn cảnh đã được nêu lên trong BĐMT. Những nhân vật lịch sử và những ván bài thời cuộc xin trả về cho lịch sử sẽ phán xét công bằng và chung quyết. Đây chỉ là đôi lời dấy lên như một phản ứng “qua đường thấy việc bất bằng chẳng tha” mà thôi. Xin đi vào nội dung:

Điệp báo và nói láo

Đó là nhan đề cuốn sách Of Spies and Lies của John F. Sullivan viết về mặt trận tình báo trong chiến tranh Việt Nam. Nội dung cuốn sách đã trực tiếp hay gián tiếp nhắc đến nhiều trường hợp các nhân sự Việt Nam trong giới thường dân, công chức, cảnh sát, quân đội… làm cộng tác viên, điểm chỉ viên với các đơn vị tình báo của Mỹ đã bị các đơn vị đặc nhiệm phản tình báo của CSVN đánh tráo tin tức. Sự đánh lừa trong nhiều trường hợp đã tạo ra những nguồn tin sai lạc nhằm gây mâu thuẫn, phân hóa, chia rẽ, hạ bệ và bôi đen phẩm cách của những nhân vật “bị” nổi tiếng mà xét ra không có lợi cho ý đồ lâu dài trong sách lược chiếm trọn miền Nam của họ. Giới tình báo hành chánh bị lừa ngồi trong công sở và bàn giấy chỉ việc rung đùi nghe báo cáo từ các cộng tác viên, yên trí lớn là đã “nắm vững tin tức tình báo” để phản ứng. Thái độ chấp nhận vấn đề – dối trá hóa thật – mà cứ mang ảo tưởng là nắm vững và giải quyết được vấn đề đã góp phần tạo nên những tai họa cho địa phương và cả miền Nam sau này.

Đọc phần nói về vai trò tình báo bao quát trong mọi lĩnh vực, thấu suốt mọi vấn đề, nắm vững mọi hoàn cảnh, thấy được mọi ngõ ngách bao gồm luôn cả ta, địch và đồng minh của Liên Thành trong BĐMT, người đọc có cảm tưởng như đang coi truyện võ hiệp kỳ tình. Trong đó, chưởng môn Liên Thành ngồi trong trướng võ đàn mà thấy hết hoàn toàn thiên hạ sự. Vì vậy, có thể tạm gọi BĐMT là một tập “hồi ức tạp ghi”… nghĩ chi nói nấy của tác giả Liên Thành; còn rất xa mới đủ tính khả tín của chứng tích và sử liệu.

Được biết Liên Thành lên tiếng là chỉ chấp nhận tranh luận “sự nghiệp tình báo” của ông với những người ở trong lĩnh vực tình báo mà thôi (?!). Riêng kẻ viết những dòng này chẳng thuộc nòi hổ báo, tình báo gì cả; nhưng chưa hẳn là kẻ “ngoại đạo” trong lĩnh vực này. Không biết nên chăng cần hé chút tâm sự riêng rằng, tôi đã từng dịch những hồ sơ “classified” cho Peter Downs, giám đốc cơ quan xã hội Tin lành Việt Nam (VNCS: Vietnamese Christian Social Services) suốt mấy năm liền song song với nghề dạy học. Sau này mới biết ông ta là cục phó CIA đặc trách miền Trung. Vì chỉ “dịch nhi bất tác” nên sau 1975, tôi chỉ bị đuổi dạy, lái xe lam mà khỏi đi tù.  Tôi có hai người anh ruột. Ông anh cả là chỉ huy trưởng lực lượng Biệt kích Dù lần lượt ở các trại Biệt kích trọng điểm như Thượng Đức, Khâm Đức và Khe Sanh, gắn liền số phận sinh tử với các tổ nhảy toán tình báo vào đất địch. Anh đã tử trận ở Khe Sanh năm 1967 – “Biệt kích Dù vị quốc vong thân!” Ông anh thứ hai cũng ở trong lĩnh vực tình báo của quân lực Việt Nam Cộng hoà (VNCH), làm ở phòng an ninh Không đoàn 41. Thời gian làm việc với P. Downs và hoàn cảnh anh em chia sẻ, thông tin thường xuyên cho nhau đã giúp tôi học hỏi, làm quen và có được cái nhìn không ảo tưởng về một thế giới mà người khí tiết, kẻ gian tà, nhóm trung thành, phường phản bội biến hiện, quần thảo nhau như bóng với hình thường khó lòng phân biệt. Đó là thế giới tình báo hay nhân danh tình báo. Và, thêm vào đó, bản thân tôi cũng là chuyên viên điều tra tòa án (court investigator) về các hồ sơ tội phạm ngược đãi thanh thiếu niên thuộc chương trình CPS của chính phủ Hoa Kỳ trong suốt 18 năm công tác liên tục tại Sacramento.

Học hỏi và kinh ngiệm đã chỉ cho tôi biết rằng, đánh giá kết quả tình báo, điều tra là nhìn vào thành quả chứ không thể căn cứ vào hiện tượng chiến thuật và sách lược biểu hiện đầy vẻ “dung dăng, dung dẻ” biến hiện không lường trên bề mặt nổi. Kiểu cách dùng lời lẽ đại ngôn để vẽ hươu, vẽ vượn cốt làm hoa mắt thiên hạ về những điều vừa mâu thuẫn, vừa không thể nào chứng minh được là một lối diễn xuất phường tuồng, chẳng dính dáng gì đến tổ chức tình báo và tác dụng của tình báo đích thực cả.

Hoàn cảnh thực tế của Thừa Thiên Huế trong thời kỳ Liên Thành làm trưởng ty cảnh sát chỉ còn cái lõi thành phố là tương đối còn an ninh trong phập phồng lo sợ. Có thể nói đây là thời kỳ tệ hại nhất về mặt an ninh của xứ này. Chiều chiều, từng đoàn người dân quê trong độ tuổi lao động từ các vùng nông thôn phải đạp xe đạp lên thành phố ngủ trọ qua đêm. Bốn phía đều trở thành những vùng xôi đậu, ngày Quốc gia, đêm Việt cộng. Đi xe đạp rời khỏi cột cờ Phu Văn Lâu chừng 10 phút ra khỏi giới hạn An Hòa, Bao Vinh, Chợ Dinh, Dạ Lê, Thủy Xuân, Phường Đúc… sau chạng vạng tối là đã nơm nớp lo sợ du kích cộng sản bắt cóc hay bắn sẻ bất cứ lúc nào.

Trong cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968 của CSVN trên toàn miền Nam thì Huế bị rơi vào tình trạng thê thảm nhất. Trên 5000 người dân vô tội bị thảm sát. Theo các nguồn thông tin đáng tin cậy thì thủ phạm điểm chỉ bắt người và giết người là những giao liên du kích cộng sản nội thành mà phần đông trước đó, đã quen đường thuộc lối, lên núi và về đồng bằng; vào thành phố Huế dễ dàng như đi chợ. Nếu Liên Thành có một mạng lưới tình báo “cái gì cũng biết” như ông nói thì thực tế đau thương của Huế tự nó đã phản bác nghiêm khắc lời tự phong vu vơ, hoàn toàn thiếu căn cứ của ông. Theo tác giả chuyên nghiệp tình báo về cuộc chiến Việt Nam, James J. Wirtz, viết trong sách Tổng công kích Tết: Sự thất bại của tình báo trong chiến tranh (The Tet Offensive: Intelligence Failure in War) thì tình báo Mỹ đã biết trước cuộc tổng công kích này từ tháng 11 năm 1967, nhưng chưa xác định được ngày giờ đích xác. Sự thất bại của tình báo Mỹ bắt nguồn từ sự thất bại của tình báo Việt Nam, mặc dầu đã biết trước sự cố từ hơn 3 tháng trước.

