talawas blog

Chuyên mục:

Trần Lâm – Kiêu dân công giáo thời Ngô Đình Diệm

06/11/2009 | 11:30 chiều | 55 Comments

Tác giả: Trần Lâm

Category: Chiến tranh Việt Nam, Lịch sử
Thẻ:

Bài các bạn đang đọc được viết với hai mục đích có liên quan mật thiết với nhau.

Thứ nhất, để góp ý với Trần Ngọc Cư, Hòa NguyễnTrần Văn Tích về bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống. Thời Đệ Nhất Cộng hòa, trong buổi lễ chào cờ, bài ca này phải được hát kèm với Tiếng gọi Công dân, Quốc ca chính thức do Lưu Hữu Phước et al sáng tác. Nó có đoạn như sau:

Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống

Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm

Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống

Xin thượng đế ban phước lành cho người

Thứ hai, để trả lời một câu hỏi quan trọng mà Dũng Vũ đã đặt ra cho tôi trên diễn đàn talawas. Câu hỏi này có liên quan đến nhận định của sử gia Tạ Chí Đại Trường về khối người từng làm nòng cốt cho chế độ Ngô Đình Diệm.

Tôi sẽ đi sâu vào bài quốc ca “kép” nói trên, sau khi giải quyết xong thắc mắc do Dũng Vũ nêu lên về nhận định của nhà viết sử họ Tạ.

Theo Tạ Chí Đại Trường, người từng sống dưới chế độ Ngô Đình Diệm, đồng bào Công giáo từ Bắc di cư vào Nam thời đó là một khối kiêu dân. Sau đây là toàn bộ văn cảnh của nhận định nói trên nơi trang 457 trong cuốn Sử Việt, đọc vài quyển, được Văn Mới xuất bản tại California năm 2004. Khi bàn về mối hiểm họa của Cộng sản miền Bắc đối với Miền Nam, Tạ Chí Đại Trường tự hỏi:

“Làm cách nào mà một chính quyền Sài Gòn lộn xộn với giáo phái sứ quân, với giang hồ đạo tặc, với Công giáo di cư ít nhiều gì cũng là kiêu dân, với cả người Pháp còn tham vọng giữ phần đất thuộc địa cuối cùng… có thể đương cự với cả một nền tảng đe doạ trùng trùng như thế? Lịch sử ổn định bước đầu của chính quyền đó là một phối hợp tuyệt vọng của những người Việt chống cộng (một tập-hợp-từ tiêu cực đúng với thực chất hổ-lốn của nó) chỉ còn một mảnh đất nương thân, và của người Mĩ đứng nhìn trong bình diện chiến lược quốc tế thấy mình phải chen chân vào.”

Vì họ Tạ là một sử gia có uy tín, nên sau khi đọc câu văn mười hai chữ được nhấn mạnh ở trên vào khoảng cuối năm 2004, tôi lập tức tìm cách kiểm chứng nó và tôi đã tìm được sự xác nhận đầu tiên trong hai bài nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh, “L’engagement politique du Bouddhisme au Sud-Viêt-Nam dans les années 1960” trong Alain Forest et al (dir.), Bouddhismes et Sociétés Asiatiques: Clergés, Sociétés et Pouvoirs, L’Harmattan, Paris, 1990, tr. 111-124,“Le Sangha bouddhiste et la société vietnamienne d’aujourd’hui”, được đăng trên trang VIET NAM Infos.

Giáo sư Nguyễn Thế Anh là một học giả có tầm vóc quốc tế, được đồng nghiệp Á Âu Mỹ công nhận là một trong những người có thẩm quyền nhất về lịch sử Việt Nam thời cận đại. Thế nhưng, tôi cũng ý thức được rằng tôi không thể chỉ dựa vào uy tín của ông để lượng định mức khả tín của câu văn mười hai chữ nói trên. Hai bài nghiên cứu của vị cựu viện trưởng viện đại học Huế và nguyên Trưởng ban sử học Đại học Văn khoa Sài Gòn này chỉ là những sử liệu hạng hai. Muốn kiểm chứng một cách thấu đáo nhận định của Tạ Chí Đại Trường về “kiêu dân Công giáo” thời Ngô Đình Diệm, tôi phải cố gắng tìm cho ra sử liệu hạng nhất về vấn đề này. Hai loại sử liệu mà tôi phân chia ra thành hạng nhất và hạng hai được Nguyễn Kỳ Phong, tác giả cuốn Vũng lầy của Bạch Ốc: Người Mỹ Và chiến tranh Việt nam 1945- 1975, định nghĩa một cách tương tự như sau:

“Sử liệu có hai loại: primary và secondary documents (tài liệu chánh và tài liệu phụ). Hồi ký, văn kiện chính thức, lời phỏng vấn từ nhân chứng, được xếp vào loại tài liệu chánh. Trích dẫn, nghe nói lại, hay sách biên khảo của người thứ ba, là tài liệu phụ. Hai loại tài liệu đó đều được công nhận khi dùng làm sử liệu viết sách.”

Vốn là mọt sách tu lâu năm trong Tàng Kinh Các ở Tây Phương, nên qua phần ghi chú trong hai quyển sách viết về chiến tranh Việt Nam, tôi đã tìm thấy hai tài liệu được hình thành trước ngày 8 tháng 5 năm 1963. Chính vì được viết ra trước khi biến cố Phật giáo 1963 bùng nổ, nên nội dung của hai tài liệu này không bị chi phối bởi cuộc tranh chấp giữa phong trào Phật giáo và chế độ Ngô Đình Diệm. Do đó, chúng có một mức độ khả tín rất cao. Hai tài liệu nói trên gồm 1) “The Buddhist Movement in Vietnam and its Difficulties with the Present Government”, một tài liệu do các nhà biên khảo Hoa Kỳ hoàn tất vào tháng Tư năm 1961 và hiện đang được lưu trữ tại Văn khố Chiến tranh Việt Nam ở Lubbock bên Texas, và 2) “L’Église au Sud-Vietnam”, một phóng sự được đăng trên tạp chí Informations Catholiques Internationales vào ngày 15 Mars 1963, từ trang 17 đến trang 26.

Như vậy, câu văn mười hai chữ của Tạ Chí Đại Trường chẳng những được một chuyên gia hàng đầu trong ngành sử Việt xác nhận (confirmed), mà còn được tăng bổ (corroborated) bởi hai tài liệu chánh (sử liệu hạng nhất) mà chúng ta có quyền cho là rất khả tín. Nhờ vậy nên tôi đã có đầy đủ căn cứ để chấp nhận rằng nhận định ngắn gọn mà Tạ sử gia đã đưa ra về khối kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm cầm quyền tại miền Nam Việt Nam là một nhận định rất khả tín, có thể giúp chúng ta hiểu được tại sao Ngô triều đã đánh mất sự ủng hộ của người Lương và cuối cùng bị lật đổ.

Sau khi công bố những điều vừa mới được viết bên trên trong mục phản hồi ở diễn đàn talawas, tôi hân hạnh nhận được sự lưu tâm và câu hỏi dưới đây của độc giả Dũng Vũ:

‘Thưa ông Trần Lâm,

Ông viết: “Tôi hoàn toàn không vô tình khi dùng 2 chữ “kiêu dân”, vì những sử liệu do tôi đưa lên mạng cho phép tôi suy luận rằng khái niệm “kiêu dân Công giáo” là một khái niệm có thể giúp chúng ta hiểu được tại sao chế độ Diệm đã đánh mất sự ủng hộ của người Lương tại miền Nam Việt Nam, đưa đến sự sụp đổ của chế độ này… Tôi nói chuyện có bằng chứng hẳn hoi, thì tại sao tôi phải sợ ai?”

Xin phép được hỏi ông: “Kiêu dân” có nghĩa là gì?

Cảm ơn ông…’

Đây là một câu hỏi rất chính đáng, cần được một sự hồi đáp tường tận. Nếu chúng ta trả lời được câu hỏi này một cách thỏa đáng thì có lẽ chúng ta sẽ có thể tìm được nguyên nhân sâu xa đưa đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm. Như đã nói qua ở trên, chế độ này còn được gọi là Ngô triều hay Ngô trào.

Ngô Trào

Trải qua một cuộc bể dâu
Trông vời cố quận biết đâu là nhà
Khéo oan gia, của phá gia
Này là em ruột, này là em dâu!
Cửa nhà dù tính về sau
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào!

(Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Chơi Chữ)

Tôi không rành chuyện văn chương, nên chỉ dám đoán mò rằng câu Cửa nhà dù tính về sau trong bài thơ nói trên ám chỉ việc Ngô Đình Cẩn đã cho xây một ngôi biệt thự rất nguy nga tráng lệ ở ngoài Huế. Tôi còn nhớ cách đây khoảng 20 năm tôi có đọc trong Nhật Ký Đỗ Thọ rằng người ta đã phải đập đồ bát vỡ ra từng mảnh để lát nền (cho một phần) trong ngôi biệt thự này. Trong những dòng chữ dưới đây, tôi sẽ không đập vỡ bất cứ vật gì, mà chỉ cố gắng đi lượm lặt những mảnh sử liệu vụn vặt, rồi sắp xếp chúng lại thành một bức khảm mosaic, để Dũng Vũ nói riêng và bạn đọc bốn phương nói chung ít nhiều gì cũng thấy được bộ mặt của kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm.

Kiêu dân, ngươi là ai?

Thời dòng họ Ngô Đình “dĩ đức vi chính” tại miền Nam Việt Nam, kiêu dân thường là những tín đồ Công giáo (di cư) dựa vào sự dung túng của kẻ có thế, có quyền để hống hách ngang ngược, xem thường luật pháp, vi phạm một cách trắng trợn nhân và dân quyền của người khác, thường là những Lương dân vô tội.

