talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Hoàng Quân – Hải quốc văn kiến lục: Khảo sát và trích dịch (3)

04/11/2009 | 10:10 sáng | 6 Comments

Tác giả: Phạm Hoàng Quân

Category: Lịch sử, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

(Xem kì 1kì 2)

Phụ lục – Nam Dương ký

(Trần Luân Quýnh – Hải quốc văn kiến lục)

Phạm Hoàng Quân dịch chú

Hình thế các nước Nam Dương lệch về phía đông Trung Quốc, theo hướng la bàn đều nằm trong khoảng Đinh Vị [Tây Nam][1],liên tiếp trong trời đất, thông đến Đại Tây Dương, dừng ở tòa thứ 24[2], tức ở phương Tốn Tỵ [Đông Nam] .

Xét về sự tiếp giáp giữa An Nam và Trung Quốc mà nói, thì biển giáp ở Liêm Châu[3], núi quanh tây bắc vòng về nam thẳng đến Chiêm Thành, hình tượng giống trăng nửa vầng, gọi là vịnh Quảng Nam. [Đất này] đời Tần gọi Tượng Quận, đời Hán gọi là Giao Chỉ, đời Đường gọi là Giao Châu, đời Tống gọi An Nam, đời Minh gọi Giao Chỉ. Đất liền với hai tỉnh Việt [Lưỡng Quảng] và Vân Nam, sử sách đã ghi chép nhiều về phong thổ, nhân vật ở đây. Về sau này, các xứ Thuần Hóa[4] [淳化], Tân Châu, Quảng Nghĩa, Chiêm Thành gọi chung là Quảng Nam.

Họ bên ngoại (của chúa Trịnh) được giao giữ đất Thuần Hóa, tùy vào nơi trú đóng và theo thế đất mà lập pháo đài Mã Long giác[5], cách một sông ở phía bắc là pháo đài Giao Chỉ, lấy [sông này] làm ranh giới. Từ Thuần Hóa đi về Nam đến Chiêm Thành là nước Quảng Nam, còn gọi là An Nam. Vua [An Nam] họ Nguyễn, gốc họ người Trung Quốc[6]. [Đất này] xưa là quận Nhật Nam. Sản vật có: vàng, các loại hương, kỳ nam, trầm, chì, thiết, vỏ quế, ngà voi, tơ lụa, yến sào, vi cá, rong biển, đường, tương tợ như sản vật Giao Chỉ. Lấy Đông Kinh ở Giao Chỉ mà so với Tây Kinh ở Quảng Nam thì [Quảng Nam] mạnh hơn Giao Chỉ. Phía nam cai quản Lộc Lại 祿賴[7], Giản Phố Trại, Côn Đại Mạ 菎大嗎, tây nam giáp Tiêm La, tây bắc tiếp Diến Điện, trồng cỏ gai và tre làm thành (trì).

Người [Quảng Nam] lặn giỏi, [như mà] thuyền Hồng Mao gặp sóng gió bất lợi giạt vào vịnh Quảng Nam, thì nước này sai thuyền nhỏ hàng trăm chiếc, chở theo người, lưng đeo ống trúc, mang dây thừng nhỏ, lặn xuống nước đóng đầy đinh quấn dây thừng vào đáy thuyền [Hồng Mao], kéo đến nơi nước cạn rồi đốt và lấy đồ dùng vào việc quân. Nay thuyền Hồng Mao không lấy núi Quảng Nam làm tiêu giới, nếu thấy ắt chủ động bỏ đi, [vì] nước này thường dùng hinh phạt.

Từ Hạ Môn 廈門 đến Quảng Nam 廣南, bắt đầu ở Nam Áo 南澳 thấy Lỗ Vạn Sơn 魯萬山 biển Quảng Đông, rồi thấy Đại Châu Đầu 大洲頭 biển Quỳnh Châu 瓊洲, qua biển Thất Châu 七洲洋, theo hướng núi Chiêm Tất La 呫嗶囉 ở ngoài khơi Quảng Nam thì đến Quảng Nam, cộng thủy trình bảy mươi hai canh [giờ].

Giao Chỉ thì từ phía Tây biển Thất Châu vòng qua Bắc mà đi. Từ Hạ Môn đến Giao Chỉ, thủy trình bảy mươi bốn canh.

Biển Thất Châu ở phía đông nam Vạn Châu đảo Quỳnh [Hải Nam], như đi Nam Dương thì phải qua nơi này.

Thuyền đi biển Trung Quốc không như thuyền Tây dương, Tây dương dùng loại nghi khí lượng định độ số bầu trời [kinh độ] và theo vạch nước mà phân độ [vĩ độ] thì biết thuyền đang ở nơi nào. Thuyền Trung Quốc dùng la bàn, đồng hồ cát, tính sức gió lớn nhỏ, hướng gió thuận nghịch mà quy ra số canh giờ. Mỗi canh ước chừng đi được 60 dặm gió lớn và thuận hướng thì tính thêm, nước triều cao gió nghịch thì giảm xuống, áng chừng vào canh giờ mà biết đang ở nơi nào. Còn như trong bụng nghi ngờ, thì xem vào hình thế núi non ở xa, dựa vào các điểm cao thấp mà phân biệt, dùng dây thừng có đầu gù dò mực nước nông sâu (đầu gù bôi dầu sáp để dò biết bùn, cát ở đáy nước), phối hợp nhiều cách thì nắm được vị trí chuẩn xác.

Ngoài Đại Châu Đầu thuộc biển lớn Thất Châu thì mênh mông mờ mịt, không có núi non gì để căn cứ mà làm chuẩn. Gặp gió to thuận hướng la bàn thì đi sáu, bảy ngày có thể đến Ngoại La Sơn thuộc vùng biển Chiêm Tất Lao xứ Quảng Nam, [đến đây thì] phương hướng định được. Lệch qua phía đông ắt vướng phải Vạn Lý Trường Sa 萬理長沙, Thiên Lý Thạch Đường 千理石塘; lệch qua phía tây sợ gặp dòng nước chảy xiết đẩy vào vịnh Quảng Nam, không có gió Tây thì khó mà ra được.

Thuyền buôn không có ý nhập cảnh Quảng Nam, chỉ là do sóng gió đưa đẩy tới, [vào đây] hàng hóa bị đánh thuế nặng, chia đều ra thì không thể đủ [vốn] được. Tỉ như người Hồng Mao cân nhắc [thị trường] 2 bên, thì vẫn thích Trung Quốc hơn, gọi là sai một ly thì mất đi ngàn dặm là vậy.

Trong biển Thất Châu có loại chim thần, hình giống như nhạn biển mà nhỏ hơn [nhạn biển], mỏ nhọn màu hồng, chân ngắn màu xanh lá, đuôi như mũi tên dài đến 2 thước (64 cm), gọi là Tiễn Điểu [chim mũi tên]. Thuyền đến biển này thì Tiễn Điểu bay đến quanh người. Kêu lên thì chim bay đi, trong lúc còn nghi ngờ, kêu lên lần nữa để xem kỹ [cái đuôi lạ] thì bay trở lại. Đưa giấy tạ thần, chim xòe cánh bay lượn rồi không biết đi đâu. Tương truyền Vương Tam Bảo [Trịnh Hòa] đi Tây Dương, kêu là ‘chim cắm tên’, bảo người ghi chép lại sự việc ấy.

Quảng Nam đến Chiêm Thành, núi gần bờ biển, đến Lộc Lại vòng qua phía tây đến Giản Phố Trại 柬埔寨. Từ Hạ Môn đến Chiêm Thành, thủy trình một trăm (100) canh; đến Giản Phố Trại, thủy trình một trăm mười ba (113) canh. Giản Phố Trại tuy là một nước, mà nằm ở giữa 2 nước Tiêm La và Quảng Nam, phía đông phải nộp cống cho Quảng Nam, phía tây phải nộp cống cho Tiêm La, lơ là không nộp, thì bị đường thủy đường bộ đồng hè tiến đánh. Người Giản Phố Trại thuộc phiên hệ Bạch Đầu Vô Lai Do[8] 白頭無來由, phần đông khỏa thân. [Y phục] dùng tấm vải quấn ngang thân dưới, [tấm vải này] gọi là ‘thủ mạn’. Sản vật đất này có: chì, thiết, ngà voi, lông chim trĩ, chim khổng tước, vải tây, tô mộc, giáng hương, các loại trầm, yến sào, rong biển, mây.

Từ dãy núi lớn Giản Phố Trại vòng qua phía tây nam là Tiêm La, theo dãy núi ven bờ biển Tiêm La dần về phía nam là Tà Tử 斜仔, Lục Khôn 六坤, Đại Niên 大哖, Đinh Cát Nao 丁噶呶, Bành Hanh 彭亨. Dãy núi này liền tới Trung Quốc, phát ở hướng chính nam, đến đây thì dừng. Lại theo mé biển vòng qua lưng núi mà qua phía tây là Nhu Phật 柔佛, Nhu Phật cách một núi và đối lưng với Bành Hanh 彭亨. Từ Nhu Phật đi về tây là Ma Lạt Giáp 麻喇甲, tức là dãy núi phía sau Đinh Cát Nao 丁噶呶.

Từ Ma Lạt Giáp qua tây, ra khỏi Vân Nam, qua tây nam các nước Thiên Trúc 天竹 là Qua Thập Đáp 戈什嗒 thuộc Tiểu Tây Dương 小西洋.

Từ dãy núi ven biển Tiêm La đến Nhu Phật và các nước đều có vua và đều là thuộc quốc của Tiêm La. [nước Tiêm La] xưa gồm 2 nước, nước La và nước Tiêm, sau thì hợp thành một nước gọi là Tiêm La. Tục thờ phật… [lược phần phong tục, vật sản]…

Thủy trình từ Hạ Môn đến Tiêm La, qua biển Thất Châu thấy Ngoại La Sơn 外羅山, theo hướng nam thấy Đại Mạo Châu 玳瑁洲, Áp châu 鴨洲, thấy Côn Lôn 崑崙, lệch về hướng tây thấy Đại Chân Dự 大真嶼, Tiểu Chân Dự 小真嶼, chuyển qua phương tây bắc đến Bút Giá Sơn 筆架山, rồi hướng về bắc thì đến Trúc Dự 竹嶼 [ngoài khơi] cửa cảng Tiêm La, [từ Hạ Môn] đến đây là 188 canh, đi vào cảng thì mất 40 canh, cộng thủy trình là 228 canh. Phía đông Tiêm La giáp Giản Phố Trại, đường thủy chừng 113 canh [từ cảng Tiêm La đến cảng Giản Phố Trại]. Tại sao cách xa quá vậy? Bởi mặt nam Giản Phố Trại là biển, một mảng cuối thuộc Lan Nê 爛泥 còn gọi Lan Nê Vĩ, phía dưới liền Đại Hoành Sơn 大穔山, Tiểu Hoành Sơn, thật là vòng vẹo quanh co nên đường đi xa vậy.