Sự đại ngôn thái quá của Liên Thành trong lĩnh vực tình báo đã gây tác dụng ngược cho các chi tiết về những nhân vật và hoàn cảnh mà ông đã đưa ra với dụng ý chứng minh, phân loại và phê phán theo quan điểm tố cộng cực đoan và bất nhất riêng của mình. Mức độ đáng tin cậy về tính chất thiện, ác; chánh, tà của người và việc trong BĐMT cũng theo sự thổi phồng sai sự thật đó mà rơi xuống mức độ thấp nhất, hay trong nhiều trường hợp đã bị hiểu ngược lại. Chào mừng Liên Thành đến Sacramento, tôi chỉ muốn nhắc với người anh em đồng hương, đồng tuổi, thuộc dòng dõi quý tộc triều Nguyễn rằng, bản chất của tình báo là sự thông minh (intelligence) chứ chẳng phải là ngược lại.

Trả lời và câu hỏi

Như đã xác định theo tiêu đề của bài viết, đây chỉ là đôi điều góp ý ngắn gọn. Muốn phân tích và chia sẻ cho thấu tình đạt lý về vấn đề BĐMT với Liên Thành thì ít nhất cũng cần vài ba trăm trang như có người đã viết, vì nó liên quan đến quá nhiều nhân vật, nhiều sự cố đã thành cố sự.  Do đó, tôi chỉ đi thẳng vào trọng tâm của vài ba vấn đề tiêu biểu.

Trước hết là vấn đề Phật giáo với cộng sản. Phật giáo Việt Nam (PGVN) – nói chung chứ không phải là Giáo hội PGVN thân chính quyền đang hiện diện trong nước – cơ bản theo tinh thần Đại Thừa. Đạo Phật đi vào cuộc đời hiện thực nên có sự tương tác tùy duyên giữa đạo và đời; đời và đạo. Tinh thần nhập thế của đạo Phật Việt Nam đã được thể hiện hài hòa từ thời Lý Trần. Vua Trần Nhân Tông là một thiền sư. Nhưng khi cần, vua cũng cầm quân ra trận đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Khi thanh bình trở lại, vua treo kiếm, coi chuyện công danh như đôi dép bỏ, lên Trúc Lâm Yên Tử tu hành giác ngộ. Đạo Phật Việt Nam uyển chuyển như một dòng sông; đi song song với dòng lịch sử dân tộc nên phải chảy qua những chặng đường quanh co, khúc khuỷu theo vận nước thăng trầm. Nhìn đạo Phật mà chỉ nhìn vào một giai đoạn, một bộ phái, một tổ chức hay một phong trào riêng lẻ nằm trong toàn thể sinh hoạt Phật giáo, rồi vội vàng kết luận đạo Phật như thế này, như thế kia… là nhìn biển qua sóng, nhìn sông qua bèo; nên có nhìn mà không thấy!

Khi Việt Minh (tiền thân CSVN) dấy lên phong trào toàn quốc chống Pháp vào mùa Thu năm 1945, những người Việt Nam yêu nước không phân biệt khuynh hướng, thành phần, giai cấp xã hội đều lên đường tham gia kháng chiến. Lịch sử còn ghi lại những hình ảnh cảm động của xóm đạo Tha La. Tuy đạo Thiên Chúa chịu nhiền ân nghĩa với Pháp, nhưng năm 1946, thanh niên xứ đạo Tha La bỏ ruộng vườn, xóm đạo lại đằng sau; Linh mục Nguyễn Bá Kính cũng cởi áo lên đường cứu nước. PGVN với lịch sử gắn liền với vận nước nên nhiều nhà sư từ Bắc chí Nam cũng đã tham gia những phong trào cứu quốc nên đã bị Pháp gọi là “Giặc Thầy Chùa”.

Sau thời kỳ Việt Minh trở thành CSVN thì sự hệ lụy giữa tôn giáo và chính trị kéo dài khi nổi, khi chìm; nhưng chưa bao giờ đạo Phật quay lưng với đất nước và dân tộc.

Trong BĐMT, Liên Thành đã nhìn thấy cộng sản khắp nơi. Điều này đúng. Khắp miền Nam, từ phủ tổng thống đến các nha, sở, bộ; trường học, chùa chiền, tu viện; thậm chí tư thất, tư dinh đều có cộng sản len lỏi vào. Liên Thành chọn bối cảnh cho “biến động miền Trung” bằng cách cắt một mảnh cuối cùng trong cuộc chiến Việt Nam từ 1963 đến 1975. Nghĩa là từ khi có phong trào tranh đấu Phật giáo và Ngô triều bị sụp đổ cho đến khi CSVN chiếm hết miền Nam.

Nội dung và chủ đích chính của Liên Thành và cái “Think Tank” (bồn trí tuệ) sau lưng ông là trang hoàng, sơn phết, làm đầy cho một cái khung định kiến đã đúc sẵn. Cái khung khép lại chỉ đơn giản như thế này:

Phật giáo + Cộng sản = Đảo chánh nhà Ngô + Mất miền Nam

Đó là… cứu cánh của cách đặt vấn đề trong BĐMT. Mọi phương tiện dầu đúng, dầu sai, dầu hay, dầu dở đều là phương kế khả thi nếu nó phục vụ cho cứu cánh đã đặt định. Điều khó hiểu nhất đối với một người đọc trung bình là có chăng trăm nghìn sự kiện mâu thuẫn và cách hành xử nghịch lý như những điều Liên Thành đã diễn tả trong BĐMT đã thực sự diễn ra tại miền Nam?  Những thắc mắc chính đáng của độc giả đã thể hiện qua những câu hỏi cụ thể, đại khái như:   Tại sao một trưởng ty cảnh sát nhỏ bé như Liên Thành lại có quyền lực khắp nơi, khắp chốn như vậy? Tại sao một nhân viên cấp tỉnh như Liên Thành lại có uy quyền trên cả hàng tổng, bộ trưởng? Tại sao một hệ thống quân giai có kỷ cương như quân lực VNCH lại để cho một viên thiếu tá địa phương như Liên Thành có quyền hành xử tùy tiện và bất chấp như thế? Chỉ có một trong hai bên đúng: Hoặc là giới lãnh đạo quân đội và dân sự miền Nam hoàn toàn vắng bóng; hoặc là Liên Thành nói sai sự thật. Nói cường điệu quá đà toàn những chuyện không thật thì người Huế gọi đó là nói “phách tấu”. Mà lẽ nào người Hoàng phái như Liên Thành lại đi nói điều phách tấu?