Sau đây là vài ví dụ điển hình.

1. Trong suốt ba năm liền, kiêu dân đã hằng đêm ném gạch, đá vào nhà thân nhân vô tội của một chính trị phạm, mà (hình như) không hề bị cơ quan công lực trừng phạt. Xem chứng từ của Phan Lạc Giang Đông, một cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa và cũng là bào đệ của Phạm Lạc Tuyên, một viên sĩ quan tham gia vào cuộc đảo chính hụt ngày 11 tháng 11 năm 1960:

“Gia đình tôi kể từ ngày này hoàn toàn không còn được yên nữa. Khu xứ đạo Thái Hòa (xứ đạo của đồng bào Bắc di cư vào Nam), mọi người ở lối xóm dã có thái độ khác trước. Mỗi tối, khoảng từ bảy, tám giờ thì một số người, không biết từ nhà nào đã ném gạch, đá lên mái nhà (bằng tole) của gia đình, ông cụ thân sinh tôi rất buồn và gặp thẳng Linh mục xứ đạo để nói việc này, song không giải quyết được. Việc họ ném như thế kéo dài cho đến khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ mới chấm dứt.”[1]

Xin thêm: Xứ đạo Thái Hòa, theo lời của Phan Lạc Giang Đông, nằm ở Ngã Ba Ông Tạ. Là một người sinh ra và sống những năm đầu đời tại một thị xã hẻo lánh ngoài Vùng II Chiến Thuật trước khi theo cha mẹ vượt biên tỵ nạn Cộng sản, tôi thật tình không biết cái ngã ba này nằm ở đâu. Nhưng vì chúng ta đang bàn về câu văn mười hai chữ của vị sử gia họ Tạ, nên xin ghi luôn chi tiết vui vui bên lề này vào bài.

2. Tại tỉnh Quảng Ngãi, một vị linh mục đã thông đồng với viên tỉnh trưởng trong mưu toan cướp đất của một ngôi chùa tại một làng trong tỉnh này để xây tượng đài cho Đức Mẹ, đưa đến sự xung đột giữa Phật tử ở ngôi làng nói trên và chính quyền địa phương. Xem trang 4 trong tài liệu “The Buddhist Movement in Vietnam and its Difficulties with the Present Government” đã được đề cập đến ở phần đầu của bài. Xin nhắc lại, vì tài liệu này được hình thành trước khi cuộc xung đột giữa Phật giáo và chế độ Diệm bùng nổ, nên nội dung của nó rất đáng tin.

3. Dưới thời Ngô Đình Diệm, tín đồ Công giáo thường được quân đội và cơ quan Thông tin tiếp tay để tổ chức trên đường phố Sài Gòn hay Huế những cuộc rước lễ [?] linh đình, gây ra sự tắc nghẽn giao thông trầm trọng, khiến cho người Lương phải gặp nhiều phiên phức trong việc đi lại. Việc này đã khiến cho Giáo sư Nguyễn Văn Trung lúc đó phải thốt lên rằng những người tổ chức các cuộc rước lễ [?] nói trên nghĩ đường phố là của riêng của Giáo hội Công giáo hay sao.[2] Tuy nhiên, có người vẫn chưa hài lòng. Khi Phật tử tiến hành nghi lễ tại chùa thì sinh hoạt tôn giáo của họ, theo chứng từ của một tín đồ Công giáo Việt Nam, lại bị các công xa của sở Thông tin có mang loa phóng thanh đậu ở gần chùa phá rối.[3]

Chứng từ nói trên được đăng trong tạp chí Informations Catholiques Internationales, phát hành vào tháng Ba năm 1963, cho nên nội dung của nó không thể bị ảnh hưởng bởi biến cố Phật giáo xảy ra sau đó. Vì vậy chứng từ này cũng là một sử liệu rất đáng tin.

4. Kiêu dân gây áp lực không cho sách của Nguyễn Hiến Lê được dùng tại các trường ngoài miền Trung, tuy sách này đã được Bộ Thông tin cho phép phát hành. Sau đây là lời tường thuật của chính vị cố học giả họ Nguyễn:

“Đầu niên khóa 1954-1955, trong chương trình Trung học đệ nhất cấp có thêm môn Lịch sử thế giới dạy trong bốn năm. Ông Thiên Giang lúc đó dạy sử các lớp đệ lục, đệ ngũ. Tôi bàn với ông soạn chung bộ sử thế giới càng sớm càng tốt cho học sinh có sách học, khỏi phải chép “cua” (cours). Ông đồng ý. Chúng tôi phân công: tôi viết cuốn đầu và cuốn cuối cho lớp đệ thất và đệ tứ, ông viết hai cuốn giữa cho đệ lục và đệ ngũ. Chúng tôi bỏ hết công việc khác, viết trong 6 tháng xong; tôi bỏ vốn ra in, năm 1955 in xong trước kì tựu trường tháng chín. (…)

Sau một linh mục ở Trung yêu cầu bộ Giáo dục cấm bán và tịch thu hết bộ sử đó vì trong cuốn II viết về thời Trung cổ, chúng tôi có nói đến sự bê bối của một vài Giáo hoàng. Bộ phái một viên bí thư có bằng cử nhân lại tiếp xúc với tôi. Ông này nhã nhặn, khen tôi viết sử có nhiệt tâm, cho nên đọc hấp dẫn như bộ sử Pháp của Michelet; rồi nhận rằng sách tôi được Bộ Thông tin cho phép in, lại nạp bản rồi thì không có lí gì tịch thu, cấm bán được, chỉ có thể ra thông báo cho các trường đừng dùng thôi; cho nên ông ta chỉ yêu cầu tôi bôi đen vài hàng trên hai bản để ông ta đem về nộp bộ, bộ sẽ trả lời linh mục nào đó, còn bán thì tôi cứ bán, không ngại gì cả. Tôi chiều lòng ông. ( ….)

Hồi đó bộ Lịch sử thế giới của tôi chỉ còn một số ít. Tôi hỏi các nhà phát hành, được biết có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó; trong Nam thì không. Chỉ ít tháng sau bộ đó bán hết, tôi không tái bản. Công giáo thời đó lên chân như vậy.”[4]

5. Cũng theo chứng từ của người Giáo dân mà chúng ta vừa gặp ở phần trên, kiêu dân đã lạm dụng quyền thế để đả kích tín ngưỡng của các học viên người Lương phải theo học khóa học Nhân vị tại Trung tâm Nhân Vị ở Vĩnh Long. Vì sợ bị ghi danh vào sổ đen, những nạn nhân này đành phải chịu đựng trong im lặng, khiến cho các học viên Công giáo tại khóa học cũng cảm thấy hổ thẹn trước hành động hống hách nói trên.[5]

Đây là một điểm cần phải được nhấn mạnh, vì nó cho ta thấy rõ không phải tín đồ Công giáo nào tại miền Nam cũng là kiêu dân khi vùng đất đáng lẽ là tự do này phải sống dưới sự thống trị của nhà Ngô. Ngay cả trong hàng giáo phẩm Công giáo cũng đã có những bậc chân tu cố tránh xa chế độ Ngô Đình Diệm để duy trì uy tín và tính chất độc lập của Giáo hội.[6]

Cố học giả Nguyễn Hiến Lê cho biết: “Ngô Đình Thục ở Vĩnh Long… tạo ra thuyết Duy linh chống với thuyết Duy vật của Cộng sản, bắt công chức nào cũng phải học. Họ chẳng học được điều gì mới cả, chỉ phải nghe mạt sát đạo Phật và đạo Khổng. Những người theo học đại đa số thờ Phật, đau lòng mà không dám cãi.”[7]

Phải chăng thái độ kiêu căng và khiêu khích của một bộ phận quan trọng trong cộng đồng Công giáo tại Miền Nam mà chúng ta vừa thấy qua những trường hợp nêu trên đã là một trong những nguyên nhân chính khiến cho khối người Lương ở phía dưới vĩ tuyến 17 ngày càng xa cách chế độ Ngô Đình Diệm, đưa đến sự sụp đổ của nó vào cuối năm 1963?

“Cả làng xin được rửa tội….”

Do những biến cố xảy ra trong năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm thường bị những người chống đối tố cáo là một chế độ đã lệ thuộc (quá) nhiều vào sự hậu thuẫn trung thành của Giáo dân (di cư) và, vì vậy, đã dành cho khối người này một sự nâng đỡ đặc biệt. Nhưng thật ra, không phải đợi đến năm 1963 mới thấy được sự gắn bó keo sơn giữa (một khối) tín đồ Công giáo và nền Cộng hòa Nhân vị do anh em Tổng thống Diệm lãnh đạo. Quan hệ này đã nhen nhúm ngay sau khi chế độ Ngô Đình Diệm vượt qua được giai đoạn phôi thai đầy nguy hiểm. Trong tạp chí International Affairs phát hành vào tháng 4 năm 1956, J. Donald Lancaster nhận xét:  Tổng thống Diệm bị hạn chế trong việc thế thiên hành đạo tại miền Nam Việt Nam bởi lòng trung thành đối với tôn giáo cũng như gia đình của chính ông ta.

Lòng trung thành nói trên rất có thể đã là một trong những yếu tố khiến cho người Lương đột nhiên theo đạo Công giáo hàng loạt thời dòng họ Ngô Đình cầm cân nẩy mực phía dưới vĩ tuyến 17, một hiện tượng Nguyễn Hiến Lê có đề cập đến trong hồi ký của mình (trang 121, tập II). Ông kể lại: “Diệm-Nhu theo chính sách ba-Đ: Đảng (Cần Lao), Đạo (Công giáo) và Địa phương (miền Trung). Chỉ công chức nào có đủ ba Đ mới được tin dùng, cho nên con số tín đồ Công giáo tăng vọt lên, nhất là ở miền Trung; có giáo đường làm lễ rửa tội hằng trăm người một lúc.”