Từ Tiêm La xuống phía nam, Tà Tử, Lục Khôn, Tống Cước đều là thuộc quốc của Tiêm La. Các nước Đại Niên, Cát Liên Đan 吉連丹, Đinh Cát Nao, Bành Hanh mạch núi liền nhau, đều tự Tiểu Chân Dự hướng về phía tây chia ra mà đi, thủy trình không đều, có nơi 150 canh, có nơi 160 canh. Thổ sản có: chì, thiết, lông chim trĩ, chiếu hoa, yến sào, hải sâm, khoa đằng (科藤), băng phiến (冰片)Về thổ sản thì các nước tương tợ, riêng hồ tiêu giáp (胡椒) ở Đinh Cát Nao là tốt nhất trong các nước phiên. Các phiên này đều thuộc tộc loại Vô Lai Do (無來由), không hiểu lễ nghĩa, mình trần cắp đao, thân dưới quấn vải, cau đựng đầy hộp để nhấm nháp, lúa gạo trộn vào nước mà nuốt. Việt buôn bán khó khăn vì bến cảng không chứa được nhiều thuyền.

Nói về nước Nhu Phật, núi tuy liền mạch với Bành Hanh, mà thế thì ở thấp. Đi đường thủy đến Côn Lôn thì theo phương Vị (tây nam), gặp Trà Bàn thì chuyển hướng tây, từ Hạ Môn đến Nhu Phật thủy trình 173 canh, tình hình vật sản cũng tương tợ như các Phiên đã nói trên, song tốt hơn và nhiều hơn, mỗi năm thuyền buôn cỡ lớn ghé 3, 4 chiếc [mỗi khi ghé] thuyền nhỏ trong xứ tụ đến trao đổi hàng hóa. Ở đây có sa kim, trong nước xài tiền đúc bằng vàng, hình bông hoa nhỏ, nặng 4 phân, 5 phân, tiền bằng bạc không xài.

Từ Nhu Phật đi về tây là Ma Lạt Giáp, cũng thuộc tộc loại Vô Lai Do. Quan trong xứ gọi là Ác Da 惡耶, Quốc vương cũng tựa như [Quốc vương] Tiêm La, dùng người Hán liệu lý quốc sự, thuế khóa. Thổ sản có các loại vàng, bạc, vải tây, sừng tê giác, ngà voi, chì, thiết, hồ tiêu, giáng hương, tô mộc, yến sào, lông trĩ, chiếu hoa, tiền vàng và tiền bạc cùng được sử dụng. Đi về biển tây, thuyền Trung Quốc lấy theo phương vị, đến đây [Ma Lạt Giáp] thì dừng, thủy trình từ Hạ Môn đến đây là 260 canh.

Còn như các nơi Tiểu Tây Dương, Ô Quỷ quốc, Đại Tây Dương tuy thế đất liền nhau, thuyền Tây dương luôn qua lại thì đã nói ở phần Đại, Tiểu Tây Dương ký.

Phía nam Ma Lạt Giáp, cách biển thấy một dãy núi lớn là Á Tế, là nơi người Hồng Mao cư trú. Phàm thuyền Hồng Mao đi Tiểu Tây Dương hoặc các xứ khác thì dừng ở Á Tế để chuẩn bị thêm lương thực.

Từ dãy núi lớn Á Tế vòng qua phía đông nam là Vạn Cổ Lũ 萬古廔, nơi cuối cùng của xứ này nhìn sang bên kia biển là Cát Lạt Ba 噶喇吧. Thuyền Hồng Mao khi quay về Đại Tây Dương tất đi qua biển này, sau đó theo phương tây nam qua Ô Quỷ Áp 烏鬼呷, rồi vòng theo hướng Tây thì đến Đại Tây Dương.

Như từ Trung Quốc mà đến Cát Lạt Ba, thì phải ngang qua Côn Lôn, Trà Bàn 茶盤, la bàn để phương Vị, vòng theo hướng tây dãy núi Vạn Cổ Lũ mà đến Cát Lạt Ba. Từ Hạ Môn đến Cát Lạt Ba mất 280 canh. Xứ này là nơi phát nguyên tộc hệ Vô Lai Do, nay Hồng Mao Hà Lan chiếm cứ, đặt quan cai trị, chức quan lệ thuộc Áp Tất Đan 呷必丹[9], bên ngoài gồm quản luôn cả 3 xứ Hạ Cảng 下港, Vạn Đan 萬丹, Trì Vấn 池問. Hạ Cảng sản xuất hồ tiêu, Vạn Đan riêng lập phố xá, Trì Vấn sản xuất hồ tiều, đàn hương. Cát Lạt Ba là nơi phố xá thịnh vượng đứng đầu các phiên, các đảo, thuyền buôn từ Trung Quốc, Đại Tây Dương, Tiểu Tây Dương, Bạch Đầu, Ô Quỷ 烏鬼, Vô Lại Do tụ tập mua bán, kỳ trân dị bảo, vật thực các thứ không gì không có.

Người Hà Lan xây dựng thành trì, lập phố xá, người Trung Quốc đến đây mua bán trồng tỉa khá đông, mỗi năm mỗi người nộp thuế cho địa phương 5 – 6 đồng tiền vàng thì được phép cư trú, nhân khẩu Trung Quốc tăng nhanh, cư trú nơi này đến những hơn 10 vạn, gần đây người Hà Lan cấm người Trung Quốc nhập cư, lỡ đến thì không cấp phép cư trú, ra lệnh tìm thuyền mà trở về.

Đảo Trà Bàn ở phía nam Côn Lôn, liền một dãy núi Vạn Cổ Lũ về phía đông, trên đường chung đi Nam Dương, đây là nơi ngã rẽ để đi các xứ, người trên đảo sống bằng nghề biển. Nơi này có loại ‘giai văn thảo’ (cỏ có vân đẹp), cọng nhỏ mà dài, mỗi năm có thể đủ cho hai đợt dệt chiếu, loại cực tốt dùng cho các vương gia trị giá đến 40 – 50 đồng tiền vàng [một chiếc], loại này kỵ được côn trùng; thứ đến là loại có giá 20 – 30 đồng tiền vàng; thứ nữa là 10 đồng. Loại 1 – 2 đồng là loại dệt bằng sợi màu hoặc sợi thô[10].

(Xem toàn bài bằng bản PDF)

© 2009 Phạm Hoàng Quân

© 2009 talawas blog


[1] Khái niệm trong thiên văn học truyền thống Trung Quốc lấy tên can chi để chỉ phương hướng, chánh Bắc là Tý, chánh Nam là Ngọ, chánh Đông là Mão, chánh Tây là Dậu. Phương Đinh Vị (Mùi) chỉ Tây Nam mà thiên về Nam, phương Khôn Thân cũng chỉ Tây Nam mà thiên về Tây.

[2] Khái niệm Phần dã, tức chia khu vực vòm trời theo Nhị thập bát tú 二十八宿, tòa thứ 24 tức khu vực sao Liễu 柳[Anh ngữ dịch là Mansion 24 – The Willow]. Khu vực này ở khoảng giữa Đông Nam và chánh Nam.

[3]

[4] Trần Luân Quýnh viết Thuần Hóa 淳化[thay vì Thuận Hóa 順化] trong suốt văn bản, đây do viết sai, vì hầu hết thư tịch cổ Trung Quốc đều chép là Thuận Hóa.

[5] Chưa rõ tên pháo đài Mã Long Giác 馬龍角 do Trần Luân Quýnh ghi nhận là dựa vào tài liệu nào, hoặc là cách gọi khác của dinh cũ Võ Xá, lũy cũ Trường Dục, hay lũy/đồn Động Hải? (theo ghi chép trong Đại Nam Nhất thống chí, tỉnh Quảng Bình).

[6] Thuyết nói rằng tổ tiên Nguyễn Hoàng gốc người Trung Quốc ngoài Trần Luân Quýnh còn thấy trong “Hoàng triều văn hiến thông khảo”, mục “Tứ Duệ” viết: “廣南國為古南交地,王本中國人,阮姓。歷代以來通職貢/ nước Quảng Nam là đất cũ Nam Giao, vua gốc người Trung Quốc, họ Nguyễn, các đời đều sang nộp cống”. Sau này lại có thêm Từ Diên Húc trong “Việt Nam tập lược”, Phan Lai trong “Toại Sơ Đường văn tập”… nói giống như vậy, tuy nhiên không thấy nêu chứng cứ gì để có thể tin cậy.

[7] Lộc Lại, một cách gọi đất Nông Nại (Đồng Nai). Sách “Hải Lục” 海錄 (Dương Bỉnh Nam, Tạ Thanh Cao) viết: (từ Tân Châu, tức Quy Nhơn) “đi về nam 3, 4 ngày thì đến Long Nại 龍奈, còn gọi là Lục Nại 陸奈 tức trong sách Hải Quốc văn kiến nói là Lộc Lại”.

[8] Cách gọi của người Trung Quốc đối với người theo đạo Islam.

[9] Phiên âm tên thủ đô Hà Lan Amsterdam.

[10] Tên các đảo quốc, quốc gia trong bài viết này phần lớn tương tự cách ghi chép trong “Đại Thanh Vạn Niên nhất thống địa lý toàn đồ” (Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Sở KH & CN TT-Huế, số 4 (75). 2009), độc giả tạm thời xem lại, chúng tôi sẽ lập bảng đối chiếu tên gọi đầy đủ hơn trong các số khác.

Bình luận

6 Comments (bài “Phạm Hoàng Quân – Hải quốc văn kiến lục: Khảo sát và trích dịch (3)”)

  1. Hoàng Trường Sa viết:

    Kính thưa quý vị,

    Trong bản dịch phần Footnotes dưới đây, tôi dịch ra tiếng Việt cả tên các bài báo hoặc sách được dẫn để quý vị tiện theo dõi. Tuy nhiên, quý vị nào cần tìm các bài báo hoặc sách được dẫn, xin quý vị dựa thẳng vào nguyên bản tiếng Anh của “footnotes” để tìm mới được.