Có thể nói những tiết mục hấp dẫn nhất trong BĐMT là những màn “tình báo nổi”. Trong kỹ thuật tình báo kinh điển có nói đến phần nhận diện nhân dáng và quan sát tang vật hiện trường như một nghệ thuật “warm up” (hâm nóng) ban đầu để đo lường phản ứng của nhân vật; chuẩn bị tinh thần cho một tiến trình tra vấn tiếp theo. Nhưng không biết Liên Thành đã tốt nghiệp ở trường tình báo nào mà thường khi lẫn lộn giữa kỹ thuật nhận diện với tiểu xảo coi tướng của các ông thầy bói xem giò gà xứ Huế theo kiểu xếp bộ “mắt trắng môi thâm”, “tai dơi mặt chuột”… để sơ kết bản chất của những nhân vật mà ông sắp sửa kết án (nhưng chưa chắc đã thấy bao giờ). Cũng theo nguyên tắc tình báo quốc tế thì sự lẫn lộn giữa định kiến, cảm tính và lý tính sẽ “nullification” (vô hiệu) kết quả điều tra.

Trong số nhiều khuôn mặt được ông đưa ra tố cộng trong BĐMT, có hai nhân vật Phật giáo được ông chiếu cố tận tình nhất là thầy Trí Quang và thầy Đôn Hậu.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng nhân vật Thích Trí Quang vẫn còn là một đối tượng tham khảo và phân tích của các học viện chính trị, nhân chủng và xã hội quốc tế, nhất là ở Mỹ. Mọi sự suy diễn đơn giản và phiến diện về nhân vật này là một trường hợp “nullification” dữ kiện đáng tiếc mà tôi đã có dịp nói ở trên.

Gần 30 năm trước, lúc mới chân ướt chân ráo đến Mỹ thì tôi đã đọc một bài viết xuất phát từ vùng Tiểu Sài Gòn nói rằng, thầy Trí Quang là trung tá Việt cộng. Ngày CSVN chiếm Sài Gòn, thầy mang lon đội mũ trung tá cầm cờ chạy rông ngoài đường phố hoan hô quân miền Bắc. Tin tức kiểu tiếu lâm AVT đó, nay mới nghe lại Liên Thành lặp lại trong BĐMT! Không có gì thú vị và “xả hơi” hơn khi đọc về nhân vật Thích Trí Quang qua màn tình báo Liên Thành. Nguồn tin tình báo Liên Thành cho rằng, thầy Trí Quang là đảng viên cộng sản. Rằng, thầy là cộng sản gộc, nhận chỉ thị Trung ương Đảng đứng ra sách động phong trào đấu tranh Phật giáo. Đi xa hơn nữa, Liên Thành còn viết là thầy Trí Quang có người yêu già nhân ngãi non vợ chồng là một cô bé làm thị giả 13 tuổi. Có lý nào Liên Thành là cháu của danh tăng Thích Tịnh Khiết lại hiểu tổ chức Phật giáo Huế có tiếng về giới luật khắt khe, nghiêm ngặt một cách quá nông nổi và sai lạc đến như thế. Trong tổ chức Phật giáo làm sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng “thị giả” nữ 13 tuổi bên cạnh một thượng tọa là thế nào? Chưa hết, Liên Thành còn kể là ông đã cãi lệnh tướng tư lệnh cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan, vào lục soát phòng riêng của thầy Trí Quang và tìm thấy một bằng chứng hùng hồn cho sự nghiệp tình báo của ông là một cái xì líp đàn bà. Tưởng tượng vượt quá giới hạn đạo lý sẽ trở thành vô luân.

Thầy Trí Quang là một tu sĩ nổi bật trong cuộc đấu tranh Phật giáo 1963. Thầy được (hay bị?) báo chí Âu Mỹ và Việt Nam khai thác triệt để; hình thầy xuất hiện trên trang đầu của những tờ báo lớn như Time, FP với những lời bình luận nóng hổi. Đa số những bài viết đều có một điểm chung khá tương tự về khuynh hướng dân tộc của thấy Trí Quang: Không lệch theo con đường duy vật vô thần của khối cộng sản; mà cũng chẳng nghiêng về con đường duy linh nhất thần của khối tư bản. Thầy đứng giữa “hai lằn đạn”. Bên tả cho thầy là CIA, bên hữu cho thầy là cộng sản.

Biến động 1966 phát xuất từ nguồn gốc là người Mỹ đã chuyển hướng biến miền Nam thành kho súng đạn sau khi xoa tay bức tử triều đại Ngô Đình. Mỹ không muốn mất thời gian tái tổ chức một xã hội miền Nam theo mẫu mã dân sự ổn định như Hoa Kỳ mà nóng lòng muốn dứt điểm cuộc chiến Việt Nam để ôm Trung Quốc bằng cách quân đội hóa toàn miền Nam. Mỹ là chuyên viên dựng lên những chính quyền quân sự ở các nước chậm tiến và bất ổn như một sự dằn mặt giới lãnh đạo đương quyền do Mỹ hỗ trợ rằng, hãy khôn hồn, đảo chánh và lật đổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tại sao một miền Nam đang đối đầu với một đối thủ có bộ máy chính trị quá chặt chẽ như miền Bắc mà đồng minh Hoa Kỳ lại áp dụng một sách lược “ăn xổi ở thì” như vậy?   Những chính khách miền Nam chống cộng không nằm trong guồng máy hành chánh quân sự đều có chung mối quan ngại như thế.

Thầy Trí Quang và một số các nhà sư Phật giáo đã đứng lên đòi hỏi một hiến pháp và một sách lược mới thích hợp cho chính thể VNCH ổn định và có thực lực tại miền Nam trong thời điểm 1966 là đi ngược lại sách lược của Mỹ đang triển khai tại vùng châu Á Thái Bình Dương. Đồng thời, CSVN cũng thấy được nguy cơ của một miền Nam ổn định. Trong lúc đó, Kissinger đang đi đêm thương thuyết với Bắc Kinh và thuyết phục nội các Johnson bỏ rơi miền Nam. Vô hình chung, nhân vật Trí Quang trở thành đối đầu cùng lúc với cả Mỹ lẫn CSVN. Và khi Mỹ đã bật đèn xanh với túi đô la lè kè bên cạnh thì dẫu cho họ có muốn sông cạn núi mòn trong chớp mắt cũng chẳng có gì là khó. Đã có quá nhiều tài liệu công bố nói rằng, Mỹ đã cho nhân vật Trí Quang một trong ba sự chọn lựa là: Im lặng bó tay vào chùa dịch kinh niệm Phật, lưu vong sang Hoa Kỳ hay về thăm… cụ Diệm (?!)

Trong suốt 40 năm qua, thầy Trí Quang sống yên lặng trong chùa, “thủ khẩu như bình, thủ ý như thành”. Tất cả về thầy Trí Quang sau 1975 mà tôi được biết là hai tác phẩm dịch thuật. Một là bản dịch Kinh Kim Cương, 263 trang, do Mai Lan Lệ Ấn hải ngoại ấn hành năm 1987. Hai là bản dịch Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, 1162 trang, cùng nhà xuất bản năm 1996.

Nhân vật thứ hai được Liên Thành mang ra trình làng là thầy Đôn Hậu. Hành tung và sự nghiệp của thầy được Liên Thành mô tả trong BĐMT thảy đều là “Việt cộng toàn ròn”. Rốt lại còn “dễ sợ” hơn là thầy Trí Quang!