Người nổi tiếng và thành đạt nhất trong nhóm Giáo dân tân tòng này không phải ai khác hơn là một viên sĩ quan gốc miền Trung tên Nguyễn Văn Thiệu. Ông Thiệu lập gia đình với một nữ tín đồ Công giáo trước khi Ngô triều được thiết lập. Nhưng mãi đến năm 1958, tức là lúc triều đại này đã “vững nền thịnh trị”, ông mới để cho Linh mục Bửu Dưỡng, một lý thuyết gia quan trọng của trường phái Cần lao Nhân vị, rửa tội tại Đà Lạt. Chính LM Bửu Dưỡng đã cho Tướng Edward Lansdale biết điều này và nhờ bản báo cáo Lansdale gửi cho Đại sứ Elsworth Bunker ngày 20 tháng 4 năm 1968, nên sử gia Vũ Ngự Chiêu mới có thể tìm ra được một chứng liệu thành văn về sự trở lại đạo của Nguyễn Văn Thiệu.[8] Arthur Dommen, một học giả có cảm tình với họ Ngô, cũng cho biết vị Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh trong tương lai này không theo đạo lúc lập gia đình, mà chỉ làm việc này sau khi chiếc ghế Tổng thống của Ngô Đình Diệm đã vững như bàn thạch.[9]

Trường hợp Nguyễn Văn Thiệu, như đã nói, chỉ là trường hợp nổi bật nhất. Hiện tượng người Lương ồ ạt theo đạo Công giáo thời Ngô Đình Diệm mà Nguyễn Hiến Lê kể lại đã được tạp chí Informations Catholiques Internationales phát hành ngày 15 tháng 3 năm 1963 xác nhận. Nên xem những con số ngoạn mục được nêu ra trong đó. Ngoài ra, nhờ tạp chí này mà chúng ta còn biết được Đức ông Ngô Đình Thục đã khoe với một đồng nghiệp người Pháp rằng ở giáo phận Vĩnh Long đôi khi có đến nguyên cả làng xin được rửa tội và, ngoài Phi Luật Tân ra, Nam Việt Nam là quốc gia độc nhất tại Viễn Đông sẽ phải được ở trên con đường đưa đến sự trở lại đạo hoàn toàn.[10] Tuy nhiên, Informations Catholiques Internationales cũng cho chúng ta biết, thái độ đắc thắng do cả chế độ Ngô Đình Diệm lẫn khối thiểu số Công giáo phơi bày đã tạo ra một sự bất mãn nhất định trong khối người Lương, một sự bất mãn mà tạp chí này cho là dễ thấy ngay tại Sài gòn cũng như ở các ngôi làng xa xôi hẻo lánh nhất.[11]

Nhận định nói trên rất phù hợp với báo cáo mà Đại Sứ Pháp Roger Lalouette gửi về Paris đúng một năm trước đó.[12] Lalouette cho biết ngoài Cộng sản ra, chế độ Diệm còn phải đương đầu với sự chống đối của những thế lực phi Cộng sản:

“Lực lượng chống đối tập họp những người ái quốc cấp tiến, giới trưởng giả Nam Kỳ bị gạt bỏ khỏi những việc công ích bởi những phần tử Bắc hay Trung vào tị nạn, những giáo pháo bị giải giới và bị nghi ngờ và, một cách tổng quát, tất cả những người không Ki-tô chống lại thiểu số Ki-tô (10% dân số) đã đặt tôn giáo Ki-tô La Mã lên hàng quốc giáo. Họ không đòi hỏi sự thay đổi trong chế độ, mà là thay đổi cả một chế độ.”

Chính nội dung của những tư liệu được hình thành trước biến cố Phật giáo nói trên đã cho phép chúng ta (tạm) tin lời Vũ Tài Lục, người đã từng sống trong thời cai trị của nhà Ngô, khi vị học giả này khẳng định rằng đến tháng 5 năm 1963 thì sự kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Ngô Đình Diệm (mà ông gọi là chế độ Diệm-Thục để nhấn mạnh vai trò của Đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục trong đó) đã đến mức không thể chịu đựng hơn được nữa, nên Phật tử đã phải xuống đường để phản đối. Dù sao đi nữa thì mối liên hệ nhân quả giữa tệ trạng kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Ngô Đình Diệm và Biến cố Phật giáo 1963 sẽ được phân tích một cách tường tận hơn trong một bài khác, đang được chuẩn bị.

Một hiện tượng thuộc lịch sử?

Ngoài việc kỳ thị tôn giáo, chế độ do anh em Ngô Đình Diệm cầm đầu còn gây ra cho người dân miền Nam những bực mình không cần thiết. Khi bàn đến một tấm hình ăn ý của ông ta, Đoàn Thêm, một viên chức cao cấp làm việc trong Dinh Độc lập thời Đệ Nhất Cộng hòa, có kể lại:

“Một người bạn trẻ ở ngoài chính giới đã bảo tôi:

– Coi bộ thì cũng không đến nỗi nào, nhất là bức ảnh Âu phục chụp nghiêng 3/4 thấy treo ở nhiều nơi.

Tôi cho biết là chính ông ưa bức đó hơn cả, nhưng anh ta lại càu nhàu luôn:

– Chỉ phải cái rất bực và rồi phát ghét, là cứ phải chào! Sao lại đem in tròn giữa quốc kỳ để bắt đứng dậy chào khi xem xi nê? Thà tới chậm, mất hẳn đoạn phim thời sự, còn hơn phải ngắm mặt mũi, bảnh bao mấy cũng bỏ đi!

Tôi không thể chối cãi, vì chính là trường hợp tôi mỗi khi muốn coi phim…

Không những chế độ Ngô Đình Diệm làm phiền người dân, chính cá nhân họ Ngô cũng quấy rầy nhân viên dưới quyền ông ta. Theo Đoàn Thêm:

“Ông Tổng thống luyến tiếc các biểu hiệu quân chủ, nên tái lập Kim Khánh của nhà Nguyễn và công nhận là huy chương cao nhất của Việt Nam. Ông gây lại không khí cung đình, đặt lễ phục gấm lam khăn đen cho các nhân viên cao cấp, và chỉ nhận chúc Tết Nguyên Đán vào sớm ngày mồng một. Đã có vài người xin ông cho chúc vào chiều ngày ba mươi, vì Tết đầu năm là ngày của gia đình, theo cổ tục, buổi sáng dành cho gia tiên, đa số còn phải đèn nhang cúng vái, hoặc mừng tuổi ông bà cha mẹ. Ông không nghe, vì theo ông, xưa kia phải triều bái ở điện Thái Hòa hoặc ở Vọng Cung các tỉnh, nghĩ đến Vua rồi mới đến nhà, vì Vua là là nước. ‘Vua ban hồng phước không tốt hơn là chờ người xông đất hay sao?’

Bởi vậy, cứ tám giờ mồng một, là hàng trăm người, cả nhân viên, lẫn đại diện đoàn thể dân chúng, đành phải xúng xính áo khăn vào cầu ơn trên phù hộ cho ông.

Một công chức bực quá đã thốt ra một câu chua chát:

– Thôi thì coi bái khánh như một công vụ đã được tính vào số lương tháng rồi!

Có lẽ vì thế mà hai tiếng Ngô Triều đã được nói đến ngay từ 1957, chớ không phải từ sau Cách mạng 1963, do một Tôn Thất nhà Nguyễn đương làm Giám đốc một Nha.”

Chuyện lố lăng nhất mà chế độ Nhân vị của dòng họ Ngô Đình đã gây ra là việc họ bắt buộc người dân miền Nam hát bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống trong lễ chào cờ. Cách đây trên hai mươi năm, tờ Làng Văn, một nguyệt san chống Cộng hữu danh tại hải ngoại, có đăng trong số 47 một bài mang tên “Sơ kết vấn đề Quốc-Ca”, trong đó có chứa đựng những dữ kiện lý thú về bài hát sùng bái cá nhân nói trên. (Khi đó tôi là một học sinh trung học, còn hai năm nữa mới được thi tú tài, nhưng cũng đã bắt đầu có quan tâm đặc biệt đến chế độ Ngô Đình Diệm, nên đã cẩn thận cất giữ tờ báo đó cho đến ngày hôm nay đem ra xài.)

Tờ Làng Văn viết:

“Vấn đề Quốc ca đã được mang ra bàn cãi tất cả ba lần. Lần thứ nhất do Quốc hội đệ nhất Cộng-hòa năm 1956…

Lần thảo luận thứ nhất không đưa tới một sự thay đổi nào, vì có một số đại diện dân cử vì lòng tôn sùng cá nhân, muốn đưa bài Suy tôn Ngô Tổng Thống… ra thay bài Tiếng gọi công dân… Cuộc bàn cãi để đi tìm một bài hát khác làm Quốc ca thay cho bài hát đương thời, với tác giả chính đã đứng về phía CS, lại biến thành một cuộc tranh chấp giữa tin thần tôn quân kiểu mới và khuynh hướng dân chủ tự do. Phe tôn quân không thắng nổi số đông, mà phe đa số cũng không dám dùng thế lực của mình để loại bài suy tôn cá nhân. Trong trường hợp đó, thà giữ nguyên bài cũ còn hơn.