    Ghi chú

    [4] Peking Review (Tạp chí Bắc Kinh), quyển 18, số 50, t. 10-11 như được dẫn trong Choon-ho Park, ‘The South China Sea Disputes: Who Owns the Islands and the Natural Resources?’ (Tranh chấp biển Nam Hải: Ai làm chủ các đảo và tài nguyên thiên nhiên?), Studies in East Asian Law, số 26, Harvard Law School, Cambridge MA, 1978, tr. 32. Phần lớn các biện luận của CHNDTH và CHXHCNVN cho giai đọan tới năm 1800 đều nêu ra thông tin chỉ liên quan tới quần đảo Hoàng Sa và sau đó, không giải thích gì hết, dùng thông tin này để hỗ trợ cho tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Do việc khoảng cách giữa hai quần đảo này, tại nơi gần nhất, là chừng khoảng 500 km, và do việc quần đảo Trường Sa trải rộng trên một diện tích mênh mông, có vẻ ta cần phải bắt buộc xem hai quần đảo HS và TS ít nhất như là hai đơn vị pháp lý, nếu không phải là nhiều hơn, như Phi Luật Tân và Mã Lai Á đã lý luận về quần đảo Trường Sa.
    [5] Bộ Ngoại giao của nước CHNDTH, ‘Chủ quyền bất khả tranh nghị của TQ trên các quần đảo Tây Sa [Paracel] và Nam Sa [Spratly]’, Tạp chí Bắc Kinh , quyển 23, số 7, 1980, tt. 15, 18.
    [6] ‘Thông tấn xã CHXHCNVN về việc CHNDTH chiếm đóng quần đảo Hoàng Sá, FBIS Tường trình mỗi ngày về Á châu và Thái Bình Dương, ngày 24 tháng Giêng, 1984, K1, K3.
    [7] vụ tranh chấp đảo Palmas (1928), như là một Phụ lục (tt. 88-126) trong R. Y. Jennings, The Acquisition of Territory in International Law (Việc Thủ đắc Lãnh thổ trong Luật Quốc tế), Manchester University, Manchester, 1963, tr. 109.
    [8] sđd.
    [9] Xem The Minquiers and Ecrehos case, Judgment of November 17th, 1953: ICJ Reports 1953 (vụ tranh chấp Minquiers và Rcrehos, Phán quyết ngày 17, tháng 11, 1953: Tường trình ICJ 1953 , tr. 53 (từ nay trở đi, vụ Minquiers và Ecrehos ).
    [10] ‘China’s Indisputable Sovereignty’ (Chủ quyền Không tranh cãi được của TQ) tr. 16. Nguồn là Wu Jing Zong Yao [Hồ sơ Phác họa Công việc Quân đội] trong đó, theo CHNDTH, đã dùng cái tên Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Lỗ Châu), mà ta có thể dịch ra là ‘chín đảo ốc xa cừ’, cho quần đảo Hoàng Sa. Các danh xưng có vẻ không được tiêu chuẩn hóa trong các tài liệu xưa hơn, và cũng không rõ là đã đề cập riêng đến các đảo nào. Vài thí dụ về các biến đổi [danh xưng] có thẻ tìm thấy được thảo luận trong các cuốn sách về lịch sử của Heinzig, Disputed Islands in the South China Sea (Các đảo tranh chấp ở Biển Đông), tt. 22-33 và Samuels, Contest for the South China Sea (Tranh Giành Biển Đông) ,tt, 16-38. Không rõ là liệu những tên được dùng chỉ đơn giản là cách giải thích hay chính là tên riêng do TQ đặt ra để chỉ lãnh thổ của TQ.
    [11] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, t. 16. Trong bài này, đã không thấy nêu ra điều gì để chứng minh dứt khoát là đài quan sát thiên văn được lập ra trên một hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa mặc dù điều này có thể suy ra từ sứ mạng của các nhà thiên văn (như được diễn tả trong bài viết năm 1980) là lập ra những điểm quan sát trong những đường biên giới của TQ. Tuy nhiên, một điểm quan sát gọi là Nam Hải (tên ngày nay được đặt cho Biển Nam Trung Hoa, South China Sea), nằm ở phía Nam của đảo Hải Nam và được ghi là có vĩ độ 15 độ Bắc. Ngay cả với sự giải thích của CHNDTH làm thế nào để thấy vĩ độ [được ghi lại] này theo cách tính vào thời đó thực sự tương đương với vĩ độ (theo các cách tính hiện đại) với sai biệt một độ ở cao hơn về hướng Bắc, người ta vẫn có thể nghi ngờ về tuyên bố rằng điểm quan sát này nằm trên quần đảo Hoàng Sa. Quần đảo Hoàng Sa thực sự có nằm giữa vĩ tuyến 16 Bắc và 17 Bắc, nhưng những tiểu đảo lớn nhất nằm gần vĩ tuyến 17 độ Bắc. Cần tham khảo ý kiến của một chuyên gia về sự biến đổi của tọa độ địa lý để làm rõ về vấn đề này.
    [12] sđd. tr. 17. CHNDTH tuyên bố rằng những qui chiếu trong các niên sử về các đảo hay đá (banks) là nói về không những chỉ quần đảo Hoàng Sa mà còn cả quần đảo Trường Sa. Điều này không được xác nhận qua cách dùng tên trong các sách khác.
    [13] Cho đến thế kỷ 12, những tài khéo kỹ thuật hải hành của TQ, kể cả đóng góp độc đáo về ngăn kín nước và cách dùng la bàn hải hành, đã cho phép [TQ] phát triển những đoàn tàu viễn dương. Xem Samuels, Contest for the South China Sea (Tranh Giành Biển Đông), tr. 14.
    [14] Có vài tài liệu lịch sử chép sơ lược các cuộc du hành qua Biển Đông của một số đoàn tàu thời Hậu Tống và triều Nguyên. Năm 1282, đoàn tàu của Hốt Tất Liệt tấn công Chiêm Thành (nam Việt Nam) và năm 1293 một hạm đội trên 1000 tàu đã giong buồm tiến về Java. Triều Nguyên đã lập ra một bộ máy quan lại phiền phức để phát triển thương mại. Một tập niên sử từ giai đoạn này có đề cập về các tiểu đảo, đá và bãi ngầm, nhưng không nêu tên. Một niên sử khác ghi chép rằng vài nước ở Việt Hải [Yue Sea] ‘thường được gọi chung là’ wanli shitang . Xem Samuels, Contest for the South China Sea, tt. 19-20, tác giả đã đề cập này về wanli shitang như là các quốc gia. Tuy nhiên, Samuels không biện luận rằng điều này chứng tỏ người TQ xem wanli shitang là lãnh thổ của TQ.
    [15] ‘China’s Indisputable Sovereignty’(Chủ quyền không tranh cãi được của TQ),
    tr. 15.
    [16] Vietnam’s Sovereignty over the Hoang Sa [Paracel] and Truong Sa [Spratly] Archipelagoes ( Chủ quyền của Việt Nam trên các Quần đảo Hoàng Sa [Paracel] và Trường Sa [Spratly]) , Ban Thông tin và Báo chí, Bộ Ngoại giao, Hà Nội, 1979, tt. 10-11 (từ nay gọi là Vietnam’s Sovereignty).
    [17] ‘Text of White Book on Spratlys, Paracels’ (Tài liệu Bạch Thư về Trường Sa, Hoàng Sa), FBIS Daily Report, Asia and Pacific, 18 tháng Giêng 1982, K3 (từ nay sẽ gọi là ‘Text of White Book’).
    [18] Phủ Biên Tạp Lục (1776) nói về một nhóm gồm trên 130 đảo nhỏ và đá nằm về ‘hướng đông nam của làng này’ của [làng] An Vĩnh. Kế đó, cùng tài liệu này đã viết tiếp, diển tả những hoạt động của đội Hoàng Sa, một nhóm người chuyên săn tìm và thu hoạch hải sản, do các nhà cầm quyền VN gửi đi hàng năm.
    [19] ‘Text of White Book’ (Tài liệu Bạch Thư), K3.
    [20] Trong các bản đồ cổ của Biển Đông, các đảo hay cồn cát không được vẽ hoặc là ngay tại ví trí chính xác, hoặc theo bất cứ kiểu tỷ lệ xích nào cả, mà chỉ có dạng hình thoan [hình ellip] với kích thước được hoàn toàn chi phối do kích thước của các chữ dùng để ghi tên chúng ngay phía trong cái hình thoan. Giá trị đồ bản chủ yếu của các bản đồ này có lẽ chỉ là để xác định sự hiện hữu của các cồn cát, đặ tên cho chúng, và cho biết một cách đại khái về vị trí địa lý tương đối giữa chúng với nhau. Ngay cả những bản đồ TQ vào giữa thế kỷ 19 cũng chứng tỏ sự thiếu chính xác mà khi vẽ những điểm đặc trưng về đất liền xem qua lại giống như hình vẽ kiểu hoạt họa.
    [21] Samuels, Contest for the South China Sea, tr. 49. Trích dẫn từ một bài của Cha Jean-Louis Taberd, một tu sĩ Pháp, viết năm 1837, và in trong cuốn ‘Note on the Geography of Cochinchina’ (Ký chú về Địa lý Đàng trong), trong Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, tháng 4, 1937.
    [22] Nếu, như đã thảo luận trong Phụ lục I, những khái niệm đặc biệt của phương Đông về chủ quyền (sự cai trị cá nhân) từ giai đoạn trước thế kỷ 19 vẫn còn đang vận hành, thì một lãnh thổ không được cư ngụ thường xuyên bởi con dân của một nhà cai trị không thể xem như là lãnh thổ thuộc nhà cai trị này. Nếu thế, thì những đòi hỏi phải có sự chiếm đóng vật chất [bằng người] có thể được biện hộ như là một tiêu chí mạnh hơn về chủ quyền dưới một khái niệm phi-không gian như thế thay vì dưới quan điểm Âu châu về luật quốc tế, chỉ đòi cần có sự chiếm đóng hữu hiệu, với có thể là thêm một chút hành chánh hợp pháp, thay cho sự phải có sự hiện diện vật chất của các con dân của nhà cai trị. Khái niệm về ‘chiếm đóng hữu hiệu’ có thể là thích hợp cho những giai đoạn khi các nước Đông Á vẫn còn là những nước chưa tham gia hoàn toàn vào cộng đồng quốc tế như được hiểu theo các khái niệm Âu châu về luật quốc tế.
    [23] So sánh với ‘Arbitral Award on the Subject of the Difference Relative to the Sovereignty over Clipperton Island, decision rendered at Rome, January 28, 1931 (France-Mexico)’(Phán quyết của Trọng tài về vấn đề Khác biệt Về Chủ quyền trên Đảo Cliperton, quyết định tại Rome, 28 tháng Giêng, 1931 (Pháp – Mễ Tây Cơ) , American Journal of International Law, quyển 26, số 2, tháng tư 1932, tt. 390, 394 (từ nay trở đi gọi là Clipperton Island arbitration [phán quyết Đảo Clipperton]).
    [24] Samuels, Contest for the South China Sea (Tranh giành Biển Đông). tt. 14-23, viết về chuyện khả năng hàng hải hùng hậu của TQ tại Đông Nam Á trong ba thế kỷ đã được TQ sử dụng để phát triển hệ thống triều cống [Tàu] ở Đông Nam Á, nhưng ông nói rằng hệ thống này là một hệ thống có tính tương quan thương mại và đó không phải là một tương quan lãnh chúa đích thực giữa TQ và các nước triều cống. Ông cũng tường trình rằng vị thế này đã được TQ từ bỏ vào giữa thế kỷ 15.
    [25] Gợi ý này đã được đưa ra cho trường hợp các đảo Sensaku bởi Tao Cheng, ‘The Sino-Japanese Dispute over the Tiao-yu-tai (Senkaku) Islands and the Law of Territorial Acquisition’ (Tranh chấp Trung – Nhật về các đảo Điếu Ngư (Sensaku) và Luật về Thủ đắc Lãnh thổ), Virginia Journal of International Law, quyển 14, số 2, Mùa Đông 1974, tt. 240-1.
    Basdevant biện luận:
    …trong trường hợp của Ecrehos và Minquiers, các tiểu đảo và đá trong thực tế không có cư dân, và hầu hết là không có ai cư ngụ cả … để cho Vua nước Anh chiếm hữu các đảo này, không cần thiết là ông ta phải có một đồn gác ở đó, mà qua sức mạnh quân đội và hải lực của ông cũng đủ cho ông ở vào vị thế có thể can thiệp vào các đảo này khi ông thấy cần can thiệp mà không hề bị ngăn cản khi làm chuyện đó bởi lực lượng của Vua nước Pháp và rằng, cũng với lý lẽ như vậy, ông ta sẽ ở vào vị trí có thể ngăn cản sự can thiệp của lực lượng này.
    Minquiers and Ecrehos case (vụ Minquiers và Ecrehos), tr. 78.
    [26] M.F. Lindley, The Acquisition and Government of Backward Territory in International Law (Sự Thủ đắc và Cai quản Lãnh thổ Cổ xưa (?) trong Luật Quốc tế), Negro University Press, New York, 1926, tr. 48.
    [27] Minquiers and Ecrehos case (vụ Minquiers và Ecrehos), tt. 56-7.
    [28] So sánh với Permanent Court of International Justice, Series A/B, no. 53, Legal Status of Eastern Greenland (Toà án Thường trực về Công lý Quốc tế, Chuỗi A/B, số 53, Tình trạng Pháp lý của Đông Greenland) (1933), tr. 45. Tòa án nhận định:
    …không cần thiết là chủ quyền trên Greenland phải hiện hữu trong suốt thời gian Chính quyền Đan Mạch cho rằng nó hiện diện. Ngay cả khi tài liệu đệ trình trước Tòa có thể coi là không đủ để thiết lập sự hiện hữu của chủ quyền này trong các giai đoạn
    trước, điều đó cũng không loại trừ phán quyết rằng tài liệu này đủ để thiết lập một chứng khoán chủ quyền hợp pháp trong giai đoạn ngay tức khắc trước sự chiếm lãnh.