Ông Đỗ Trung Hiếu, bí danh Mười Anh, người Quảng Trị, đảng viên cộng sản thâm niên, được Đảng giao làm công tác tôn giáo vận, một thời là kiến trúc sư Phật giáo Nhà nước, đã khách quan nhận định rằng, thầy Đôn Hậu bị phe cách mạng cưỡng ép đưa lên núi sau vụ Tết Mậu Thân ở Huế và đem ra Hà Nội trong thời gian chiến tranh, gán cho chức Ủy viên Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam; năm 1976 là đại biểu Quốc hội khóa 6 và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc. Nhưng một thời gian sau, để phản đối việc chính quyền cộng sản đàn áp Phật giáo ở miền Nam, thầy Đôn Hậu đã công khai bằng văn thư từ bỏ hết mọi danh vị và chức tước bị gán nói trên. Thầy cực lực chống đối việc thống nhất Phật giáo thành Phật giáo Việt Nam (thường gọi là Phật giáo Nhà nước hay Phật giáo Quốc doanh) để làm công cụ chính trị cho Đảng Cộng sản. Thầy giữ vững lập trường này cho đến ngày viên tịch (23.4.1992). Ý hướng của thầy đã biến thành hành động cụ thể. Cuối đời, thầy Đôn Hậu đã phó thác ấn tín lãnh đạo Phật giáo Việt Nam Thống nhất (PGVNTN) lại cho thầy Huyền Quang.

Trong truyền thống Phật giáo, truyền y bát cho nhân vật lãnh đạo kế thừa đồng nghĩa với sự phó thác tâm phúc nhất niềm tin và lý tưởng vào sự nghiệp hành đạo độ sanh của người kế vị. Với ý nghĩa đó, tưởng cũng nên khách quan tìm lại những nét tiêu biểu nhất về chí hướng của nhân vật thừa kế thầy Đôn Hậu trong PGVNTN. Trong cao trào kháng chiến chống Pháp năm 1945, như tôi đã lược trình ở trên, thầy Huyền Quang tham gia Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5 trong những ngày đầu của cao trào yêu nước chống ngoại xâm. Năm 1951, thầy bị Việt Minh lúc bấy giờ đã biến tướng thành CSVN bắt giam lỏng 4 năm vì phản kháng quyết định độc đoán biến Phật giáo thành hội đoàn của cộng sản. Năm 1963, thầy Huyền Quang là tổng thư ký của Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, làm việc trực tiếp với Uỷ ban Liên bộ của chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Năm 1977, thầy Huyền Quang bị CSVN bắt biệt giam cùng với các thầy Thiện Minh và thầy Quảng Độ. Năm 1992, sau khi được sự phó thác của thầy Đôn Hậu trở thành người lãnh đạo kế nhiệm của PGVNTN, thầy Huyền Quang đã viết yêu sách 9 điểm, nêu lên những sai lầm của nhà cầm quyền và yêu cầu nhà nước CSVN phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Kết quả là thầy đã bị CSVN quản chế cho đến ngày viên tịch (5-7-2008). Ngoài ra, những tu sĩ Phật giáo ở vị thế lãnh đạo khác trong phong trào đấu tranh Phật giáo mà Liên Thành cho là do cộng sản dựng lên cũng đã bị CSVN ngược đãi, giam cầm như: Thầy Thiện Minh (chết bí mật năm 1978 sau thời gian bị giam cầm). Thầy Quảng Độ, thầy Đức Nhuận cũng bị tù tội triền miên.

Một nhà văn nào đó đã kêu lên: “Trong cảnh tranh tối tranh sáng này, anh em nhìn rõ mặt nhau thật khó!” Nhìn rõ nhau đã khó, phán xét đúng càng khó hơn.

Đôi điều với Liên Thành

Sau 35 năm im lặng, khi Liên Thành lên tiếng để xác nhận sự hiện diện của mình nơi đất khách thì tiếng nói của ông cũng đã lạc hậu mất 30 năm! Những ngày đầu sau 1975, người dân miền Nam hầu hết đều ngỡ ngàng trước thực tế. Câu hỏi lớn nhất vẫn là tại sao quân lực VNCH với phương tiện thủy, lục, không quân còn nguyên vẹn lại phải bị bức tử bỏ cuộc?

Khi ra nước ngoài, những thư viện lưu trữ tài liệu về chiến tranh Việt Nam phần lớn nghiêm túc và đáng tin cậy trong các trường đại học Mỹ mà tôi đã theo học và giảng dạy; kết hợp với phương tiện truyền thông đại chúng tại các nước tự do Âu Mỹ về Việt Nam phong phú đã giúp tôi tìm hiểu sự thật nên xin được bày tỏ sự bất đồng hoàn toàn với những điều mang tính “hồi ức” và suy diễn theo cảm tính bốc đồng của Liên Thành trong BĐMT. Sự kiện lịch sử đã nói lên quá rõ rằng, đồng minh Hoa Kỳ đã bỏ miền Nam vì quyền lợi của chính đất nước họ với đối tác mới Mỹ-Trung; cũng như trước đó, họ đã quyết định thay ngựa giữa dòng với chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm. Mỹ đã thực hiện rốt ráo nguyên tắc chi phối chính trị của họ trên toàn thế giới: Ai làm chủ túi tiền, người đó là vua. Chiến tranh và chính trị cũng chỉ là một hình thức “thương vụ” quốc tế. Có lời thì tiếp tục kinh doanh mà thua lỗ thì dẹp tiệm. Khi Mỹ đã quyết định thì họ đóng vai nguyên nhân, tất cả còn lại chỉ là nguyên cớ.

Trước khi phong trào tranh đấu Phật giáo phát khởi tại Huế thì Mỹ đã quyết định thay chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm vì tâm huyết sâu sắc, lòng yêu nước đậm cốt cách liêm khiết Nho phong và cách dùng người nhân hậu của Cụ đã bị nịnh thần và phản thần chuyên quyền lợi dụng. Nhất là ở miền Trung, tham vọng quyền lực và vật chất của thế lực gian thần ngày càng tác oai tác quái đã làm mờ đi chính nghĩa của cụ Ngô. Niềm tin khô cạn, nhân tâm lý tán. Thực trạng này làm chậm bước tiến chinh phục ảnh hưởng toàn vùng châu Á Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nên sự thay thế lãnh đạo là điều không tránh khỏi. Khi đèn xanh đèn đỏ của phú ông chi tiền đã chớp thì nếu không có phong trào Phật giáo này, cũng sẽ có vô số những phong trào tương tự khác, mang biển hiệu và màu sắc khác rộ lên.

Ngày 29-3-1973, cả miền Nam có bóng dáng ông sư bà vãi nào lên tiếng đâu, thế  mà Mỹ vẫn đơn phương hoàn toàn rút quân ra khỏi Việt Nam. Nguyên nhân ở tận Washington DC và Bắc Kinh chứ không phải ở Huế, Sài Gòn hay nằm trong đống hồ sơ vụn vặt của một ông trưởng ty tỉnh lẻ như Liên Thành. Trâu bò đại khánh, ruồi muỗi đánh nhau. Thảm trạng của thân phận nhược tiểu xưa nay là thế.

Hoặc vì không đầu tư học hỏi nghiêm túc, không chịu tham khảo tới nơi tới chốn; hoặc vì một động cơ khó hiểu hay dễ dãi nào khác đã khiến Liên Thành đang đứng ở ngã tư thế giới nhưng vẫn tưởng như còn đang đứng ở Ngã Ba Bánh Bèo xứ Huế “mô rứa răng ri, thích chi noái nấy” qua 400 trang của BĐMT! Vì không dụng công, Liên Thành đã nhìn Phật giáo qua nhãn quan một chiều, qua sự hiểu biết giới hạn và qua nhận thức đóng khung của một viên cảnh sát trưởng địa phương. Liên Thành đã mang định kiến xào trộn với mớ hồ sơ vi cảnh và cái gọi là “tình báo” đầy hoang tưởng để cột buộc Phật giáo với cộng sản.