Cuối cùng, vì đoàn kết quốc gia, vì thể diện của lãnh tụ, và quan trọng hơn hết, vì an ninh bản thân, một giải pháp chìm xuồng đã được đưa ra, dung hợp cả hai chủ trương: giữ lại bài Tiếng gọi công dân làm Quốc ca, và hát kèm bài Suy tôn Ngô Tổng Thống ngay trong lễ chào cờ. Từ đó, 1956, Việt Nam Cộng hòa có một bài quốc ca ‘kép’. Tình trạng này kéo dài tới 1963 mới chấm dứt, sau khi Trung tướng Dương Văn Minh đảo chánh thành công, kết thúc chín năm cai trị của Ngô triều.”[13]

Trong mục phản hồi trên diễn đàn talawas, Trần Ngọc Cư mới đây có lời than phiền về tệ trạng sùng bái cá nhân nói trên. Nhưng có lẽ là người tuổi đã cao, nên họ Trần không muốn nhắc đến khả năng đề kháng thụ động của khối người Lương trước sự lố lăng này của chế độ Ngô Đình Diệm và thái độ kiêu ngạo của tập đoàn Công giáo di cư phía sau lưng nó, một sự đề kháng được biểu lộ qua câu Toàn dân Bùi Chu mút cu Ngô Tổng Thống. Đây là một sử liệu truyền khẩu mà tôi được những người lớn tuổi đã từng sống dưới sự thống trị của Ngô triều kể lại cho nghe tại hải ngoại. Nó rất ăn khớp với những sử liệu thành văn mà tôi đã thu thập được và vừa giới thiệu trong bài này. Do đó, nó rất đáng được gìn giữ và phổ biến.

Cách nhìn nói trên không phải là một cách nhìn được mọi người chấp nhận. Hòa Nguyễn và Trần Văn Tích hình như muốn tương đối hóa việc làm lố bịch của chế độ Ngô Đình Diệm.

Hòa Nguyễn viết: “Nhưng cũng nên “thông cảm” những bài hát suy tôn ở vào cái thời thế giới (thứ ba) thích ca tụng các lãnh tụ “anh minh, vĩ đại” của họ, như Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch, Kim Nhật Thành, Lý Thừa Vãng, Sukarno (được bầu làm tổng thống trọn đời).”

Trong bảng Phong thần do Hoà Nguyễn nêu ra không thấy có tên của Jawaharlal Nehru, Thủ tướng Ấn Độ. Ấn Độ trong giai đoạn đó cũng là một quốc gia thuộc thế giới thứ ba, nhưng hoàn toàn không có tệ trạng sùng bái Nehru. Có lẽ vì Ấn Độ là một quốc gia dân chủ, nhất là khi so sánh với Indonesia, Nam, Bắc Hàn, Nam, Bắc Việt Nam, Trung Quốc hay Đài Loan. Bản chất dân chủ của một chế độ không cho phép chuyện lố bịch nói trên xảy ra.

Hơn nữa, việc sùng bái cá nhân không phải chỉ xảy ra tại thế giới thứ ba. Chuyện này đã xảy ra ngay tại nước Pháp dưới thời Pétain và cũng đã lan tràn sang Đông Dương, lúc đó đang nằm dưới sự kiểm soát của chế độ Vichy do Pétain cầm đầu.
Trần Văn Tích viết:

“Thời Pháp thuộc tôi lớn lên ở thành phố Đà Nẵng, lúc bấy giờ có tên chính thức là Tourane. Học trò nhà nước chúng tôi trước khi sắp hàng vào lớp thường phải đứng nghiêm để hát bài Maréchal, nous voilà ca tụng Thống chế Pétain, trong đó có câu “Devant toi, le sauveur de la France”. Vậy nếu Tổng thống Ngô Đình Diệm sau này được xem là “cứu đất nước” v.v… thì cũng chỉ là một hiện tượng thuộc lịch sử vào một giai đoạn nhất định.”

Có thể đây là một nhận định chưa hoàn toàn chính xác. Trước khi Pétain lên chấp chính năm 1940, không có một chính quyền nào của Đệ Tam Cộng hòa lại bắt học sinh hát bài ca tụng Thủ tướng Clemenceau là cứu tinh của nước Pháp, tuy không ai phủ nhận công lao rất lớn của ông trong giai đoạn quyết định cuối Đệ Nhất Thế chiến. Nền Cộng hòa dân chủ này đã vinh danh “le Père-la-Victoire” bằng một cách văn minh hơn. Bởi thế nên việc chế độ Vichy do Pétain cầm đầu bắt học sinh làm chuyện tào lao nói trên có thể được xem như là một triệu chứng của bản chất bệnh hoạn của chế độ này, một chế độ trung gian bản xứ đã tỏ ra rất đắc lực trong việc truy lùng, bắt giữ và chuyển giao người Do thái cho Đức quốc xã – việc làm nhơ nhuốc nhất bên cạnh những việc phản động khác của chế độ Vichy.[14]

Bác sĩ Tích viết tiếp: “Nghĩ lại, nếu quốc ca nước Anh có lời hát “God save the Queen” thì lời bài “Suy tôn Ngô Tổng thống” có câu “Xin Thượng Đế ban phước lành cho người” có thể được xem là hai hiện tượng lịch sử – như đã trình bày – hay chăng?”

Câu hỏi này hình như được đặt ra trên những dữ kiện còn thiếu sót. Kể từ khi vua Henry VIII đọan giao với Tòa thánh La Mã để lập ra Giáo hội Anh giáo, các vị quốc vương hay nữ hoàng Anh quốc không những là nguyên thủ của một quốc gia mà còn phải đóng vai trò lãnh tụ của một tôn giáo (Supreme Governor of the Church of England). Vì vậy, cầu nguyện Thượng đế phù hộ cho ông hay bà ta là việc không có gì đáng nói. Hơn nữa, bài God save the Queen hay God save the King có từ thế kỷ thứ 18,[15] và hình như không mang ý nghĩa khẩn cầu cho một cá nhân cụ thể nào, chẳng hạn Victoria hay Elizabeth II, mà chỉ cầu mong sự bảo bọc của bề trên đối với ngôi vị nguyên thủ của một quốc gia quân chủ có truyền thống Ki-tô lâu đời. Có lẽ do những lý do nói trên mà bài hát này vẫn còn được giữ làm Quốc ca Anh Quốc cho đến ngày hôm nay, trong khi bài ca sùng bái Ngô Đình Diệm phải chịu chung số phận với cái chế độ đã ép buộc người dân miền Nam hát nó.

Vậy chúng ta có thể tạm kết luận rằng những nỗ lực tương đối hóa mà Hòa Nguyễn và Trần Văn Tích đã dành cho tệ trạng sùng bái cá nhân dưới sự thống trị của Ngô triều vẫn chưa đủ sức thuyết phục. Có thể cũng như trong trường hợp của chế độ Vichy, tệ trạng này phản ảnh bản chất kém lành mạnh của chế độ Ngô Đình Diệm. Trong chế độ lành mạnh nào mà nhân viên an ninh có thể áp dụng một chính sách trả thù bỉ ổi đối với lương dân vô tội mà những kẻ lèo lái quốc gia lại không hề hay biết? Sau cuộc đảo chánh hụt năm 1960, tay chân của anh em Ngô Đình Diệm đã xâm phạm tính dục nhiều người vợ của những viên sĩ quan tham gia vào biến cố đó và, ít nhất là trong trường hợp của Phan Lạc Tuyên, đã bao vây kinh tế cha mẹ, khiến cho con cái họ bị thất học. Nhưng cả ông Ngô Đình Diệm lẫn ông Ngô Đình Nhu, theo chứng từ của Trần Ngọc Nhuận, một sĩ quan tình báo cao cấp trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đều không biết đến tội ác động trời này![16] Phải chăng vì họ không biết chế độ của họ đang bị côn đồ hóa, nên cuối cùng chính họ đã bị thuộc hạ cũ giết chết bằng một cách rất côn đồ? Chính sách trả thù đối với đàn bà, người già và trẻ em nói trên đã được kể lại trong: 1) Trần Ngọc Nhuận, Đời quân ngũ, Xuân Thu, 1992, tr. 305-306, và 2) Phan Lạc Giang Đông, “Nhớ lại và suy nghĩ”, trong Chính Đạo (chủ biên), Nhìn lại biến cố 11/11/1960, Văn Hóa, Houston, 1997, tr. 207-231.

© 2009 Trần Lâm

© 2009 talawas


[1] Nguồn: Phan Lạc Giang Đông, “Nhớ lại và suy Nghĩ”, trong: Chính Đạo [Vũ Ngự Chiêu] (chủ biên), Nhìn lại biến cố 11/11/1960, Văn hóa, Houston, 1997, tr. 210.

[2] Informations Catholiques Internationales, “L’Église au Sud-Vietnam”, 15 Mars 1963, tr. 21.

[3] Ibid, tr. 19.

[4] Tại trang 99 và 100 trong cuốn Đời viết văn của tôi, do Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1986.

[5] Ibid.

[6] Ibid, tr. 21.

[7] Hồi kí, Tập II, Văn Nghệ, California, 1990, trang 120-121.

[8] Xem: Chính Đạo, Mậu Thân 68: Thắng hay Bại?, Văn Hóa, Houston, tái bản lần thứ hai, 1998, tr. 355. Xem thêm: Arthur Dommen, The Indochinese Experience of the French and the Americans, Indiana University Press, 2001, tr. 658.

[9] Arthur Dommen nói rằng Nguyễn Văn Thiệu là đảng viên Đại Việt, còn Vũ Ngự Chiêu thì cho biết ông ta là Ủy viên Quân ủy Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng. Xem Nguyên Vũ, Paris Xuân 96, Văn Hóa, 1997, tr. 87-88.