    Trọng tài trong vụ Island of Palmas (Đảo Palmas), tr. 92, cũng phát biểu ý kiến tương tự:
    … không có thể đủ để thiết lập chứng khoán [chủ quyền] theo đó chủ quyền lãnh thổ được thủ đắc hợp pháp tại một thời điểm nào đó; cần phải chứng minh rằng chủ quyền lãnh thổ đã tiếp tục hiện hữu và đã hiện hữu tại ngay chính thời điểm mà sự quyết định cho việc tranh chấp phải được xem là [thời điểm] quyết định.
    [29] Vietnam’s Sovereignty (Chủ quyền của Việt Nam), tt. 11-30.
    [30] CHXHCNVN nêu ra việc các nhà cầm quyền VN gửi tàu ra quần đảo Hoàng Sa để săn tìm và thu thập các hải sản, nhưng trên khía cạnh này những hoạt động của VN cũng không khác mấy với những hoạt động của TQ trong cùng thời kỳ và cũng được ghi lại trong các niên sử đương thời [của TQ]. Về các hoạt động của VN và TQ xem Samuels, Contest for the South China Sea( Tranh giành Biển Đông). tt 31-44.
    [31] So sánh với vụ Island of Palmas (Đảo Palmas), tt. 106-8:
    Sự so sánh thông tin do hai phía [tranh chấp] đưa ra chứng tỏ rằng cần phải hết sức cẩn thận khi dựa vào các bản đồ để quyết định về vấn đề tranh chấp lãnh thổ … Bất kỳ bản đồ nào mà không chỉ rõ một cách chính xác sự phân bố chính trị của các lãnh thổ … ghi chú rõ ràng như thế, thì phải bị loại bỏ thẳng tay, trừ phi nó đóng góp – giả sử là bản đồ chính xác – vào việc xác định vị trí của các địa danh. Ngoài ra, những chỉ dẫn có tính chất như thế chỉ có giá trị khi ta có lý do để tin rằng người vẽ bản đồ đã không chỉ đơn giản tham chiếu các bản đồ có sẵn từ trước… mà ông ta đã quyết định dựa vào những thông tin do ông thu thập một cách thận trọng cho mục đích [vẽ bản đồ này]… Điều đầu tiên đòi hỏi các bản đồ muốn được sử dụng như là bằng cớ về pháp luật phải thỏa mãn là sự chính xác địa lý của chúng. Cần phải nêu ra ngay ở đây là không những chỉ những bản đồ thuộc thời cổ xưa, mà ngay cả những bản đồ hiện đại, chính thức hay bán chính thức cũng có thể thiếu chính xác. Dù sao đi nữa, thì một bản đồ cũng chỉ được xem như là một chỉ dẫn – và cũng chỉ là chỉ dẫn rất gián tiếp – và, ngọai trừ trường hợp nó là phụ đính trong một văn kiện pháp luật, nó không có giá trị của một văn kiện [pháp luật] như thế, liên quan tới việc thừa nhận hay từ bỏ các quyền [pháp lý].

  2. Hoàng Trường Sa viết:

    Kính gửi quý vị bản “tạm dịch” đoạn trích từ sách của Tiến sĩ Greg Austin đã post trước đây. Để có một bản dịch đúng nghĩa cần phải do một dịch giả chuyên nghiệp hơn thực hiện. Tôi xin chân thành cám ơn bạn Phùng Tường Vân đã góp ý giúp đỡ cho trong vài chỗ khó dịch. Mọi lỗi sai sót dĩ nhiên là của cá nhân tôi. Mong quý vị rộng lượng tha thứ và chỉ cho tôi để sửa lại. Xin cám ơn quý vị trước.

    CHỨNG KHOÁN CHỦ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC 1816 ?

    CHNDTH và CHXHCNVN cả hai đều tuyên bố rằng quần đảo Hoàng Sa
    [Paracel] là sở hữu của những chính phủ tiền nhiệm của nước họ từ thuở xa xưa và đó chính là cơ sở mà ngày hôm nay tuyên bố chủ quyền của họ có giá trị.

    Cơ sở của tuyên bố chủ quyền của CHNDTH trên các đảo ở Biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa, đã được diễn tả trong tờ báo Beijing Review (Tạp chí Bắc Kinh) vào năm 1975 như sau:
    Hơn 2 000 năm trước, người TQ đã giong thuyền trên những làn sóng dữ của Nam Hải, như được ghi chép trong các cổ thư TQ. Cho đến các triều đại Tây và Đông Hán (206 trước Tây lịch, 220 sau Tây lịch), Nam Hải đã trở nên một đường giao thông hàng hải quan trọng của TQ. Khi nền hàng hải phát triển dần, nhiều năm tháng vượt trùng dương đã cho phép người TQ trở nên những người khám phá đầu tiên và là chủ nhân của các đảo trên Nam Hải. Thám sát và đặt tên lần này qua lần khác, lao động và quản lý hành chánh không ngừng nghỉ, những hải đảo giá trị này đã trở nên một phần của quê mẹ đẹp đẽ của chúng tôi.[4]

    Những điểm đại cương giống như vậy đã được lặp lại trong một tuyên bố của Bộ Ngoại giao CHNDTH vào năm 1980:
    Trung Quốc là nước đầu tiên đã khám phá, phát triển và quản lý các quần đảo Tây Sa [Paracel] và Nam Sa [Spratly]. Thẩm quyền tài phán trên các quần đảo này đã được những chính phủ TQ tiếp nối nhau thực thi một cách liên tục trong hơn 1 000 năm. [5]

    Khi đóng khung cho cơ sở tuyên bố chủ quyền theo lối này, CHNDTH đã làm nổi bật hai điểm: rằng những chế độ TQ trước đây đã khám phá ra những quần đảo này, và rằng những quần đảo đó đã tiến dần tới chỗ thuộc vào chủ quyền của TQ.

    CHXHCNVN cũng đưa ra những tuyên bố chủ quyền tương tự:
    Quốc gia VN đã chiếm hữu hữu hiệu quần đảo Hoàng Sa [Paracel] và quần đảo Trường Sa [Spratly] đã từ lâu khi chúng chưa thuộc vào chủ quyền của bất cứ nước nào cả. Trong vài thế kỷ từ đó đến nay, quốc gia VN đã thực thi chủ quyền một cách hữu hiệu và liên tục trên hai quần đảo này.[6]

    Cả CHNDTH lẫn CHXHCNVN trong các tuyên bố của họ đều có vẻ như là thấy không cần thiết phải tách rời ra thành nhóm đảo trong việc biện hộ cho trường hợp của mình: nghĩa là, không cần phải chứng minh họ đã thực hiện chủ quyền trên từng đảo riêng lẻ hay từng đá khô, và rằng bằng chứng về chủ quyền trên một đảo nhỏ có thể nới rộng ra như là bằng chứng chủ quyền trên những đảo nhỏ khác cách xa có thể đến 100 hay 200 kilômét. Cách tiếp cận này là không thể biện hộ được trong luật quốc tế bởi vì sự phô diển chủ quyền phải được ‘cho thấy là cảm nhận được qua toàn lãnh thổ’.[7] Mặc dầu CHNDTH và CHXHCNVN xem quần đảo Hoàng Sa như một thực thể địa lý đơn độc, khoảng cách giữa những đảo trong nhóm cũng không mấy khác biệt với khoảng cách giữa [đảo] Palmas và Đông Ấn của Hà Lan, mà trong vụ phân xét này trọng tài đã diển tả đảo Palmas như là ‘một lãnh thổ tách rời cá biệt’.[8]

    Tuy nhiên, vì cả hai phía tranh chấp chủ quyền đều xem quần đảo này như là một thực thể [đơn độc] theo cách này, nên có lẽ cũng không quá đáng đối với mục đích của cuốn sách này khi ta thảo luận điểm mạnh của chủ quyền của CHNDTH dựa trên căn bản cách nhìn này của cả hai bên CHNDTH và Việt Nam. Trong vụ tranh chấp Minquiers và Ecrehos , Tòa án Quốc tế đã được hai bên tranh chấp đặc biệt đòi xét hai nhóm đảo như là hai thực thể địa lý [khác nhau].[9]

    Sự kiện là quần đảo Hoàng Sa trải rộng trên một khu vực lớn hơn hẳn cả nhóm đảo Minquiers lẫn nhóm đảo Ecrehos có lẽ cũng không phải là một trở ngại
    nếu những nước có thể tranh chấp cùng thỏa thuận coi nó [quần đảo Hoàng Sa] như là một thực thể địa lý đơn độc trong mục đích nhằm giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Nếu một bên hoặc cả hai bên đòi tách nó ra làm hai nhóm thì cách tiếp cận dưới đây sẽ không còn đúng nữa.