Hồi ký của những nhân vật trùm cuộc chiến Việt Nam, có đủ kiến văn, dữ liệu và thẩm quyền để nói như McNamara (viết trong In Retrospect), Kissinger (trong Diplomacy), Rusk (trong As I saw It), Nolting (trong From Trust to Tragedy)… Hay gần gũi với thế giới người Việt hơn là các hồi ký của hơn 20 nhân vật người Việt đã từng ở vị thế lãnh đạo trong cuộc chiến và thời kỳ cận đại, từ cựu hoàng Bảo Đại (Con rồng Việt Nam) viết về thời kỳ 1913-1987; đến tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cố vấn cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, (Khi đồng minh tháo chạy) viết về giai đoạn Mỹ tham chiến ở Việt Nam cho đến năm 1975 là những tư liệu lịch sử và chính trị đáng tham khảo. Thế nhưng khi viết về những sự kiện có liên quan đến thời kỳ biến động trong cuộc chiến và phong trào Phật giáo thời 1963 vẫn còn nhiều dè dặt và giới hạn. Tác giả cũng như độc giả khi được phỏng vấn, đều có chung sự suy nghĩ rằng, những hình ảnh và chứng liệu cụ thể nặng tính dữ kiện và sử liệu khoa học vẫn còn chưa đủ tầm cỡ để nhận định và đánh giá chân xác, khách quan về bối cảnh và nhân vật liên quan đến những cuộc biến động miền Trung. Mớ tài liệu nhếch nhác chạy giặc mang theo, tầm hiểu biết hạn chế, vị trí nhỏ bé và hồi ức tuổi già của Liên Thành đã đưa ông đến chỗ can đảm một cách thảm hại không đúng thời, đúng chỗ, đúng đối tượng đã làm cho độc giả, ngay cả những chiến hữu một thời thân cận nhất của ông, thất vọng.

Đây chưa phải là bài điểm sách và cũng chẳng phải là bài phản hồi nghiêm túc tương xứng với vấn đề đặt ra mà chỉ là đôi điều góp ý.

Cũng xuất thân là một người con trai đàn ông Huế như Liên Thành, điều góp ý gần gũi nhất là những gì liên quan đến quê hương xứ sở mình. Huế nghèo nhưng thanh bạch. Thanh bạch trong cách sống và trong lời nói. Người bốn phương yêu Huế vì cái phong cách Huế mà đặc biệt là sự tao nhã, tính văn hóa và dáng vẻ khiêm cung trong ngôn ngữ. Rất tiếc là Liên Thành rời Huế quá sớm nên không chứng kiến được sự dị ứng và trăn trở của Huế sau ngày miền Bắc thắng trận.  Đó là khi một thiểu số thành phần xuất thân giữ trâu, giữ bò vô học trở thành người chiến thắng, có chút thế lực trong tay ngông nghênh dùng lời lẽ hạ cấp bất xứng với người thất thế. Những người này đã gọi là “thằng”, là “hắn” là “lũ” là tên này tên nọ tuốt luốt như: “Thằng Thiệu, thằng Kỳ, thằng Mỹ, thằng Ngụy…” với những người đáng tuổi cha ông của mình ở miền Nam bị liệt vào thành phần Mỹ, Ngụy; ngược lại thì cũng tương tự như những người mà Liên Thành liệt vào thành phần cộng sản trong BĐMT. Loại ngôn ngữ hằn học, thô lỗ, thiếu văn hóa đó đã bị không những Huế mà tất cả người miền Nam khinh bỉ và lên án. Dẫu có ngoan cố bào chữa cách nào cũng không ai chấp nhận nên cuối cùng họ phải bỏ đi. Tôi hơi ngỡ ngàng khi bắt gặp loại ngôn ngữ thô bạo này trong BĐMT mà Liên Thành đã dành cho bất cứ ai, kể cả thầy dạy học cũ của mình, các vị tu sĩ Phật giáo cao niên, những nhân vật lớn nhỏ mà ông đã quy kết là cộng sản, theo cộng, hay thân cộng. Xuất thân là một sĩ quan, một sinh viên đại học Huế, một người Hoàng phái danh gia tử đệ mà vô tình ông Liên Thành đã giẫm lên vết chân của những người thuộc thành phần thấp kém từ Bắc mới vô Nam năm 1975 thì quả là điều xót xa và đáng tiếc! Qua Mỹ đã hơn 30 năm và đã từng làm trong nghề an ninh trật tự xã hội, ông Liên Thành cũng hiểu ít nhiều về nguyên tắc luật lệ và trật tự của một xã hội có văn hóa và văn minh: Dẫu là người phạm tội rành rành nhưng chưa có phán quyết của tòa án thì vẫn còn là nghi can. Nhưng cho dẫu là tội phạm chăng nữa thì cũng phải đối xử công bằng và nhân bản. Lẽ nào Liên Thành không biết hay quên?

Được hân hạnh đón Liên Thành về thăm vùng đất tỵ nạn của mình đã sống trong hơn hai chục năm qua, tôi chỉ ước mong những người cùng thế hệ, cùng chịu chung nỗi vinh nhục của quê hương gặp nhau, nhìn nhau và thấy được nhau.

Là một Phật tử độc lập, tôi chỉ biết theo giáo lý nhà Phật để tự giáo hóa chính mình tìm sự an lạc như phần đông các Phật tử xuất gia và tại gia khác. Có thêm được chỗ dựa tinh thần và năng lực hóa độ của tăng ni đạo cao đức trọng vẫn là ân đức mong tìm của người Phật tử. Cho nên tôi vẫn thường lặp đi lặp lại hoài như một lời tâm niệm về hình ảnh đạo Phật là một biển thái hòa an lạc. Nước của trăm nguồn đổ về biển cả, dẫu cho trong sạch hay dơ bẩn đến mức độ nào thì cuối cùng cũng được hóa giải. Trên đường tìm cầu học hỏi, chúng tôi không ngây thơ cho rằng, tất cả tăng ni qua hình tướng đầu tròn áo vuông đều là thánh tăng hay chân tăng. Nhất là trong thời đại “kinh tế thị trường” vàng thau lẫn lộn này thì nhìn rõ chân tướng của nhau thật khó. Ai không an trú trong giới luật, sẽ thọ lãnh nghiệp quả của mình. Tiền thân của đức Phật là bồ tát Thường Bất Khinh. Gặp bất cứ ai, ngài cũng cất một lời khiêm tốn: “Thưa ngài, tôi không dám coi nhẹ ngài vì ngài là một đức Phật tương lai!” Nhân danh là những nguời Phật tử, chúng ta có thể nói với nhau một lời đơn giản mà sâu dày như thế được chăng.