[10] Nguyên văn: “C’est le seul pays d’Extrême-Orient (à part les Philippines) qui soit en marche vers une conversion totale…”

[11] Nguyên văn: “Ce que nous avons appelé, pour faire image, le ‘triomphalisme’ conjugé du régime et de la minorité catholique ne manque pas de nourrir un certain mécontentement chez les non-catholiques. Quoique en contradiction avec les conversions massives dont nous avons parlé plus haut, il est facilement observable à Saigon comme dans les plus lointains villages.”

[12] Báo cáo này đã được Vũ Ngự Chiêu tìm thấy, dịch sang tiếng Việt và cho in lại trong Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Văn Hóa, Houston, 2000, tr. 248-250.

[13] Bạn đọc bốn phương cần lưu ý đến chi tiết này: Nguyễn Hữu Nghĩa, Chủ bút tờ Làng Văn, đã bị một số người hiểu lầm (?) khái niệm tử năng thừa phụ nghiệp tố cáo là con trai của đại tướng VC Nguyễn Chí Thanh. Nhưng nhờ có Bác sĩ Trần Văn Tích, một người có lập trường chống Cộng rất vững vàng, từng là cộng tác viên cho tờ báo này, nên tôi mới dám xài những dữ kiện do nó cung cấp về bài Suy tôn Ngô Tổng Thống.

[14] Bạn nào hiếu kỳ muốn biết thêm về nó thì nên tìm đọc: Robert Paxton, Vichy France: Old Guard and New Order, 1940-1944, Knopf, New York, 1972. Sau Đệ Nhị Thế chiến, người Pháp đã cố che giấu sự thật, cố tương đối hóa những việc làm kém sạch sẽ của chế độ này. Chính nhờ sự đào bới trong văn khố Đức của Paxton, một sử gia người Mỹ, mà bộ mặt nhơ nhuốc của nó đã bị lột trần trước công chúng Pháp. Cách đây vài năm, tạp chí Journal of Contemporary History có đăng một bài nghiên cứu về tầm ảnh hưởng sâu rộng của ông ta đối với giới sử học Pháp. Tôi đã đưa bài đó lên mạng, các bạn có thể đọc nó tại đây. Thật thú vị khi thấy một người Mỹ quê ở Virginia giảng cho mấy ông Tây bà Đầm nghe về quá khứ khá bẩn thỉu của quốc gia họ. Nhưng dân Phú Lang Sa vẫn còn giữ được tinh thần thượng võ. Mới đây họ đã trao tặng cho Paxton huân chương Légion d’honneur để bày tỏ lòng biết ơn đối với công trình nghiên cứu của ông: “Son œuvre a été controversée à une époque où la France refusait de regarder son passé en face, même s’il est difficile à accepter. Grâce à lui on sait que, contrairement à la légende, Vichy n’a pas été contraint à collaborer à ce point et que la Révolution nationale de Pétain, son régime fasciste, n’a pas été imposée par les Allemands.”

[15] “Like many aspects of British constitutional life, its official status derives from custom and use, not from Royal Proclamation or Act of Parliament.

[16] Hai anh em ông Diệm, ông Nhu cầm vận mệnh quốc gia trong tay, mà khi thủ hạ của họ hại dân vô tội – những người mà họ có bổn phận bảo vệ –  họ lại hoàn toàn không biết. Điều này khiến chúng ta phải tự hỏi tại sao họ không biết. Ở một quốc gia văn minh, nạn nhân có thể dựa vào hệ thống tư pháp độc lập hoặc hệ thống truyền thông tự do để lưu ý giới hữu trách đến những tệ trạng mà họ phải gánh chịu. Vì dưới nền Cộng hòa Nhân vị, hệ thống tư pháp không được độc lập và giới truyền thông không được tự do nên hai anh em ông Diệm mới có thể không biết gì cả. Việc giới lãnh đạo của một quốc gia không biết dân vô tội bị xâm phạm phi pháp và việc những nạn nhân này không có cách nào làm cho giới lãnh đạo biết được tệ trạng nói trên thật ra là một bản cáo trạng đối với giới lãnh đạo đó: Họ không biết, vì bộ máy chính trị của họ là một bộ máy kém lành mạnh, nếu không muốn nói là bệnh hoạn.

Bình luận

55 Comments (bài “Trần Lâm – Kiêu dân công giáo thời Ngô Đình Diệm”)

  1. Trần Lâm viết:

    @J.Trần

    Bạn không nên bận tậm với bài viết của tôi. Vì đối tượng chính của nó không phải là những người có thiện chí như bạn, mà bất cứ ai (còn đang) quan niệm rằng nguyên nhân chính phía sau Biến Cố Phật giáo 1963 là sự giật dây của Cộng Sản.

  2. Huy Tử viết:

    CÒN HAI CHI TIẾT

    Không có gì trả giá quá đắt bằng sự thiếu hiểu biết. (There is nothing so costly as ignorance.)

    1) Từ năm 1963 đến 1975, ngày 01-11 (November 01) là NGÀY QUỐC KHÁNH của miền Nam tự do.

    2) Tượng cô Quách thị Trang được đặt ở công viên trước chợ Bến Thành, Sài gòn [1964-1975] (Cô nữ sinh QTT đã bị lực lượng CLNV bắn chết tại nơi đó).

    Ghi chú: Một trong những tài liệu lịch sử Việt Nam giá trị, đáng được trân trọng, là cuốn song ngữ “VĂN, SỬ, ĐỊA” của tác giả Chu Văn Trình. (còn tiếp)

  3. Trần Lâm viết:

    @ Nam Phan

    Cuối cùng bạn đọc Nam Phan đã lên tiếng! 🙂

    Trong một bài khá dài mà NP chỉ tìm ra được một điều mà bạn đọc này cho là một sơ hở đáng rầy la thì tôi xem đó như là một lời khích lệ.

    Thế nhưng NP đã phê bình không đúng.

    1/ NP viết: “Khi Trần Lâm muốn chứng minh nhận định của Tạ Trí Đại Trường và Nguyễn Thế Anh về “Kiêu dân Công giáo di cư” thời TT Ngô Đình Diệm mà đưa học giả Nguyễn Hiến Lê ra với cuốn Lịch sử Thế giới (để đưa vào học trình từ đầu niên khoá học 1954-1955, nhưng bị “kiêu dân CG” cản trở), thì một trong ba trường hợp sau sẽ xảy ra:

    Một là học giả Nguyễn Hiến Lê nói láo.
    Hai là thiên kiến của người viết, chỉ biết “nệ sách”!
    Ba là hậu sinh nói chuyện Bành Tổ.”

    Chúng ta hãy so sánh đoạn văn trên với đoạn văn của chính Nguyễn Hiến Lê:

    “Đầu niên khóa 1954-1955, trong chương trình Trung học đệ nhất cấp có thêm môn Lịch sử thế giới dạy trong bốn năm. Ông Thiên Giang lúc đó dạy sử các lớp đệ lục, đệ ngũ. Tôi bàn với ông soạn chung bộ sử thế giới càng sớm càng tốt cho học sinh có sách học, khỏi phải chép “cua” (cours). Ông đồng ý. Chúng tôi phân công: tôi viết cuốn đầu và cuốn cuối cho lớp đệ thất và đệ tứ, ông viết hai cuốn giữa cho đệ lục và đệ ngũ. Chúng tôi bỏ hết công việc khác, viết trong 6 tháng xong; tôi bỏ vốn ra in, năm 1955 in xong trước kì tựu trường tháng chín. (…)”

    Đọc kỹ đoạn văn của NHL chúng ta thấy bạn đọc Nam Phan đã lẫn lộn MÔN lịch sử thế giới được đưa vào học trình đầu niên học 1954-1955 với một CUỐN SÁCH Lịch Sử Thế Giới chỉ in xong trước tháng 9 năm 1955! Hai cái khác nhau xa. Cuốn sách này chỉ có thể được sử dụng tại các trường trong niên khóa 1955-1956. Do đó, nên hoàn toàn không có thể có chuyện cuốn sách được “đưa vào học trình từ đầu niên khoá học 1954-1955, nhưng bị “kiêu dân CG” cản trở”, như NP đã viết.

    2/ NHL viết tiếp: “Sau một linh mục ở Trung yêu cầu bộ Giáo dục cấm bán và tịch thu hết bộ sử đó… Tôi hỏi các nhà phát hành, được biết có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó; trong Nam thì không. Chỉ ít tháng sau bộ đó bán hết, tôi không tái bản. Công giáo thời đó lên chân như vậy.”

    Như vậy thì, hành động ngang ngược này tuy do một kiêu dân CG gây ra, nhưng (rất có thể) là một kiêu dân miền Trung chứ không phải là kiêu dân di cư như Nam Phan đã lầm tưởng.

    Trường hợp của vị linh mục ngoài Trung này là một trong những lý do khiến tôi đã định nghĩa kiêu dân CG như sau ở đầu bài:

    “Thời dòng họ Ngô Đình “dĩ đức vi chính” tại miền Nam Việt Nam, kiêu dân thường là những tín đồ Công giáo (di cư) dựa vào sự dung túng của kẻ có thế, có quyền để hống hách ngang ngược, xem thường luật pháp, vi phạm một cách trắng trợn nhân và dân quyền của người khác, thường là những Lương dân vô tội.”

    Bạn đọc bốn phương thấy: tôi đã cẩn thận cho hai chữ “di cư” vào ngoặc kép để khỏi phải loại bỏ khả thể kiêu dân cũng xuất xứ từ địa phương khác như trường hợp vị linh mục ngoài miền Trung.