    Tuyên bố của CHNDTH rằng TQ đã khám phá ra quần đảo Hoàng Sa rất khó mà chứng thật bởi lẽ cần phải chứng minh ngày khám phá và người khám phá, và xác định chính xác là những đảo nào đã thực sự được khám phá trong cái biến cố giả định về việc khám phá này.

    Tuy nhiên, mệnh đề rằng TQ là nước đã khám phá (theo nghĩa pháp lý) quần đảo Hoàng Sa vào một thời điểm nào đó trước cuối thế kỷ 13 có thể không phải là một kết luận không hợp lý từ bằng cớ có được. Những khoản chính về bằng cớ mà mệnh đề này có thể dựa vào là: tài liệu tham chiếu nói rằng [TQ] đưa một đội tàu hải quân đến tuần tiểu trong vùng này vào một lúc nào đó trước năm 1063;[10] tài liệu nói rằng trong một cuộc khảo sát do TQ thực hiện vào năm 1279, một điểm khảo sát thiên văn đã được đặt tại vùng đất nằm nơi nào đó ở Nam Hải khá gần với quần đảo Hoàng Sa;[11] và tài liệu tham chiếu trong một đồ bản thực hiện trong khoảng thời gian giữa 1225 và 1245 có vẽ hình tương tự như quần đảo Hoàng Sa, nằm theo hướng chính từ Hải Nam của quần đảo Hoàng Sa, và được đặt tên gần giống với tên sau này của quần đảo.[12]

    Những điều này tự nó không phải là chứng minh dứt khoát. Khả năng kỹ thuật đương thời về hàng hải của TQ [13] và sự ưu thắng về hàng hải của triều đại Hậu Tống (960-1279) và triều Nguyên (1278-1368) trên biển Nam Hải [14] đã cung cấp những hỗ trợ gián tiếp. Gợi ý của CHNDTH rằng các đảo này đã được TQ khám phá
    từ thời Tam Quốc (220-265)[15](dù là với bất cứ ý nghĩa pháp lý đáng kể nào) đều không được chứng minh qua bất cứ bằng cớ nào do CHNDTH hay những lời bình luận về chủ đề này đưa ra.

    Trong khi sự ‘khám phá’ quần đảo Hoàng Sa của TQ theo nghĩa đầy đủ nhất là họ đã nhìn thấy trước tiên không thể chứng tỏ với bất kỳ tính chắc chắn nào, không có nước nào khác đã đưa ra bằng cớ là họ đã khám phá ra quần đảo này trước những biến cố được diển tả trong các nguồn tài liêu TQ. Những tài liệu sớm nhất về quần đảo Hoàng Sa mà CHXHCNVN đã có thể cung cấp từ những văn kiện lịch sử VN là một bản sao của một đồ bản trong thế kỷ 17 giả định là bắt đầu trong triều đại của Hoàng đế Hùng Đức của An Nam (1460-97).[16]

    CHXHCNVN đã khá lờ mờ về việc bình luận công khai liệu cái bản đồ này là chỉ chung cho cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không. Vì lý do này, cần phải giữ độ nghi ngờ trầm trọng về giá trị có thể có của tài liệu này trong những tuyên bố của CHXHCNVN về việc khám phá ra quần đảo Hoàng Sa. Hơn nữa, những đảo được nói tới trong bản đồ là Bãi Cát Vàng (trong tiếng Anh là ‘Golden sandbank’), một danh xưng mà CHXHCNVN đã diển tả rằng ‘Còn gọi là Hoàng Sa , hay Vạn Hoàng Sa , hay Đại Trường Sa , hay Vạn Lý Trường Sa [17]

    Trong những tài liệu lịch sử khác do CHXHVNVN nêu ra, cũng có sự lẫn lộn về danh xưng như thế.[18] CHXHCNVN giải thích sự lẫn lộn này bằng cách nói là hầu hết mọi bản đồ hải hành Tây phương giữa thế kỷ 16 và 18 đã ghi hai nhóm đảo này (Hoàng Sa và Trường Sa) dưới cùng một tên đơn độc – Pracel, Parcel hay Paracel Islands. [19]

    Sự lẫn lộn về đồ bản và danh xưng được thấy trong nhiều nguồn tài liệu xưa của VN và được CHXHCNVN thừa nhận cũng thường thấy trong các tài liệu lịch sử của TQ. Sự khác biệt chính yếu giữa các nguồn tài liệu TQ và VN là sự lẫn lộn của TQ chủ yếu là giữa những tên cho quần đảo Hoàng Sa mà thôi trong khi sự lẫn lộn của VN là giữa những tên cho quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những kết luận dứt khoát về những đảo nào đang được đề cập đến trong những hồ sơ đặc biệt nào cũng rất khó để phân biệt vì thiếu một phương pháp để xác định một vị trí chính xác, như vĩ độ và kinh độ, và vì tính thiếu chính xác của các bản đồ thời Trung cổ.[20]

    Về quần đảo Hoàng Sa, CHNDTH có thể bênh vực trường hợp của việc TQ khám phá ra những đảo này trên cơ sở cuộc khảo sát thiên văn năm 1279 và những sự kiện khác đã được đề cập trên đây. Sự nhận biết ra quần đảo Hoàng Sa của TQ như được ghi trong tài liệu [của TQ] có vẻ đã xảy ra trước những thời điểm sớm nhất [mà VN khám phá ra] trong các tài liệu quy chiếu từ phía VN chừng khoảng hai trăm năm.

    Vì CHXHCNVN tuyên bố là quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về VN từ thuở xa xưa, có vẻ sẽ là một gánh nặng cho CHXHCNVN để chứng minh rằng VN đã sở đắc
    [quần đảo này] trước bất cứ sở đắc nào của TQ.

    Sự kiện là các vương quốc VN trong thế kỷ 18 không xem quần đảo Hoàng Sa như là lãnh thổ của VN đã được một tác giả Pháp ám chỉ vào năm 1837 khi ông này diển tả hành vi tiếp thu vào năm 1816 của Vua Gia Long của An Nam, người đã có chủ đích sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào lãnh thổ của ông như là một phần đất mới. Hồ sơ lịch sử này, được CHXHCNVN kê ra, nói :
    …vua Gia Long nghĩ rằng Ngài đã nới rộng cương thổ của Ngài bằng cách thâu nhận thêm vùng đất hèn mọn này. Vào năm 1816 Ngài đã trịnh trọng ra cắm cờ và làm lễ chính thức sở hữu những đảo đá này, mà có vẻ như không ai khác sẽ tranh chấp với Ngài.[21]

    Nếu, theo như CHXHCNVN đã tuyên bố, một ông vua VN đã ra quần đảo Hoàng Sa để chiếm hữu quần đảo này bằng một lễ chính thức, thì e rằng CHXHCNVN khó có thể biện hộ cho cái lập trường rằng những hòn đảo này đã được ông ta xem như là đã thuộc VN trước đó – từ thuở xa xưa.

    Bởi vì CHXHCNVN không thể phản bác cái mệnh đề rằng quần đảo Hoàng Sa đã được TQ khám phá, và bởi vì không có bất kỳ nước nào khác đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa trong thời gian này, ta có thể nói rằng TQ đã bắt đầu tạo dựng được chứng khoán [chủ quyền] vào thời điểm đó trên căn bản là TQ đã khám phá ra quần đảo này vào một lúc nào đó trong thế kỷ 18.

    Nếu TQ đã lập được một chứng khoán chủ quyền sơ khởi do việc khám phá, nước này vẫn còn bị đòi hỏi phải hoàn tất chứng khoán chủ quyền này bằng sự chiếm đóng hữu hiệu tiếp theo đó cùng với việc đưa quần đảo này nhập vào lãnh thổ thuộc chủ quyền TQ.

    Như đã được thảo luận trong phần Phụ đính I, các kiểu hành động đòi hỏi một quốc gia phải thực hiện để đưa một lãnh thổ mới khám phá vào chủ quyền của mình sẽ thay đổi tùy theo hoàn cảnh địa lý của lãnh thổ này. Những đảo nhỏ trong quần đảo Hoàng Sa có nhiều điểm chung với đảo Clipperton về phương diện những hành động nào cần đòi hỏi một quốc gia phải thực hành để tạo nên việc chiếm giữ hữu hiệu.[22] Áp dụng một phép khảo hạch dùng từ vụ phân xử Đảo Clipperon, ta có thể lý luận rằng quần đảo Hoàng Sa đã thuộc hẳn vào TQ ‘từ thời điểm đầu tiên’ khi TQ, nước chiếm đóng, xuất hiện trên quần đảo này.[23] Ta có thể lý luận rằng sẽ không có ai chống đối lại việc TQ kiểm soát quần đảo vào giai đoạn mà TQ có ưu thắng về hàng hải trong khu vực từ thế kỷ 13 đến giữa thế kỷ 15.[24]

    Ngoài ra, ta có thể phát biểu rằng TQ, khi sử dụng quần đảo Hoàng Sa như là một điểm quan sát trong cuộc khảo sát thiên văn cho toàn TQ vào năm 1279, đã thực hiện một hành động chủ quyền tại Hoàng Sa đủ để đưa những hòn đảo cô độc, bé nhỏ này vào sự sở hữu của TQ.