Sacramento, cuối Thu 2009

© 2009 Trần Kiêm Đoàn

© 2009 talawas blog

Bình luận

31 Comments (bài “Trần Kiêm Đoàn – Đôi điều với Liên Thành về “Biến động miền Trung””)

  1. tntc viết:

    Trong số các bài nhận định về tập sách Biến Động Miền Trung của Liên Thành, tôi đọc thấy bài của Trọng Đạt là tương đối công bằng và xây dựng hơn cả. Tôi xin phép được đính kèm sau đây:

    Biến Ðộng Miền Trung

    Trọng Ðạt

    Chúng tôi xin sơ lược tình hình biến động giai đọan 1966 dựa vào cuốn “1966 Việc Từng Ngày” của ông Ðoàn Thêm.

    Cuối tháng 3 -1966 tại Ðà Nẵng có nhiều vụ biểu tình, đóng cửa tiệm, tình hình Huế cũng rất sôi nổi trong khi Ủy ban Lãnh đạo Quốc Gia quyết định triệu tập Hội đồng Tư vấn soạn thảo Hiến Pháp và tổ chức bầu cử cuối năm 1966 thay vì cuối năm 1967 như dự định. Ông Nguyễn cao Kỳ Chủ tịch Uỷ ban hành pháp trung ương cho biết miền Trung có nhiều vụ lộn xộn đình công bãi thị, kho gạo ngoài Huế sắp cạn, trong khi ấy tại Viện Hoá Ðạo Sài Gòn có hai trăm Phật tử biểu tình đi từ Viện tới công trường Diên Hồng trương biển ngữ chống chính phủ. Thượng toạ Thích Tâm Châu kêu gọi Phật tử bình tĩnh chờ chính phủ thoả mãn các nguyện vọng, tại Huế có tới hai chục ngàn người đi tuần hành.

    Phật Giáo lại biểu tình khắp nơi đòi chính phủ phải thực thi dân chủ, tổ chức bầu cử Tổng thống và Quốc hội, đầu tháng 4-1966 tình hình miền Trung ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nguyễn Cao Kỳ cho biết bác sĩ Nguyễn văn Mẫn, thị trưởng Ðà Nẵng thuê người đi biểu tình chống chính phủ, đe dọa dân chúng, hô hào đình công bãi thị. . ông Kỳ coi như Ðà Nẵng bị Việt Cộng chiếm, sẽ hành quân tái chiếm và xử tử thị trưởng Mẫn. Chính phủ cho biết Việt Cộng muốn bài Mỹ để cô lập Việt nam Cộng Hòa. Ðài phát thanh Ðà Lạt bị nhóm biểu tình đốt, ngoài ra tại Ðà Nẵng, Ban Mê Thuột, Nha Trang cũng có nhiều cuộc biểu tình chống chính phủ. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia kêu gọi chấm dứt hỗn loạn, đóng cửa các trường học.

    Quân đội đã lấy lại Nha Trang, mặc dù Viện Hoá Ðạo kêu gọi bình tĩnh nhưng hàng ngàn người quá khích đã biểu tình đốt xe, xung đột với cảnh sát. Trung tướng Tôn Thất Ðính được cử thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuẩn làm Tư lệnh vùng Một và đại biểu chính phủ Huế. Phó tổng thống Mỹ Humphrey có tuyên bố bi quan về tình hình Việt nam, ông nói

    “Có ông Trời mới lật được thế cờ ở Việt Nam, đất nước có quá nhiều sự rắc rối”.

    Thứ trưởng ngoại giao Mỹ nói TT Trí Quang thao túng chính trường Việt Nam, mục đích không rõ rệt. Phật giáo lập Ủy ban tranh đấu chống chính phủ nhưng bắt đầu chia làm hai phe ôn hoà và quá khích, Thượng toạ Tâm Châu ôn hoà bị phe quá khích dọa ám sát.

    Cuộc tranh đấu của Phật Giáo quá khích và các vụ bạo động tại miền Trung bị các nhóm sinh viên đoàn kết, các đoàn thể Công giáo, Việt Nam Quốc dân đảng…. lên án. Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố cương quyết đàn áp biểu tình bạo động, cử Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan làm Tổng giám đốc cảnh sát công an thay Ðại tá Phạm văn Liễu và kiêm nhiệm Giám đốc nha an ninh quân đội. Ông Thích Tâm Châu tuyên bố nếu tháng 9 không có bầu quốc hội Phật giáo sẽ biểu tình, Bắc Việt và Mỹ nên rút quân khỏi Việt Nam.

    Các cuộc biểu tình và các vụ bạo động ở miền Trung đã kéo dài được hơn một tháng, lực lượng tranh thủ dân chủ tại Ðà Lạt chiếm khu chợ Hoà Bình, quân trấn chiếm lại trụ sở của lực lượng tại Hợp tác xã rau. Giữa tháng 5 Nguyễn Cao Kỳ làm mạnh, cho 5 tiểu đoàn Thủy quân lục chiến ra Ðà Nẵng bằng máy bay chiếm đài phát thanh chạm súng với lực lượng tranh đấu. Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao được cử thay Tôn thất Ðính làm Tư lệnh quân đoàn Một, ông Nguyễn Chánh Thi bị gọi ra trình diện trước ngày 20-5-1966. Trong khi ấy tại Sài Gòn các Ðại đức,Thượng toạ tuyệt thực phản đối chính phủ đem quân ra Ðà Nẵng.

    Quân chính phủ và phe tranh đấu đã chạm súng có chết người và bị thương trước chùa Vũ Hội, Ðà Nẵng. Thượng tọa Trí Quang ở Huế đòi quân chính phủ phải rút khỏi Ðà Nẵng, Nguyễn Cao Kỳ phải từ chức ngay, hai bên lại nổ súng tại khu chùa Phổ Ðà, một số chết và bị thương. Ðến ngày 23-5 nhóm nổi dậy ở chùa Tỉnh Hội Ðà nẵng buông súng hàng, khoảng một trăm người trở về quân đội, hơn một ngàn súng bị tịch thu trong chùa, ba chục xác chết hôi thối. Phía chính phủ có 20 người chết hằng trăm bị thương, bác sĩ Mẫn bị bắt đưa về Sài Gòn, tại Ðà Nẵng có tất cả 76 người thiệt mạng trong cuộc dẹp loạn.

    Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ làm mạnh hơn trước, Thiếu tá Tôn Thất Tường, Ðại tá Ðàm Quang Yêu cầm đầu vụ Ðà Nẵng bị bắt đưa về Sài Gòn. Ðà Nẵng coi như đã yên chính phủ còn phải lo đối phó với tình hình tại Huế. Cuối tháng 5-1966 tại Sài Gòn nhóm tranh đấu biểu tình liên miên bị giải tán bằng lựu đạn cay. Cuộc tranh đấu của Phật Giáo không có chính nghĩa đã bị chính phủ đàn áp bằng vũ lực trong khi nội bộ Phật giáo bắt đầu chia rẽ suy yếu. Ngày 5-6-1966 Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm họp báo cho biết Huế được tái lập trật tự, ba ngàn quân chính phủ có xe tăng đang trên đường ra Huế, thầy Trí Quang bèn hô hào Phật tử mang bàn thờ xuống đường để ngăn cản lối vào thành phố. Thượng tọa Tâm Châu đã về nước kêu gọi Thiệu Kỳ từ chức nhưng chống bạo động, TT Trí Quang tuyệt thực phải vào nhà thương. Nguyễn Ngọc Loan đích thân chỉ huy cảnh sát dã chiến dẹp bàn thờ và biểu tình.