    3/ Có thể bạn đọc NP đã lầm lẫn vì tôi, để khỏi phải đánh máy nhiều, đã cắt bỏ một đoạn mà tôi tưởng là không cần thiết trong đoạn văn được trích của NHL:

    “Một chuyện đáng ghi là vì bộ [sách] đó mà năm 1956 bị một độc giả ở Cần Thơ mạt sát là ‘đầu óc đầy rác rưởi’ chỉ vì chúng tôi nhắc qua đến thuyết của Darwin về nguồn gốc loài người. Chẳng cần nói ai cũng biết độc giả đó là một tín đồ Công giáo.

    Sau một một linh mục ở Trung yêu cầu bộ Giáo dục cấm bán và tịch thu hết bộ sử đó.”

    Tuy nhiên tôi cũng đã cẩn thận phóng ảnh những trang sách quan trọng liên quan đến việc này rồi đưa lên mạng. Qua đường nối kết trong bài, Nam Phan và các bạn đọc bốn phương cũng đã có thể kiểm chứng tất cả những gì tôi viết.

    4/ Bây giờ tôi có thể kết luận rằng chúng ta hiện giờ không (hay chưa) có lý do gì để chấp nhận ba khả thể do Nam Phan đưa:

    Một là học giả Nguyễn Hiến Lê nói láo.
    Hai là thiên kiến của người viết, chỉ biết “nệ sách”!
    Ba là hậu sinh nói chuyện Bành Tổ.

    Hy vọng sự hồi đáp này đã làm cho độc giả Nam Phan cùng bạn đọc bốn phương được hài lòng.

  4. Lê Anh Dũng viết:

    Đại gia đình của tôi có cả Phật giáo (từ bao nhiêu đời, thực ra mờ nhạt vì Phật giáo và thờ ông bà trộn lẫn vào nhau, Phật giáo là một nét văn hóa hơn là một tôn giáo), Tin Lành (từ 1945), Công giáo (từ 1959). Từ hai năm nay tôi đi nhà thờ Tin Lành hàng tuần để tìm hiểu, vì chưa hiểu lắm nên phát biểu có thể sai.

    Dân Do Thái là dân được Chúa chọn, người tin Chúa gọi là dân Do Thái thuộc linh (hay thục linh? Chữ được viết theo âm tôi nghe từ lời giảng của mục sư, nghe không rõ). Người vào đạo Công giáo được gọi là “trở lại đạo”. Với người Tin Lành thì có một ranh giới không thể xóa giữa người tin Chúa và người ngoại, chỉ tin Chúa mới được cứu, còn ở ngoài thì phúc đức, tốt đẹp tới đâu cũng là số không, miễn cứu.

    Với những người Công giáo và Tin Lành tôi được biết, thì do tin Chúa họ nghĩ họ là một giai tầng khác, cao hơn những người không tin. Với Tin Lành, thờ ông bà còn bị nói rất xốc óc là thờ ma quỉ, trong khi Công giáo đã bỏ việc cấm thờ cúng từ vài chục năm. Bố mẹ, ông bà hôm trước còn đẻ đau đớn, bú mớm nâng niu, chết tức khắc thành ma quỉ, miễn thờ cúng.

    Người Công giáo, Tin Lành kỳ thị người ngoại, khi muốn đi vào vòng sâu hơn như hôn nhân, thì tuyệt đại đa số phải theo đạo, đây là thông lệ, không là ngoại lệ. Chuyện này ít đặt ra bởi những người “ngoại”.

    Có lẽ vì những nét trên mà người tin Chúa coi mình như hơn hẳn những người còn lại, và cũng có thể hiểu như vậy. Nếu vậy “Kiêu dân công giáo thời Ngô Đình Diệm” không hẳn đúng, có phải “kiêu dân” là nét chung của những người tin Chúa trong mọi nơi, mọi thời từ khi đạo Thiên Chúa phát triển?

  5. joshep.tran viết:

    Gửi bác Trần Lâm!
    Xin minh định ngay cháu là một người theo Công giáo tại Việt Nam.
    Có lẽ với đầu óc và tri thức ít ỏi, cháu cũng không dám bàn đến đúng sai trong bài viết với biết bao trích dẫn và nguồn sử học phong phú rất đáng tin của bác.
    Bác Trần Lâm không biết đã có dịp đi dự một thánh lễ nào của đạo Công giáo chưa?! Tất cả từ người lớn nhất (kể cả Giám mục, Hồng y) khi chủ trì hoặc tham dự đều cùng đồng thanh đọc câu kinh sám hối như sau “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em. Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng lời nói việc làm và những điều thiếu sót. Lỗi tại tôi… mọi đàng…”
    Người Công giáo như cháu mỗi lần có dịp đọc một bài như của bác là mỗi lần chúng cháu sẽ soi lại để sửa đổi và tìm “Đường” hoàn thiện mình hơn trong “Sự Thật và Sự Sống”. Cháu nhớ lời giáo huấn của Đức Thánh Cha Benedicto XVI có căn dặn: Con người chỉ có thể trở lên hoàn thiện khi ý thức được sự yếu đuối, bất toàn và mỏng dòn của mình. Các cụ xưa cũng từng dạy “Nhân vô thập toàn” nên Giáo hội luôn khuyên con cái mình là không ngừng “Sám hối và Canh tân” mà.
    Nhưng kết luận họ (hay một giáo hội địa phương tại thời điểm nào đó) là một “thứ gì” đó thì có vội quá chăng? Bác dẫn nhiều vụ bất công mà người công giáo đã gây cho bên “lương dân” hoặc “tôn giáo bạn” thì cũng xin bác đọc thêm những gì người Công giáo Việt Nam đã và đang phải trải qua trong 5 triều cấm đạo của nhà Nguyễn với hàng trăm nghìn người đổ máu đào chỉ vì họ tin và không từ bỏ ông Giê-su không? Rồi hiện nay trong khi nhiều Giáo hội bị cấm cách, bị gạt bỏ, bị hạn chế trong xã hội CSVN thì tín đồ của các đạo đó nhìn và nghĩ gì khi Giáo hội Phật giáo VN (CS) lại đang được nhà nước o bế, ưu tiên, chăm sóc cũng với các cuộc rước tượng ngọc, xá lị… hoành tráng trên các đường phố lớn từ Hà Nội vào đến SG. Đất đai, tài sản của các giáo hội kể cả Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài đến cả GH Phật giáo VNTN nữa, đều cùng chung số phận bị chiếm đoạt, bị cướp… trong khi tại Sóc Sơn, Bình Dương, Đà Lạt, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình… bao nhiêu hecta ruộng đất của người dân bị trưng thu không, bồi thường rẻ mạt (còn không được mua bán đàng hoàng) để cấp cho GHPG “chính quy” VN? Cháu không có ý chê trách hay lên án GHPG CSVN hoặc những tín đồ của GH này mà ngược lại cũng mừng cho bạn, nhưng từ “bình đẳng” mỗi thời là như vậy đó!
    Vết thương nào cũng cần được chữa lành. Ước chi bác cháu ta tập trung và việc chữa lành cho xã hội nhiều hơn nữa: “Dù mỗi việc chúng ta làm là không lớn nhưng hãy làm nó với một tình yêu lớn” (mẹ Teresa-Calcuta) chắc chắn sẽ mang lại nhiều hoa trái tốt lành cho chúng ta, con cháu ta và cả sự sống “đời sau” của ta nữa.
    Kính chúc Bác Bình An!

  6. Nam Phan viết:

    Khi Trần Lâm muốn chứng minh nhận định của Tạ Trí Đại Trường và Nguyễn Thế Anh về “Kiêu dân Công giáo di cư” thời TT Ngô Đình Diệm mà đưa học giả Nguyễn Hiến Lê ra với cuốn Lịch sử Thế giới (để đưa vào học trình từ đầu niên khoá học 1954-1955, nhưng bị “kiêu dân CG” cản trở), thì một trong ba trường hợp sau sẽ xảy ra:

    Một là học giả Nguyễn Hiến Lê nói láo.
    Hai là thiên kiến của người viết, chỉ biết “nệ sách”!
    Ba là hậu sinh nói chuyện Bành Tổ.

    Tháng 7 năm 1954, Ngô Đình Diệm mới chấp chánh, chính sự ngổn ngang. Chính quyền như “trứng để đầu đẳng”, nào sự cản trở của Pháp, bất phục tùng của Nguyễn Văn Hinh, của các giáo phái, của Bình Xuyên. Mặt khác lo cái ăn, chỗ ở cho hơn một triệu “kiêu dân CG di cư”. Chính phủ ấy chắc “rỗi hơi” đi lo cái chuyện cuốn sách của ông học giả?

    Còn đám “kiêu dân” kia lúc đó đang làm gì?

    Còn đang ở lều bạt Phú Thọ.
    Còn đang phá rừng dựng lều để định cư.
    Còn nhớn nhác không biết tương lai về đâu.
    Con cái chưa đứa nào biết đến cái bút, quyển vở là gì.
    Sử của họ còn đang được viết kia, thì ai đã cần đến “Thế giới sử” mà phản đối, với lại cấm cản?

  7. nguoiyeunuoc viết:

    Chúng ta cần những ngưòi viết như ông Trần Lâm. Đó là cách viết có trách nhiệm với độc giả, với bản thân mình và với lịch sử. Tôi đối chiếu những gì ông Lâm viết với những gì xảy ra trong quá khứ là không sai.
    Mong ông Trần Lâm cũng có những bài viết về chế độ độc tài, tham lam, ngu dốt và bán nước của cộng sản Việt Nam để thức tỉnh lòng người trước hoạ diệt vong của dân tộc.

    Xin quý vị đừng đưa lên diễn đàn những lời văn thấp kém, vô văn hoá, thiếu giáo dục, thoá mạ nhau theo kiểu giang hồ. Vì đó không phải là những gì thuộc về bản chất của dân tộc ta.