    CHNDTQ cũng có thể dựa vào ngay cả khái niệm quyền lực ưu thế trong ý kiến bất đồng của quan tòa Basdevant trong vụ án Minquiers và Ecrehos [25] để lý luận rằng vị thế của TQ như là quyền lực ưu thế trong các thế kỷ 13 và 14, cùng với chứng cớ về việc trình diễn các hoạt động có tính quốc gia đối với quần đảo Hoàng Sa, có thể đủ để tạo lập chủ quyền của TQ trên quần đảo Hoàng Sa vào thời gian đó.

    Ngay cả khi bằng cớ sẵn có đã ủng hộ các tuyên bố chủ quyền TQ vào một thời điểm nào đó trong thời Trung cổ, thì vẫn còn một đòi hỏi khác là phải xem xét những biến cố từ thời điểm đó đến nay, để xem liệu TQ có duy trì được chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa từ đó đến nay hay không. Bởi vì, nói cho cùng thì một nguyên tắc sơ đẳng về việc thủ đắc chủ quyền lãnh thổ là sau khi thủ đắc được, chủ
    quyền này có thể bị từ bỏ hay đánh mất qua một loạt những cơ chế khác nhau, như đình chỉ, xâm chiếm, hay thời hiệu.[26] Đòi hỏi này về việc phải xem xét những biến cố theo sau [ngày thủ đắc] có thể loại trừ việc CHNDTH cần phải dựa quá nhiều vào những biện hộ có phần đáng nghi ngờ hoặc vào những điểm bằng cớ đã được nêu ra trong những đoạn trước về việc TQ khám phá và sau đó sở hữu quần đảo Hoàng Sa vào một lúc nào đó trong thế kỷ 13 hay 14. Tòa án Công lý Quốc tế ICJ đã nhận định trong vụ Minquiers and Ecrehos rằng không cần thiết phải giải quyết các cuộc tranh cãi lịch sử liên quan tới các chứng khoán chủ quyền thời phong kiến và các phát triển theo sau đó; sự quan trọng quyết định cần phải được dựa vào bằng chứng liên quan trực tiếp tới việc sở hữu chính các đảo này chứ không phải là những giả định gián tiếp suy đoán ra từ các biến cố thời Trung cổ.[27] Do đó, có vẻ như là bất cứ tòa án quốc tế nào, trước sự nghèo nàn về bằng cớ về các mối liên kết giữa TQ và VN đối với quần đảo Hoàng Sa trong thời Trung cổ, cũng sẽ phải đặt nhiều giá trị chứng cớ hơn cho các bằng cớ từ các thời cận đại liên quan trực tiếp đến việc sở hữu quần đảo Hoàng Sa hơn là những biến cố không rõ ràng vào thế kỷ 13.

    Như vậy, ngay cả khi TQ đã thiết lập được bằng khoán chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa trên cơ sở các biến cố trong thế kỷ 13, CHNDTH vẫn cần phải chứng minh rằng trong những thời gian theo sau đó, khi VN tìm cách thiết lập chủ quyền cạnh tranh với họ trên quần đảo này, TQ vẫn sở đắc một bằng khoán chủ quyền có giá trị hợp pháp đủ để ngăn cản bất cứ hành vi nào của VN muốn tiêu hủy bằng khoán của TQ.[28]

    Không có bằng cớ mạnh mẽ về việc bất cứ vương quốc VN nào đã thực hiện chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa trước năm 1816. Những hồ sơ do CHXHCNVN trưng ra chỉ nói lên kỳ vọng của các tác giả rằng các đảo này (mà trong vài trường hợp có thể là quần đảo Trường Sa dễ dàng như là quần đảo Hoàng Sa) là thuộc về lãnh thổ VN.[29] Các hồ sơ này cũng chứa các diễn tả về các hoạt động thương mại. Những hồ sơ chính thức của CHXHCNVN không đưa ra được bằng cớ nào về các hoạt động trước năm 1816, qua đó cho thấy VN đã thực thi quyền tài phán [thẩm quyền] trên các đảo này.[30] Do đó, tính quan trọng pháp lý của các bản đồ và niên sử trước 1816 do CHXHCNVN nêu ra về tranh chấp lãnh thổ có vẻ như không đáng kể bởi vì chúng không chứa bằng cớ về việc thực thi chủ quyền quốc gia trên quần đảo.[31]

  3. Hoàng Trường Sa viết:

    Xin lỗi quý vị, tôi đánh máy sót footnote 13. Do đó, [13] trong danh sách trên thật ra là [14].
    Xin quý vị vui lòng sửa footnotes 13 và 14 lại như sau đây:
    [13] By the twelfth century, China’s nautical engineering skills, including the unique contribution of watertight compartment and the use of the mariner’s compass, permitted the development of distant water fleets. Samuels, Contest for the South China Sea, p. 14.
    [14] There are several historical records which outline frequent voyages through the South China Sea by the late Song and Yuan dynasty fleets. In 1282, the fleets of Khubilai Khan attacked Champa (southern Vietnam) and in 1293 a fleet of over a thousand vessels sailed to Java. The Yuan dynasty had developed an elaborate bureaucratic apparatus for the promotion of this trade. One chronicle from this period does refer to islets, rocks and reefs but not by name. Another chronicle notes that the various states of the Yue Sea are ‘commonly called’ wanli shitang. See Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 19-20, who mentions this reference to wanli shitang as ‘states’. However, Samuels does not argue that this reference shows a Chinese belief that the wanli shitang were Chinese territory.

    Tôi đang cố gắng dịch ra Việt ngữ đoạn tiếng Anh và footnotes đã post để các độc giả trong nước tiện theo dõi. Vì sách của Tiến sĩ Greg Austin viết theo văn phong của giới luật gia, và khả năng Anh ngữ của tôi còn hạn chế, chắc chắn sẽ có những sai sót. Kính mong quý vị thông cảm và cho tôi biết (nếu thấy) để tôi sửa chữa lại. Xin cám ơn quý vị rất nhiều.