    Nói chung cuộc biểu tình, biến loạn chống chính phủ đã bị dẹp tan trong thời gian ngắn vì không được đa số dân chúng ủng hộ, người ta chán ngấy cảnh biểu tình tuyệt thực kéo dài hết năm này qua năm khác. Cuộc biến động đã bị các đoàn thể tôn giáo, chính trị, đảng phái, sinh viên…lên án vì đã tạo ra tình trạng rối loạn tại hậu phương có lợi cho Cộng Sản. Khoảng gần một năm sau, các sĩ quan cao cấp tham gia biến động đã bị đưa ra toà chịu biện pháp kỷ luật.

    Cuộc biến động sau đó bị chìm vào quên lãng vì thực ra nó không có tầm vóc lớn hay nói khác đi tầm vóc Quốc gia mà chỉ là những cuộc biểu tình, ly khai của một số đơn vị miền Trung nhất là Ðà Nẵng, Huế. Sở dĩ chúng tôi nói là không có tầm vóc Quốc gia vì nó không phát triển mạnh tại Trung ương tức Thủ đô Sài Gòn hồi đó, những cuộc biểu tình của Phật giáo chống chính phủ năm 1963 và năm 1964 để lật đổ các chính phủ Ngô đình Diệm và Trần Văn Hương mới có thể coi là có tầm vóc quốc gia .

    Thời gian sau, chiến tranh ngày càng mở rộng hầu như báo chí, đài phát thanh không thấy ai bàn tới biến cố này, có thể họ không coi đó là một vấn đề to tát. Gần đây chúng tôi có được đọc bài Biến động Miền Trung của cựu Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi cho rằng phong trào tranh đấu của Phật giáo hồi đó là để đòi chính phủ quân nhân thực hiện bầu cử để miền Nam có một chính quyền dân cử, nhưng dù nói bằng danh từ hoa mỹ nào thì cuộc biến động miền Trung hồi 1966 đã phá rối trị an, có lợi cho Cộng Sản.

    Thế rồi 40 năm đã trôi qua nay cuộc biến động đã được làm sống lại trong cuốn hồi ký Biến Ðộng Miền Trung (BÐMT) của cựu Thiếu tá cảnh sát Liên Thành (LT), mới đầu chúng tôi thấy khoảng năm 2005, 2006 tuần báo Sài Gòn nhỏ có đăng một số bài trích trong cuốn sách chưa xuất bản này, một thời gia sau Liên Thành cho in thành sách và ra mắt sách tại một số nơi. Cuốn sách được nhiều người hưởng ứng mua ủng hộ và càng ngày càng được phổ biến. Một điều hơi lạ một đề tài xưa như trái đất, không hấp dẫn gì cho lắm, nó không có tầm vóc quốc gia đã bị thời gian chôn vùi từ trên 40 năm qua nay tự nhiên lại “nổi đình đám” khắp nơi, ngày càng dữ dội rất là “hot” nóng, ngày càng được ra mắt sách tại nhiều nơi tại Mỹ cũng như tại Úc, ngày càng được bàn thảo tranh cãi khắp nơi tại hải ngoại, trên các diễn đàn điện tử, người ta tranh cãi nhau dữ dội, thậm chí xỉ vả, chửi bới lẫn nhau vì bất đồng ý kiến.

    Nhiều người khen ông Liên Thành can đảm nói lên những sự thật lịch sử đã được dấu kín bay lâu nay. Dần dần có nhiều người phản ứng chỉ trích trên báo chí về sự sai lạc của các dữ kiện trong cuốn sách, một số nhân chứng cho là ông Liên Thành không nói đúng sự thật. Sau đó có một vài sĩ quan cao cấp trong ngành cảnh sát cũng lên tiếng trên báo Sài Gòn Nhỏ chỉ trích những điểm sai trong cuốn sách. Chúng tôi có hỏi ý kiến một cựu sĩ quan cảnh sát có chức vụ và cấp bậc khá lớn trước 1975, ông này theo Công giáo đã lắc đầu tỏ vẻ không tán thành việc làm của Liên Thành và cho rằng nó sẽ gây xáo trộn trong cộng đồng hải ngoại. Ở đây chúng tôi không bàn về nội dung cuốn sách đúng, sai, hay, dở mà chỉ nêu một số ảnh hưởng không tốt do nó gây ra trong cộng đồng. Có điều đáng nói là ông Liên Thành đã không được giới cảnh sát Quốc gia ủng hộ, bằng cứ là trong các cuộc ra mắt sách của ông không nghe nói Cảnh sát tổ chức ra mắt hay có đại diện tới dự.

    Ông Liên Thành sinh năm 1942, học lực tú tài, năm 1966 là sĩ quan cấp thiếu uý biệt phái sang làm phó ty Cảnh Sát Thừa Thiên, ông không tốt nghiệp học viện Cảnh Sát quốc gia như nhiều trưởng ty khác, năm 1975 LT giữ cấp bậc Thiếu tá chức vụ cảnh sát trưởng Thừa Thiên. Như vậy năm 1966 ông LT chỉ là một sĩ quan cấp bậc chức vụ nhỏ, học lực trung bình, 24 tuổi, những sự kiện ông kể lại trong sách không thể coi là có tầm vóc Quốc gia được mà chỉ coi như là những biến cố địa phương của một tỉnh lẻ xa xôi. Mặc dù cấp bậc, chức vụ nhỏ, biến cố tại Huế nơi ông làm việc không phải là vấn đề to tát nhưng cuốn sách của ông đã được thổi phồng quá đáng, người ta có cảm tưởng như chức vụ của ông ngang hàng Tổng giám đốc hoặc chỉ huy trưởng Cảnh sát trung ương tại Sài Gòn vì ông kể lại toàn những chuyện to tát, động trời.

    BÐMT không thể coi là có tầm vóc bí mật Quốc gia vì nó chỉ kể lại những biến động tại một tỉnh lẻ trong một địa phương nhỏ mà thôi, nếu nói là tầm vóc lớn chúng ta phải kể Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập hoặc Khi Ðồng Minh Tháo Chạy của Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng vì nó liên quan đến những việc Quốc gia đại sự , những điều tác giả NTH tiết lộ là những bí mật Quốc gia có liên quan đến giới chức cao cấp trong chính quyền Việt Mỹ và vận mệnh miền Nam trước 1975, tuy nhiên ngay như hai cuốn sách này cũng không được quảng bá rầm rộ như cuốn BÐMT.

    Nói về ảnh hưởng của cuốn BÐMT thì ta khó mà chối cãi được, năm ngoái năm kia, trong khi dân oan khiếu kiện tại Sài Gòn, Hà Nội ầm ĩ, đồng bào Công giáo Thái Hà đòi đất, giáo dân đòi toà khâm sứ Hà Nội đang nóng hổi thì Biến Ðộng Miền Trung cũng nổi đình đám ầm ĩ tại Hải ngoại át hẳn vụ toà Khâm sứ và vụ Thái Hà của Giáo dân trong nước, có một nhà báo đã nói cuốn sách này có thể khiến người ta quên đi vụ Thái Hà, Toà Khâm Sứ… Hư thực ra sao chưa rõ nhưng chúng ta phải công nhận nó đã gây xáo trộn khá nhiều trong cộng đồng hải ngoại. Cho tới nay Biến Ðộng Miền Trung vẫn được tiếp tục ra mắt sách, tiếp tục được quảng cáo, lăng sê ầm ĩ .