    Cũng xin đừng kích động sự hằn thù giữa các tôn giáo; điều này sẽ làm phân hoá dân tộc mình, tạo điều kiện cho những kẻ độc tài lợi dụng để duy trì quyền lực cai trị. Kẻ ngoại bang có cơ hội để xâm lăng và Hán hoá nước ta.

    Trân trọng cám ơn ông Trần Lâm.

  8. Phùng Tường Vân viết:

    “Hãy tưởng tượng Ngô tổng thống cùng các anh em thành công trong việc rửa tội tông đồ, tổ tiên cho cả nước và cả miền Nam lúc đó được Ki Tô hoá,” (Ngoc Nguyen)

    Chỉ có một đầu óc bệnh hoạn mà người Hà Nội quen gọi là đáng cho đi nghỉ ở Trâu Diễn mới có thể có được cái tưởng tượng “đáng mơ ước” ấy. Không có một thứ nhà nào, nhà Ngô, nhà Hồ… nào làm nổi công việc đó, trước đây thì có kẻ cho rằng nhà cộng sản chắc là làm nổi với “Đạo Hồng Kỳ”, nhưng thực tại ngày nay ra sao thiết tưởng khỏi phải rườm lời làm rác tai người thức giả!

  9. Ngoc Nguyen viết:

    Nhiều người trong chúng ta có vẻ quan tâm đến việc áp chế Ki Tô Giáo lên văn hoá Việt (nếu có) nhưng không nghĩ thêm một bước nữa, đó là lợi hại sẽ ra sao? Hãy tưởng tượng Ngô tổng thống cùng các anh em thành công trong việc rửa tội tông đồ, tổ tiên cho cả nước và cả miền Nam lúc đó được Ki Tô hoá, nước Việt Nam ngày nay có lẽ đã có một thể chế mới. Có thể bây giờ Việt Nam đang được sánh vai cùng Phi (gần 100% Ki Tô Giáo) như một nước dân chủ ở Đông Nam Á chứ không thê thảm như hiện thực. Bài viết này cũng làm tôi nhớ đến vụ xôn xao chuyện Nhà Thờ Lớn ở Hà Nội được xây lên sau khi thực dân Pháp hợp tác với một linh mục (mà các báo trong nước chụp mũ là Việt Gian) để san bằng một ngôi chùa gần một nghìn tuổi lúc đó trải rộng đến gần Hồ Gươm. Cứ làm như mỗi lần thay thế một ngôi chùa bằng một ngôi nhà thờ là một tội ác diệt chủng vậy sao? Tại sao không nghĩ đến những lợi lộc mà ánh sáng Phúc Âm mang đến cho xã hội Việt Nam? Đó là chưa kể toà thành Vatican còn cung cấp cho ta một sự an toàn về tinh thần nữa, chứ không đơn giản là nơi phát lương cho các giám mục và linh mục.

  10. Trần Lâm viết:

    @Phùng Tường Vân

    Phùng Tường Vân viết:

    “Điều càng khó hiểu hơn nữa là chính những vị đang hùng hồn nhất dương lá cờ phản Ngô về hàng trăm thứ tội mà cái tội nặng nhất là cố tình làm tan hoang Phật Giáo Việt Nam, cố tình biến đất nước này là nơi “không còn tiếng chuông chùa” v.v… lại là những người không hề có đến một lời nào về cái pháp nạn “Làng Mai/Bát Nhã” cũng đã và đang làm rúng chuyển lương tri và lương tâm của biết bao người trên hoàn vũ.”

    Lời trách móc trên, nếu có thể gọi đó là lời trách móc, không áp dụng vào trường hợp của tôi. Tôi là người hân hạnh được một tổ chức chống Cộng giao cho việc soạn thảo văn thư tố cáo các hành động vi phạm nhân quyền của chế độ CS tại VN với chính quyền của quốc gia sở tại, yêu cầu họ dựa vào nguồn viện trợ tài chánh cũng như kỹ thuật mà họ dành cho VN mỗi năm để làm những gì họ có thể làm được cho nạn nhân trong các vụ Thái Hà, Điếu Cày, Bát Nhã, Tam Tòa v.v. Tôi đã, đang và sẽ tiếp tục làm việc này, một việc có thể hữu ích hơn là việc cho thêm một lời vào một chuyện đã quá rõ ràng trên diễn đàn Talawas. Talawas chưa phải là hoàn vũ, nên nếu một chuyện gì không xảy ra tại nơi đây thì điều đó không có nghĩa là nó không xảy ra tại một nơi khác trong hoàn vũ.

    Trả lời như vậy được chưa Phùng Tường Vân lão độc giả?

  11. Hoà Nguyễn viết:

    Trong câu viết của Tạ Chí Đại Trường trích dẫn sau đây:

    “Làm cách nào mà một chính quyền Sài Gòn lộn xộn với giáo phái sứ quân, với giang hồ đạo tặc, với Công giáo di cư ít nhiều gì cũng là kiêu dân, với cả người Pháp còn tham vọng giữ phần đất thuộc địa cuối cùng… có thể đương cự với cả một nền tảng đe doạ trùng trùng như thế?…”

    Ông Trần Lâm chỉ nhấn mạnh đến mấy chữ “Công giáo di cư ít nhiều gì cũng là kiêu dân”, còn những chuyện khác như “giáo phái, sứ quân, giang hồ đạo tặc, người Pháp còn tham vọng giữ thuộc địa…”, thì dường như ông Trần Lâm không để ý tới. Tôi nghĩ ông Tạ Chí Đại Trường có tài viết văn súc tích, “đa tầng”, trong một câu chữ thường chứa nhiều ý, có khi là hai ý khác nhau hay tương phản, cho nên không nên bớt chữ khi đọc ông. Thật ra, trong một câu viết dài như trên, có lẽ ông TCĐT không thể viết thêm một sự việc nữa là quân đội miền Nam lúc đó có lúc muốn lật đổ ông Diệm, và người Mỹ có lúc nghĩ chuyện thay thế ông nửa chừng. “Công giáo di cư ít nhiều gì cũng là kiêu dân” tôi nghĩ có khi là ông TCĐT muốn nói tới một trong nhiều khó khăn mà ông Diệm phải đối đầu, trong đó có hai ông giám mục từ miền Bắc di cư vào, đòi hỏi nhiều thứ quá mà không được thoả mãn, đã không ủng hộ hay còn chống lại ông Diệm. Với những khó khăn chồng chất như thế, ông Diệm vượt qua được là nhờ hoặc may mắn, hoặc ơn Chúa theo niềm tin của ông, hoặc có tài. Tôi tin ông có tài hơn nhiều người ở miền Nam lúc đó, và ông Nhu rất có thủ đọạn (cũng hơn nhiều người). Cả hai anh em ông khéo sử dụng thế lực này để chống lại thế lực kia, và sau cùng loại bỏ những người đã giúp họ lúc đầu (như Nhị Lang, Hồ Hán Sơn, kể cả Dương Văn Minh). Ông Diệm cũng dựa vào Mỹ để chống lại Pháp (là việc làm sáng suốt), nhưng lần này người Mỹ loại ông trước khi họ bị anh em ông loại.

    Thật ra, nhiều người thấy cuộc tranh đấu của Phât giáo năm 1963 là chính đáng, nhưng vì việc này đưa đến cái chết của hai anh em ông Diệm (tôi nói lại không phải do Phật giáo gây ra), và thế lực Thiên Chúa giáo ở miền Nam sau đó cũng có giảm đi, với ít nhiều quyền lợi bị mất, nên một số người đến nay vẫn còn ôm lòng oán hận Phật giáo, nhất là đối với vài người lãnh đạo cuộc tranh đấu đó, và tìm cách bôi nhọ để trả thù. Ngoài này, khi có tin TT Thích Thiện Minh bị (giết) chết trong trại cải tạo, Lữ Giang/Tú Gàn viết trên báo là TT đã “đền tội”. Cái “tình cảm” đó như thể là tự nhiên, không ai chối và cũng chẳng biện minh, nhưng chắc là không theo đúng giáo lý Ki-tô, nên chẳng cần bận tâm.

    Thật ra, kể những điều không tốt về thời ông Diệm thì có nhiều lắm. Theo cuốn “Việt Nam 1945-1975” của Lê Xuân Khoa, trong cuộc trưng cầu dân ý để truất phế Bảo Đại, vào ngày 23-10-1955, ông Diệm được 98.2% số phiếu, và riêng ở khu Sài Gòn-Chợ Lớn có 450.000 cử tri, ông Diệm được 605.025 phiếu! (trang 432). Tôi tin phần lớn người dân Nam Bộ lúc đó chưa biết ông Diệm là ai, từ đâu đến, hình dáng ra sao, còn (hoàng đế) Bảo Đại ai cũng biết mặt vì có hình in trên các tờ giấy bạc.

    Nhưng khi nhận xét, đánh giá chế độ ông Diệm, hay chỉ riêng về “suy tôn lãnh tụ”, ta phải đặt nó vào thời đại của nó, và so sánh với các chế độ của các nước gần gũi, ở chung quanh. Tôi đã so sánh với miền Bắc, với các nước Nam Hàn, Đài Loan, Indonesia, nên xin ghi thêm là ở Phi, sau này ông Marcos còn cho phép mình làm tổng thống liên tiếp 20 năm (1966-1985) và hơn nữa nếu không bị lật đổ, trong khi hiến pháp đệ Nhất Cộng hòa chỉ để cho ông Diệm làm tổng thống tối đa ba nhiệm ký, tức tổng cộng 15 năm (nếu ông sống sau 1963). Dù sao, không thể lấy cái nhìn từ một nước dân chủ hiện nay mà đòi hỏi miền Nam VN 50 năm trước đây phải tốt hơn thế, và chỉ nên lấy chế độ VN bây giờ so sánh với nước Pháp (của ông Trần Lâm), hay thử so sánh với chế độ ông Diệm trước kia.