  4. Hoàng Trường Sa viết:

    Footnotes

    [4] Peking Review, vol.18, no. 50, p. 10-11 as quoted in Choon-ho Park, ‘The South China Sea Disputes: Who Owns the Islands and the Natural Resources?”, Studies in East Asian Law, no. 26, Harvard Law School, Cambridge MA, 1978, p. 32. Much of the PRC and SRV argumentation for the period up to 1800 cites information relating only to the Paracel group and then, without explanation, uses this information to support the claims to the Spratly Islands. Given that the distance between the two groups is about 500 km at the closest and given the huge expanse of area taken in by the Spratly group, it seems obligatory to treat the Paracel and Spratly groups as least at [HTS ghi chú: tác giả viết lầm, phải là “at least as”] two distinct legal units, if not more, as the Philippines and Malaysia argue in respect of the Spratly Islands.
    [5] Ministry of Foreign Affairs of the PRC, ‘China’s IndisputableSovereignty over the Xisha [Paracel] and Nansha [Spratly] Islands’, Beijing Review, vol. 23, no. 7, 1980, pp. 15, 18.
    [6] ‘SRV Press on PRC Occupation of Paracel Islands’, FBIS Daily Report Asia and Pacific, 24 January 1984, K1, K3.
    [7] Island of Palmas case (1928), as an Appendix (pp. 88-126) in R.Y. Jennings, The Acquisition of Territory in International Law, Manchester University Press, Manchester, 1963, p. 109.
    [8] ibid.
    [9] See The Minquiers and Ecrehos case, Judgment of November 17th, 1953: ICJ Reports 1953, p. 53 (hereafter, Minquiers and Ecrehos case).
    [10] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, p. 16. The source is Wu Jing Zong Yao [Outline Record of Military Affairs] which, according to the PRC, uses the name Jiuruluozhou, which can be translated as nine isles of cowry, for the Paracel Islands. The names, it appears, were not standardised in the early texts and it is unclear which islands were specifically referred to. Some examples of variations can be seen in the discussion of the historical texts by Heinzig, Disputed Islands in the South China Sea, pp. 22-33 and Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 16-38. It is far from clear whether the terms used were merely descriptions or were proper names given by the Chinese to identify Chinese territory.
    [11] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, p. 16. There is nothing cited in this article to prove conclusively that the astronomical observation was made on an island in the Paracel group although this could be inferred from the mission of the astronomers (as described in the 1980 article) to establish astronomical observation points within the bounds of China. However, the observation point, called Nanhai (the name given today to the South China Sea), was south of Hainan Island and was given a latitude of 15 N. Even with the PRC’s explanation of how a given latitude calculated in that period is really equivalent to latitude (according to modern calculations) one degree further north, one can be sceptical about a claim that the observation was made on the Paracel Islands. The Paracel Islands do lie between 16 N and 17 N but the bigger islets lie closer to 17 N. An expert opinion on this matter of the evolution of geographical coordinates is required.
    [12] ibid. p. 17. The PRC asserts that these references in chronicles to the islands or banks cover not only the Paracel Islands but also the Spratly group. This is not borne out by the usage of names in other texts.
    [13] There are several historical records which outline frequent voyages through the South China Sea by the late Song and Yuan dynasty fleets. In 1282, the fleets of Khubilai Khan attacked Champa (southern Vietnam) and in 1293 a fleet of over a thousand vessels sailed to Java. The Yuan dynasty had developed an elaborate bureaucratic apparatus for the promotion of this trade. One chronicle from this period does refer to islets, rocks and reefs but not by name. Another chronicle notes that the various states of the Yue Sea are ‘commonly called’ wanli shitang. See Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 19-20, who mentions this reference to wanli shitang as ‘states’. However, Samuels does not argue that this reference shows a Chinese belief that the wanli shitang were Chinese territory.
    [15] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, p. 15.
    [16] Vietnam’s Sovereignty over the Hoang Sa [Paracel] and Truong Sa [Spratly] Archipelagoes, Information and Press Department, Ministry of Foreign Affairs, Hanoi, 1979, pp. 10-11 (referred to below as Vietnam’s Sovereignty).
    [17] ‘Text of White Book on Spratlys, Paracels’, FBIS Daily Report, Asia and Pacific, 18 January 1982, K3 (referred to below as ‘Text of White Book’).
    [18] The Phu Bien Tap Luc (1776) talks of a cluster of over 130 islets and rocks lying to the ‘northeast of this village’ of An Vinh. This same document then goes on to describe the activities of the Hoang Sa detachment, a group of salvagers and harvesters of sea life, sent every year to the islands by the Vietnamese rulers. In Dai Nam Nhat Thong Chi (1882), the Hoang Sa islands are said to stretch east of Re island, to number 130, to spread over several thousand dam (one dam roughly equals half a kilometre0, and to be popularly called Van Ly Truong Sa. ‘Text of White Book’, K5-K6.
    [19] ‘Text of White Book’, K3.
    [20] In the old maps of the South China Sea, the islands or sandbanks do not appear either in exact locations or in any sort of scale but as oval shapes, the size of which are governed by the size of the characters used to write their names inside the oval shape. The main cartographic value in such maps was perhaps to identify the existence of sandbanks, to give them a name, and to give a very rough idea of their geographical location relative only to each other. Even Chinese maps of the mid-nineteenth century show a lack of precision that verges on the cartoon-like in defining mainland features. Such maps pose considerable difficulties for any state to rely on them as the foundation of a claim to territorial sovereignty.
    [21] Samuels, Contest for the South China Sea, p. 49. Quoted from an article written in 1837 by Father Jean-Louis Taberd, a French cleric, and printed as ‘Note on the Geography of Cochinchina’, in the Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, April 1937.
    [22] If, as discussed in Appendix I, distinctly oriental conceptions of sovereignty (personal rule) from the pre-nineteenth century were operating, then a territory not regularly inhabited by the subjects of a ruler may not have been considered as territory belonging to that ruler. If so, then the requirements for physical occupation as a test might arguably be stronger under such a non-spatial conception of sovereignty than under the European view of international law which only required effective occupation, possibly some legal administration, rather than a necessary physical presence of the ruler’s subjects. The concept of ‘effective occupation’ could be appropriate for the times when East Asian states were still not full participants in the international community as understood in European conceptions of international law.
    [23] Compare, ‘Arbitral Award on the Subject of the Difference Relative to the Sovereignty over Clipperton Island, decision rendered at Rome, January 28, 1931 (France-Mexico)’, American Journal of International Law, vol. 26, no. 2, April 1932, pp. 390, 394 (hereafter Clipperton Island arbitration).
    [24] Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 14-23, gives an account of powerful Chinese naval capacities in Southeast Asia over three centuries which was used to extend the tribute system in Southeast Asia, but he asserts that this system was that of a commercial relationship and not a genuine suzerainty relationship between China and the tributary states. He also reports that this position was abandoned by China beginning in the mid-fifteenth century.
    [25] This suggestion is made in respect of the Senkaku islands by Tao Cheng, ‘The Sino-Japanese Dispute over the Tiao-yu-tai (Senkaku) Islands and the Law of Territorial Acquisition’, Virginia Journal of International Law, vol. 14, no 2, Winter 1974, pp. 240-1.
    Basdevant argued:
    … in the case of the Ecrehos and the Minquiers, islets and rocks which are practically uninhabited and most of which are uninhabited…for the King of England to hold them, it is not necessary that he should maintain a garrisson there; it is sufficient that by reason of his military and naval power he should be in a position to intervene there when he considers it appropriate without being prevented from doing so by the forces of the King of France and that, by the same token, he should be in a position to prevent intervention by these forces.
    Minquiers and Ecrehos case, p. 78.
    [26] M.F. Lindley, The Acquisition and Government of Backward Territory in International Law, Negro University Press, New York, 1926, p. 48.
    [27] Minquiers and Ecrehos case, pp. 56-7.
    [28] Compare, Permanent Court of International Justice, Series A/B, no. 53, Legal Status of Eastern Greenland (1933), p. 45. The court observed:
    …it is not necessary that sovereignty over Greenland should have existed throughout the period during which the Danish Government maintains that it was in being. Even if the material submitted to the Court might be thought insufficient to establish the existence of that sovereignty during the earlier periods, this would not exclude a finding that it is sufficient to establish a valid title in the period immediately preceding the occupation.
    The arbitrator in the Island of Palmas case, p. 92, expressed a similar view:
    …it cannot be sufficient to establish the title by which territorial sovereignty was validly acquired at a certain moment; it must also be shown that the territorial sovereignty has continued to exist and did exist at the moment which for the decision of the dispute must be considered as critical.
    [29] Vietnam’s Sovereignty, pp.11-30.
    [30] The SRV cites the dispatch of ships by Vietnamese rulers to the islands for salvage and for harvesting sea animals but in this respect the Vietnamese activities were little different from the Chinese activities of the same period also recorded in contemporary chronicles. For a description of the Vietnamese and Chinese activities, see Samuels, Contest for the South China Sea, pp.31-44.
    [31] Compare, Island of Palmas case, pp. 106-8:
    A comparison of the information supplied by the two Parties shows that only with greatest caution can account be taken of maos in deciding a question of sovereignty…Any maps which do not precisely indicate the political distribution of territories…clearly marked as such, must be rejected forthwith, unless they contribute – supposing that they are accurate – to the location of geographical names. Moreover, indications of such a nature are only of value when there is reason to think that the cartographer has not merely referred to already existing maps…but that he has based his decision on information carefully collected for the purpose…The first condition required of maps that are to serve as evidence on points of law is their geographical accuracy. It must here be pointed out that not only maps of ancient date, but also modern, even official or semi-official maps seem wanting in accuracy…Anyhow, a map affords only an indication – and that a very indirect one – and, except when annexed to a legal instrument, has not the value of such an instrument, involving recognition or abandonment of rights.

  5. Hoàng Trường Sa viết:

    Kính thưa quý vị,

    Dưới đây là đoạn thứ nhất trong hai đoạn mà tôi sẽ trích từ cuốn CHINA’ S OCEAN FRONTIER của Tiến sĩ Greg Austin mà tôi đề cập trong ý kiến trước. Tôi sẽ cố gắng dịch ra tiếng Việt và post lên sau (cùng với các footnotes – khá dài).
    Trong khi chờ đợi, kính mời những vị biết Anh ngữ đọc trước và xem thử có cách gì để phản bác các “bằng chứng lịch sử giả tạo” của TQ mà ông Austin đã chấp nhận một cách quá dễ dàng (đến độ tôi thấy vô lý) trong khi các tài liệu và bản đồ do phía VN đưa ra (cho giai đoạn trước 1816) lại bị bác bỏ thẳng tay. Vấn đề là liệu ta có cách gì trình bày các tài liệu và bản đồ lịch sử (của phía VN) một cách thuyết phục hơn hay không?

    A CHINESE TITLE PRIOR TO 1816?