    Trên nhiều diễn đàn ngày càng có thêm những viết bài chỉ trích, than phiền về cuốn BÐMT của LT, cách đây vài tháng trên DCV.online một bài góp ý vơi LT được đưa lên diễn đàn này, ngay sau đó có hàng mấy chục rồi gần một trăm người góp ý, họ đem tác giả bài viết ra đấu tố y hệt như cải cách ruộng đất năm 1955 ngoài Bắc . Những người bênh vực ủng hộ LT chửi rủa, tru tréo, mạt sát tác giả bài viết và sau đó những người ủng hộ tác giả phản pháo lại dữ dội, họ làm như muốn ăn tươi nuốt sống nhau . Ðiều đáng sợ là trong đó vấn đề tôn giáo đã được hai bên đem ra làm đối tượng tranh cãi, bên này chỉ trích nói xấu tôn giáo bên kia, chia rẽ tôn giáo đã thực sự thành vấn đề. Như chúng ta đã biết Cộng Sản thường len lỏi vào cộng đồng để đâm bị thóc chọc bị gạo, CS lợi dụng tối đa sự chia rẽ của người Việt Quốc gia để tạo phân hoá nghi kỵ. BÐMT được đề cập có khi hàng tuần, hàng tháng trên các diễn đàn, được tranh cãi, chỉ trích chửi bới nhau giữa các độc giả hay tranh cãi, dĩ nhiên trong đó CS giả vờ đóng vai độc giả để chửi bới bên kia, đâm bị thóc chọc bị gạo chia rẽ cả hai bên.

    Việc ông Liên Thành đem chuyện xưa viết hồi ký không có gì là sai trái, đó là quyền tự do cá nhân của ông, nếu như ông có quảng cáo tối đa tác phẩm BÐMT của ông để bán lấy nhiều tiền hay để đánh bong, khoe khoang cho cá nhân ông thì cũng là quyền của ông. Nhưng vấn đề chúng tôi muốn nói ở đây là tác phẩm của ông nay gây quá nhiều tranh cãi, chia rẽ nặng nề trong cộng đồng Hải ngoại, dù là vô tình hay cố ý nó cũng không có lợi cho chúng ta trong lúc này. Ông LT là người Quốc gia chắc cũng biết rằng xáo trộn chia rẽ là có lợi cho CS, họ chỉ trông đợi có thế như vậy dù việc gây xáo trộn do vô tình hay cố ý chúng ta cũng đều nên tránh né.

    Tôi thiết nghĩ tác phẩm của ông nay đã tới tay nhiều người đọc, ông đã bán được khá nhiều sách, ông đã từ một người vô danh tiểu tốt không ai biết tới trở thành nhân vật nổi tiếng và như thế chúng tôi nghĩ cũng là được quá rồi. Có lẽ ông nên thôi ra mắt sách, thôi lên các diễn đàn trả lời người đọc vì gần đây ông ra mắt sách tại Bắc Cali mới khiến cho một người lên tiếng phản bác cuốn sách của ông trên diễn đàn gây lên nhiều tranh cãi chia rẽ như họ đã làm trên các trang diễn đàn khác. Có lẽ là người Quốc gia ông nên nghĩ tới quyền lợi của cộng đồng để phục vụ công cuộc tranh đấu chung của người Việt hải ngoại hơn là đi tranh luận đỏ mặt, tía tai về những chuyện ruồi bu, cũ rích.

    Ông LT là nhân chứng lịch sử nhưng không có nghĩa tất cả những điều ông kể lại đều được người ta tin hết, người đọc họ cũng không ngây thơ như vậy đâu.

    Trong cuộc phỏng vấn của ông Lâm Lễ Trinh, ông Cao Văn Viên đã kết luận.

    “Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng, như trong phim ‘Rashomon’. Một trăm nhân chứng, một trăm sự thật. Ðịnh kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm tình với lòng thành. Hãy để cho hậu thế lượng định và phán xét”

    (Lâm Lễ Trinh, Về Nguồn, trang 276.)

    Trong phim Rashomon (Nhật, 1951), cái chết của một hiệp sĩ trong rừng đã được năm người nhân chứng khai khác nhau, không biết đâu là sự thực. Ngay như giữa hai ông cựu tướng Cao Văn Viên và Ngô Quang Trưởng khi kể lại tình hình tháng 3-1975 cũng đã có sự khác biệt rõ rệt. Ông Trưởng nói ngày 13-3-1975 ông được triệu về Sài Gòn, tại dinh Ðộc Lập chỉ có một mình ông vào gặp Tổng thống và Thủ tướng và Tổng thống Thiệu buộc ông phải rút bỏ Quân đoàn I ngay hôm 13-3-1975. Ông Cao Văn Viên lại nói buổi họp ngày 13-3 có Tổng thống, Thủ tướng , Trung Tướng Ðặng Văn Quang, ông Cao Văn Viên và hai vị Tư lệnh quân khu III và QK I, ông Thiệu chưa cho lệnh rút quân bất cứ nới nào lúc đó ( 13-3-75).

    Chúng tôi nghĩ có lẽ ông Liên Thành nên khiêm tốn như ông Cao Văn Viên, ông không nên quả quyết một cách chắc chắn những sự kiện do mình đã làm nhân chứng, vả lại trong bài CIA Và Các Ông Tướng ông Trần bình Nam có nói.

    “Một điều cần nói là không có một tài liệu nào, nhất là tài liệu liên quan đến hoạt động tình báo là hoàn toàn trung thực. Giải mật một tài liệu tự nó cũng có thể là một phần của một chương trình tình báo khác”

    Chúng tôi nghĩ có lẽ ông LT nên bớt chỉ trích tố giác người này người nọ vì nó không có lợi cho cá nhân ông, thí dụ như trên Ðàn Chim Việt trong bài nói về Rút bỏ Quân đoàn Một và bài nói về Biến động miền Trung đã có hai nhân chứng là cựu quân nhân rút chạy tại Huế góp ý nói rằng ông Liên Thành tháng 3-1975 đã bỏ một lô đàn em ở Thuận An chạy tháo thân trước và họ đã chỉ trích nặng nề hành động này.

    Cộng sản đã được hưởng lợi rất nhiều ở tình hình biến động miền trung năm 1966, nay chúng ta không thể để cho họ lợi dụng Biến Ðộng Miền Trung một lần thứ hai. Cộng đồng người Việt Hải ngoại nay đang có rất nhiều việc trước mắt cần làm như: yểm trợ các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, hỗ trợ các tôn giáo tranh đấu cho quyền tự do tín ngưỡng, giúp đỡ thương phế binh VNCH tại Việt Nam, ngăn chận sự xâm nhập của CS nằm vùng vào cộng đồng, biểu tình chống Trung Quốc lấn đất, lấn biển …. ngoài ra chúng ta cần phải đánh giặc chia rẽ.

    Trước mắt chúng ta là hằng hà sa số những việc có ý nghĩa cần phải làm cho nhân dân, cho đất nước, việc tranh cãi chửi bới nhau về những chuyện ruồi bu, kiến đậu, xưa như trái đất hơn 40 năm về trước chỉ thêm tốn nước bọt một cách vô ích, nó đã không cần thiết lại có hại cho tình đoàn kết của cộng đồng.

    Trọng Ðạt

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...