  12. Phùng Tường Vân viết:

    Đầy những ồn ào và phẫn nộ

    Có thể kể câu chuyện khởi đi bằng một bài viết của Trần Kiêm Đoàn, tôi thấy bài viết bóng bảy nhưng cũng từ tốn phải chăng, xứng đáng được đón nhận những đối thoại ôn hoà và, công bằng nhận xét thì những hòn chì ném lại lác đác trên talawas cũng không có gì đáng phàn nàn lắm, nhưng rõ ràng là thấy rộ lên một trận chiếnphản Ngô đả cần lao khá hung dữ và bài bản khác thường, phụ họa những tiếng vỗ tay cổ võ còn có thêm cả những “luận chiến du kích” châm chọc rất tiểu tâm, kêu réo cả đến tên tuổi của một người đàn bà tuy đã từ lâu dời bỏ sân khấu lịch sử trong đau khổ với nỗi khiêm nhường thất thế chắc cũng không mong gì hơn là được để yên trong quên lãng. Tôi thấy rất bất nhẫn mà phải lên tiếng, mong rằng những ai đang cảm thấy say sưa hoan lạc trong những luận chiến đầy hùng biện của mình, đang cao đàm dẫn ra đủ mọi tên tuổi đông phù tây trợ cho mình, tôi chỉ thấy quý vị đang chỉ đóng góp thêm những tiếng ồn ào và phẫn nộ, đôi khi không có nghĩa lý gì hết.

    Điều càng khó hiểu hơn nữa là chính những vị đang hùng hồn nhất dương lá cờ phản Ngô về hàng trăm thứ tội mà cái tội nặng nhất là cố tình làm tan hoang Phật Giáo Việt Nam, cố tình biến đất nước này là nơi “không còn tiếng chuông chùa” v.v… lại là những người không hề có đến một lời nào về cái pháp nạn “Làng Mai/Bát Nhã” cũng đã và đang làm rúng chuyển lương tri và lương tâm của biết bao người trên hoàn vũ.

  13. Tran Hung viết:

    Sẵn bài viết trên đang nói về chế độ Ngô Đình Diệm, tôi xin bổ túc một đoạn hồi ký của một người đang bị tấn công một cách tàn nhẫn trên mạng. Không phải Thiền sư Nhất Hạnh, Thiền sư Tuệ Sỹ hoặc Trịnh Công Sơn, nhưng cũng là một nhân vật Phật giáo đang bị các mạng hải ngoại đánh hội đồng: thượng toạ Trí Quang. Xin quí vị hãy bình tâm mà đọc bài viết của một người mà có thể quí vị cho là xấu xa, ghê tởm:

    Ông Ngô đình Diệm muốn Thiên chúa giáo của ông độc tôn, muốn anh của ông là Tổng giám mục Ngô đình Thục làm Hồng y giáo chủ, nên ông kỳ thị đàn áp Phật giáo. Ấp chiến lược chỗ thì rào chùa vào trong để hạn chế đi lại, chỗ thì rào chùa ra ngoài để tự do bắn phá. Khu trù mật thì bắt cán bộ cơ sở của Phật giáo phá nhà bỏ của mà đi. Quân dịch thì bắt Tăng sĩ Phật giáo làm những chức vụ nguy hiểm mà vô quyền, để tu sĩ Thiên chúa nắm quyền chỉ huy ngay từ hạ tầng. Giải thưởng văn chương thì thưởng cho cuốn Văn chương bình dân nội dung cốt chống Phật giáo. Chương trình tú tài C thì đổi ra toàn lý thuyết thượng đế và nhân vị, lại thêm 1 bằng ban D với cổ ngữ la tinh. Sát hại Phật tử thì có tập thể lên đến 36 người ở 1 nơi cùng 1 lúc, không còn lẻ tẻ nữa. Cả gan hủy bỏ ngày Phật đản trong danh sách ngày lễ được nghỉ của công tư chức, và danh sách này bao giờ Thiên chúa giáo cũng gấp đôi Phật giáo cả ngày và giờ nghỉ. Dụ số 10 được thêm dụ bổ túc, tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối với Phật giáo. Rồi sửa điện Thái hòa của hoàng thành Huế thì có lưỡng long mà không có nhật nguyệt để phòng cắm thánh giá. Mọi việc xuôi xả thì tòa Hồng y giáo chủ sẽ đặt ở đó. Cái làm cho không xuôi là cờ Phật giáo. Vatican điều tra thấy Huế, địa phận của Tổng giám mục Ngô đình Thục, sao mà Phật giáo nhiều quá: Phật đản thì cờ Phật giáo đầy 2 bên đường từ Huế ra Lavang, kiệu đức mẹ thì từ Lavang vào Huế không có cờ của Vatican. Ông Ngô đình Diệm bèn bắt công chức Huế kê tên cả nhà để đưa cho anh mình báo cáo là giáo dân, và Phật đản 2507 (1963) thì triệt hạ cờ Phật giáo để Vatican thấy dân Huế theo anh mình hết rồi. Phật giáo thì suốt thời Pháp thuộc cho đến lúc đó chồng chất bao nhiêu chịu đựng. Nay thì không chịu nữa. Ngay sau khi tuyên bố như vậy, tôi gửi đến Tổng thư ký Liên hiệp quốc 1 điệp văn nêu lên tình hình vi phạm nhân quyền và kỳ thị tín ngưỡng của chế độ Ngô đình Diệm. Từ đó cho đến ngày ông bị lật đổ, mọi hoạt động trong và ngoài nước ai cũng biết không nhiều thì ít, không thể kể cho hết được. Có điều phải nói, trước và sau 1963, cho đến 1975, Phật giáo VN không bao giờ nằm trong túi ai cả…

    …Ấy thế, mọi việc diễn ra có lúc đến chóng mặt. Cho đến mùa xuân 2519 (1975) thì 1 ngày mà có người 3 lần đến vận động tôi đừng chống việc ông Dương văn Minh đứng ra, ” vì chính quyền của ông ấy sẽ có 7 phần 10 là người tiến bộ”. Tôi không nói lại gì cả, chỉ quan tâm lời thầy Trí thủ nói, rằng chim cá còn mua mà phóng sinh, lẽ nào đồng bào mà không hy sinh cấp cứu. Rồi ông Dương văn Minh gặp tôi, đưa ra 2 mảnh giấy báo cáo mật cho thấy ngân hàng trống rỗng và quân sự nguy ngập, và nói ông không vụ lợi vì lợi không còn gì, không cầu danh vì danh đến quốc trưởng là cùng, ông chỉ không nỡ ngồi nhìn chết chóc. Tôi nói, nếu lòng ông như thế là ông làm như lời thầy Trí thủ nói, và có nghĩa ông thay người khác mà vác cờ trắng ! Sau đó mấy tháng, tôi trả lời 1 thầy Phật giáo cấp tỉnh, rằng Phật giáo VN bước qua một giai đoạn khác.

    Tổng chi, tôi có tham vọng không? Có, mà có đến nỗi có người đã nói hơi chướng nữa. Tham vọng của tôi không mơ mộng Phật giáo trở lại vị thế quốc giáo như thời xa xưa, càng không muốn Phật giáo thành một Thiên chúa giáo thứ hai. Tôi chỉ mong ước trong cơn nghiêng ngửa của đất nước, ai nhìn vào Phật giáo cũng nghĩ rằng đất nước này còn có cái ấy.

    Phật giáo của tôi, và tôi, đúng là

    Cao cao sơn thượng hành thuyền,
    thâm thâm hải để tẩu mã:
    ngựa phi dưới nước,
    thuyền chèo trên non.

    Hòa Thượng Thích Trí Quang: Tiểu truyện tự ghi
    (www.buddhismtoday.com)

  14. Louis viết:

    Tôi tự hỏi trong số hơn 80 mươi triệu người Việt hiện nay có bao nhiêu người là Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Cao Đài , Hồi, Cần lao, Đại Việt, đảng viên Cộng sản? Có bao nhiêu người hàng ngày trông chờ tin tức, chỉ thị của “lãnh đạo cấp trên” ở Bắc kinh, Moscow,Washington, Rome để có thể sống và hành xử như là 1 người Việt nam đích thực? Tinh thần nô lệ đã ngấm tận xương tuỷ của chúng ta rồi, khi nào chúng ta còn nhìn nhau bởi cái nhãn bên ngoài (nhãn tự mình khoác cho mình hay do người khác “tặng”) thì đất nước sẽ mãi là 1 bãi chiến trường của những thế lực ngoại bang và dân mình – kể cả những kẻ đang lãnh đạo quốc gia- sẽ đóng vai những con tốt thí, không hơn không kém.

  15. Huy Tử viết:

    THÁN PHỤC

    “Truth lies at the bottom of a well.” – English Proverb

    Chân thành cảm phục và hoan nghênh tác giả Trần Lâm và Talawas blog!

    Thật hiếm thấy tác giả vừa có kiến thức, vừa có lòng trung thực và can đảm như ông Trần Lâm.

    Chúng ta đều biết, đảng CLNV vẫn còn hoạt động mạnh khắp năm châu… có thể nói mạnh gấp trăm nghìn lần đảng CS/VN nữa! Ở hải ngoại ĐCLNV mạnh miệng chửi rang rảng tất cả quân nhân, công chức vào thời ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA (1963-1975) không tiếc lời và không ngừng nghỉ. Thật ghê quá! Chúng tôi sợ lắm! (còn tiếp)

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...