    The PRC and SRV each claim that the Paracel Islands were the possession of its predecessor governments from time immemorial and that this constitutes the basis of a valid claim today.
    The basis of the PRC claim to the islands of the South China Sea, including the Paracel Islands, was described by the Beijing Review in 1975 as follows:
    More than 2,000 years ago, Chinese people were already sailing on the turbulent waves of the South China Sea, as recorded in ancient Chinese literature. By the time of the Western and Eastern Han dynasties (206 B.C. 220 A.D.). the South China Sea had become an important navigation route fot China. As navigation steadily developed, long years of sailing the seas enabled the Chinese people to become the first discoverers and masters of the South China Sea Islands. Surveyed and named time and again and worked and administered without a break, these valuable islands became part of our beautiful motherland.[4]
    The same general points were reiterated in a PRC Foreign Ministry statement of 1980:
    China was the first to discover, develop and administer the Paracel and Spratly Islands. Consecutive jurisdiction was exercised over them by successive Chinese Governments for more than 1,000 years. [5]
    In framing the basis of the claim in this way, the PRC is highlighting two points: that former Chinese regimes discovered these islands, and that these islands were progressively subjected to Chinese sovereignty.
    The SRV makes similar claims:
    The state of Vietnam took effective possession of the Hoang Sa [Paracel] and Truong Sa [Spratly] archipelagoes long ago when they were not under the sovereignty of any nation. For several centuries ever since, the state of Vietnam has been effectively and continuously exercising its sovereignty over these two archipelagoes. [6]
    Both the PRC and the SRV appear to assume in their statements on the Paracel Islands that there is no necessity to disaggregate the island group in arguing their case: that is, that there is no need to prove the exercise of sovereignty over each individual islet or drying rock and that evidence of sovereignty over one islet could be extrapolated to be evidence of sovereignty over other islets up to 100 or 200 km distant. This approach would not appear to be defensible in international law since the display of sovereignty should ‘make itself felt through the whole territory’.[7] Even though the PRC and the SRV treat the Paracel Islands as a single geograhic entity, the distances between islands within the group are not much different from the distance between Palmas and the Dutch East Indies, in which case the arbitrator described the Island of Palmas as a territory ‘clearly delimited and individualized’.[8]
    However, since both the claimants do treat the islands as an entity in this way, it would not appear to be unreasonable for the purposes of this book to discuss the strength of the PRC title on the basis of the apparent PRC and Vietnamese assumption. In the Minquiers and Ecrehos case , the International Court was specifically asked by the parties to treat the two island groups as two geographical entities.[9]
    The fact that the Paracel Islands are spead over a far greater area than either the Minquiers and Ecrehos groups would not appear to be germane if the only potential claimants agree to treat the Paracel Islands as a single geographical entity for the purposes of solving the territorial dispute. If either or both sought to differentiate the two groups, the approach outlined below would not hold.
    The PRC claim that China discovered the Paracel Islands is difficult to corroborate in so far as it would be necessary to establish a date and a discoverer, and to identify precisely the actual islands in question in the presumed historical event of discovery.
    Nevertheless, the proposition that China was the discoverer (in the legal sense) of the Paracel Islands some time before the end of the thirteen century may not be an unreasonable conclusion from the evidence available. The principal items of evidence on which this conclusion may rest are: a reference to the dispatch of a naval patrol to this area sometime before 1063;[10] the reference, during a survey conducted by China in 1279, to an astronomical survey point lying on land somewhere in the South China Sea fairly close to the Paracel Islands;[11] and a reference in an atlas compiled between 1225 and 1245 to features similar to the Paracel Islands, lying in the general direction from Hainan of the Paracel Islands, and being named with names that approximate later terminology of the islands.[12]
    These are in themselves not conclusive proof. The contemporary technological capability of Chinese shipping [13] and the maritime preminence of the late Song Dynasty (960-1279) and the Yuan dynasty (1276-1368) in the South China Sea [14] provide indirect support. The PRC suggestion that the islands were discovered in any legally significant sense in the Three Kingdoms period (220-265) [15] has not been substantiated in any of the evidence advanced by the PRC or other commentaries on this subject.
    While the ‘discovery’ of the Paracel Islands by China in the full sense of first seeing cannot be established with any certainty, no other state has brought forward evidence that it discovered them before the events described in Chinese sources. The earliest references to the Paracel Isalnds that the SRV has been able to produce in Vietnamese historical records date from a seventeenth century copy of an atlas supposedly begun in the reign of the Hung Duc Emperor of Annam (1460-97).[16]
    The SRV is quite unclear in its public comment whether that atlas refers collectively to the Paracel and Spratly Islands. For this reason, there must be serious reservations about the probative value of this document for the SRV claims of discovery of the Paracel Islands. Moreover, the islands referred to in the atlas are
    Bai Cat Vang
    (‘Golden sandbank’ in English), a term the SRV described as ‘Otherwise called Hoang Sa or Van Hoang Sa, or Dai Truong Sa, or Van Ly Truong Sa’.[17]
    In other historical documents cited by the SRV, the same confusion of names appears to exist.[18] The SRV explains this confusion by saying that almost all Western navigators’ maps between the sixteenth and eighteenth centuries marked these two groups (Paracel and Spratly) under one single name – Pracel, Parcel or Paracel Islands.[19]
    The cartograhic and terminological confusion that is apparent in the older Vietnamese sources and acknowledged by the SRV is no less evident in the historical sources cited by the PRC. The main difference between the Chinese and Vietnamese sources is that the Chinese confusion is mainly between names for the Paracel Islands only while the Vietnamese confusion is between names for the Paracel and Spratly Islands. Firm conclusions as to which islands were being referred to in paticular documents are also difficult to make because of the lack of a method of giving a precise location, such as latitude and longitude, and the inexact nature of medieval maps.[20]
    In respect of the Paracel Islands, the PRC may be able to support its case of China’s discovery of the islands on the basis of the 1279 astronomical survey and other facts referred to above. China’s documented knowledge of the Paracel Islands certainly appears to predate the earliest possible Vietnamese references to them by about two hundred years.
    Since the SRV asserts that the Paracel Islands have been Vietnamese since time immemorial, there would appear to be a burden of proof on the SRV to prove Vietnamese possession prior to any Chinese possession.
    That the Vietnamese kingdoms of the eighteenth century did not see the Paracel Islands as Vietnamese territory was implied by a French writer in 1837 who described the alleged act in 1816 of King Gia Long of Annam, who purported to annex anew the Paracel Islands as his territory. This historical document, which is cited by the SRV, says:
    …the king Gia Long thought he had increased his dominion by this sorry addition. In 1816 he went with solemnity to plant his flag and take formal possession of these rocks, which it is not likely anybody will dispute with him. [21]
    If, as the SRV asserts, a Vietnamese king went to claim the Paracel Islands as Vietnamese territory by this formal act, it is unlikely that the SRV could defend the position that the islands had been regarded by him as Vietnamese before that – since time immemorial.
    Since the SRV is unable to disprove the proposition that the Paracel Islands were discovered by China, and in the absence of claims by any other state to sovereignty over the Paracel Islands at that time, China could be said to have begun to established a title at the time of a purported discovery by it some time before the end of the eighteen century.
    If China had established some inchoate title by way of discovery, it would still have been required to complete that title through subsequent effective occupation and subjection of the islands to Chinese sovereignty.
    As discussed in Appendix I, the types of acts required of a state to subject discovered territory to its sovereignty will vary with the geographical circumstances of the territory. The individual islets of the Paracel group would appear to have much in common with Clipperton Island from the point of view of what acts may be required by a state to constitute effective occupation.[22] To apply a test used in the Clipperton Island arbitration, it could be argued that the Paracel Islands were at the exclusive disposition of China ‘from the first moment’ when China, the occupying state, made its appearance there.[23] It could be argued that there would have been no challenge to Chinese control over the islands during the period of Chinese maritime supremacy in the region from the thirteen century to the middle of the fifthteen century.[24]
    Furthermore, it could be asserted that China, in using the Paracel Islands as an observation point for the China-wide astronomical survey in 1279, had performed an act of sovereignty in the Paracel Islands sufficient to reduce such desolate, tiny islets to China’s possession.
    The PRC could even rely on the notion of the dominant power in the dissenting opinion of Judge Basdevant in the Minquiers and Ecrehos case[25] to argue that China’s position as the dominant power in the thirteenth and fourteenth centuries, taken with the evidence of display of state functions in respect of the islands, might be sufficient to established China’s sovereignty over the Paracel Islands at that time.
    Even if the available evidence were to support PRC claims of Chinese sovereignty some time in the medieval period, there would still be a requirement to look at events since then to see if China maintained sovereignty over the Paracel Islands to the present day. After all, it is an elementary principle of territorial acquisition that sovereignty once acquired can be relinquished or lost through a variety of mechanisms, such as cession, conquest, or prescription.[26]
    This requirement to look at subsequent events may remove the necessity for the PRC to rely too heavily on the somewhat doubtful arguments or questionable points of evidence that have been raised in the preceding paragraphs about Chinese discovery and subsequent taking possession of the Paracel Islands some time in the thirteenth or fourteenth centuries. The ICJ observed in the Minquiers and Ecrehos case that it was not necessary to solve the historical controversies surrounding the feudal titles and their subsequent development; decisive importance should be attached to evidence relating directly to the possession of the islands themselves and not to indirect presumptions deduced from events of Middle Ages.[27] Therefore, it is likely that any international arbitral tribunal, in the face of the paucity of evidence concerning China’s and Vietnam’s links with the islands in the medieval period, would attach probative value to evidence from more recent times relating directly to the possession of the Paracel Islands rather than to unclear events in the thirteenth century.
    Thus, even if China established a title to the Paracel Islands on the basis of events in the thirteenth century, the PRC would need to prove that at subsequent times when Vietnam sought to establish a rival authority in the islands, China still possessed a valid title sufficient to prevent any Vietnamese acts from extinguishing China’s title.[28]
    There is no strong evidence of exercise of sovereignty by any Vietnamese kingdom in the Paracel Islands before 1816. The documents cited by the SRV describe little more than the pretensions of the authors that the islands (which in some cases could be the Spratly Islands as easily as the Paracel Islands) were Vietnamese territory.[29] The documents also contain descriptions of commercial activities. The official SRV accounts cite no evidence of acts prior to 1816 by which Vietnam exercised juridiction over the islands.[30] Thus, the legal significance to the territorial dispute of the pre-1816 maps and chronicles cited by the SRV would appear to be negligible because they do not contain evidence of an exercise of state authority over the islands.[31]

  6. Hoàng Trường Sa viết:

    Trước hết tôi xin thành thật cám ơn tác giả Phạm Hoàng Quân về loạt bài rất hay này. Tôi hân hạnh đọc được một số bài của tác giả về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông và đánh giá cao sự đóng góp của tác giả trong việc tranh đấu bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh hải của VN.
    Trong công việc phản bác những luận điệu thiếu căn cứ của các học giả TQ về chủ quyền của TQ trên HS, TS dựa vào các tài liệu cổ TQ (như Hải quốc văn kiến lục của Trần Luân Quýnh chẳng hạn) những đóng góp của ông Phạm Hoàng Quân cũng như nhiều tác giả VN khác là vô cùng quý báu, đáng trân trọng. Tuy nhiên, để cho việc phản bác các luận cứ của các tác giả TQ được chặt chẽ hơn, cũng như để cho việc chọn lựa tài liệu lịch sử nào (và luận cứ nào) của phía VN nên được đưa ra để chứng minh chủ quyền của VN được mạnh mẽ và có giá trị thuyết phục hơn, theo ngu ý của tôi, ta cần nên lưu ý đến quan điểm của một số học giả và nhà nghiên cứu phương Tây, và tìm hiểu ý kiến độc lập của họ về vấn đề HS, TS và Biển Đông. Trong số các nhà nghiên cứu phương Tây, đối chọi gần 180 độ với lập trường của Giáo sư Pháp Monique Chemillier Gendreau (cho rằng VN có ưu thế trong tuyên bố về chủ quyền ở HS) là lập trường của Tiến sĩ người Úc Greg Austin (cho rằng TQ có ưu thế hơn VN trong tuyên bố chủ quyền của họ ở HS).
    Trong cuốn sách CHINA’S OCEAN FRONTIER: International Law, Military Force and National Development (BIÊN GIỚI ĐẠI DƯƠNG CỦA TRUNG QUỐC: Luật Quốc tế, Lực lượng Quân sự và Phát triển Quốc gia) xuất bản năm 1998 bởi Nxb Allen&Unwin kết hợp với Khoa Liên hệ Quốc tế và Chương trình Đông Bắc châu Á, Trường Nghiên cứu Thái Bình Dương và châu Á, tại Viện Đại học Quốc gia Úc, Canberra, ACT, qua chương 4 (trang 98 đến130) nhan đề “China’s Superior Rights in the Paracel Islands” (Ưu thế về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Paracel), tác giả Greg Austin đã phân tích và đánh giá giá trị pháp lý về những tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa (Paracel) của hai nước CHNDTH và CHXHCNVN dựa vào ba thời điểm quyết định (critical dates) : 1816, khi Vua xứ An Nam tiếp thu quần đảo; 1909 khi TQ gửi hải quân đến quần đảo HS để tuyên bố chủ quyền của họ đối nghịch với quyền lợi của các nước khác trên quần đảo này trong suốt 26 năm trước đó; 1931, khi nước Pháp lần đầu tiên tuyên bố ý định rằng Pháp hành xử như là nước có chủ quyền trên quần đảo này; và 1951, khi các thỏa hiệp giữa các Lực lượng Đồng minh trong Thế chiến II về việc thực hiện giải giới Nhật Bản khỏi các vùng do quân Nhật chiếm đóng, kể cả Hiệp ước Hòa bình San Francisco năm 1951.
    Kết luận của Tiến sĩ Greg Austin là như sau: Những tài liệu lịch sử cho đến 1951 (được hai bên đưa ra) không cho phép xác quyết được về chủ quyền pháp lý của nước nào (ở Hoàng Sa), mặc dù có lẽ thiên về ủng hộ tuyên bố của CHNDTH hơn với tư cách đại diện cho phía TQ (và Đài Loan). Có nhiều bằng chứng thuyết phục hơn bắt đầu từ năm 1958 là chủ quyền của CHNDTH ở Hoàng Sa đã được nước VNDCCH, tiền thân của CHXHCNVN, thừa nhận nhất quán (consistently recognised), theo phương cách đã làm suy yếu bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của CHXHCNVN.
    Theo tôi thấy, liên hệ tới loạt bài chủ trên đây của tác giả Phạm Hoàng Quân là hai đoạn “A Chinese title prior to 1816 ?” (Chủ quyền của TQ trước 1816?) và “An Annamese title after 1816” (Chủ quyền của An Nam sau 1816?) ông Austin phân tích giá trị pháp lý các tuyên bố chủ quyền của TQ dựa vào các tài liệu của Tàu trong giai đoạn lịch sử trước 1816, và các tuyên bố chủ quyền của Việt Nam dựa vào các tài liệu lịch sử từ 1816 đến 1951. Nếu có thì giờ, tôi sẽ đánh máy lại (và dịch ra Việt ngữ) để quý vị tham khảo.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...