talawas blog

Chuyên mục:

Trần Lâm – Kiêu dân công giáo thời Ngô Đình Diệm

06/11/2009 | 11:30 chiều | 55 Comments

Tác giả: Trần Lâm

Category: Chiến tranh Việt Nam, Lịch sử
Thẻ:

Bài các bạn đang đọc được viết với hai mục đích có liên quan mật thiết với nhau.

Thứ nhất, để góp ý với Trần Ngọc Cư, Hòa NguyễnTrần Văn Tích về bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống. Thời Đệ Nhất Cộng hòa, trong buổi lễ chào cờ, bài ca này phải được hát kèm với Tiếng gọi Công dân, Quốc ca chính thức do Lưu Hữu Phước et al sáng tác. Nó có đoạn như sau:

Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống

Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm

Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống

Xin thượng đế ban phước lành cho người

Thứ hai, để trả lời một câu hỏi quan trọng mà Dũng Vũ đã đặt ra cho tôi trên diễn đàn talawas. Câu hỏi này có liên quan đến nhận định của sử gia Tạ Chí Đại Trường về khối người từng làm nòng cốt cho chế độ Ngô Đình Diệm.

Tôi sẽ đi sâu vào bài quốc ca “kép” nói trên, sau khi giải quyết xong thắc mắc do Dũng Vũ nêu lên về nhận định của nhà viết sử họ Tạ.

Theo Tạ Chí Đại Trường, người từng sống dưới chế độ Ngô Đình Diệm, đồng bào Công giáo từ Bắc di cư vào Nam thời đó là một khối kiêu dân. Sau đây là toàn bộ văn cảnh của nhận định nói trên nơi trang 457 trong cuốn Sử Việt, đọc vài quyển, được Văn Mới xuất bản tại California năm 2004. Khi bàn về mối hiểm họa của Cộng sản miền Bắc đối với Miền Nam, Tạ Chí Đại Trường tự hỏi:

“Làm cách nào mà một chính quyền Sài Gòn lộn xộn với giáo phái sứ quân, với giang hồ đạo tặc, với Công giáo di cư ít nhiều gì cũng là kiêu dân, với cả người Pháp còn tham vọng giữ phần đất thuộc địa cuối cùng… có thể đương cự với cả một nền tảng đe doạ trùng trùng như thế? Lịch sử ổn định bước đầu của chính quyền đó là một phối hợp tuyệt vọng của những người Việt chống cộng (một tập-hợp-từ tiêu cực đúng với thực chất hổ-lốn của nó) chỉ còn một mảnh đất nương thân, và của người Mĩ đứng nhìn trong bình diện chiến lược quốc tế thấy mình phải chen chân vào.”

Vì họ Tạ là một sử gia có uy tín, nên sau khi đọc câu văn mười hai chữ được nhấn mạnh ở trên vào khoảng cuối năm 2004, tôi lập tức tìm cách kiểm chứng nó và tôi đã tìm được sự xác nhận đầu tiên trong hai bài nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh, “L’engagement politique du Bouddhisme au Sud-Viêt-Nam dans les années 1960” trong Alain Forest et al (dir.), Bouddhismes et Sociétés Asiatiques: Clergés, Sociétés et Pouvoirs, L’Harmattan, Paris, 1990, tr. 111-124,“Le Sangha bouddhiste et la société vietnamienne d’aujourd’hui”, được đăng trên trang VIET NAM Infos.

Giáo sư Nguyễn Thế Anh là một học giả có tầm vóc quốc tế, được đồng nghiệp Á Âu Mỹ công nhận là một trong những người có thẩm quyền nhất về lịch sử Việt Nam thời cận đại. Thế nhưng, tôi cũng ý thức được rằng tôi không thể chỉ dựa vào uy tín của ông để lượng định mức khả tín của câu văn mười hai chữ nói trên. Hai bài nghiên cứu của vị cựu viện trưởng viện đại học Huế và nguyên Trưởng ban sử học Đại học Văn khoa Sài Gòn này chỉ là những sử liệu hạng hai. Muốn kiểm chứng một cách thấu đáo nhận định của Tạ Chí Đại Trường về “kiêu dân Công giáo” thời Ngô Đình Diệm, tôi phải cố gắng tìm cho ra sử liệu hạng nhất về vấn đề này. Hai loại sử liệu mà tôi phân chia ra thành hạng nhất và hạng hai được Nguyễn Kỳ Phong, tác giả cuốn Vũng lầy của Bạch Ốc: Người Mỹ Và chiến tranh Việt nam 1945- 1975, định nghĩa một cách tương tự như sau:

“Sử liệu có hai loại: primary và secondary documents (tài liệu chánh và tài liệu phụ). Hồi ký, văn kiện chính thức, lời phỏng vấn từ nhân chứng, được xếp vào loại tài liệu chánh. Trích dẫn, nghe nói lại, hay sách biên khảo của người thứ ba, là tài liệu phụ. Hai loại tài liệu đó đều được công nhận khi dùng làm sử liệu viết sách.”

Vốn là mọt sách tu lâu năm trong Tàng Kinh Các ở Tây Phương, nên qua phần ghi chú trong hai quyển sách viết về chiến tranh Việt Nam, tôi đã tìm thấy hai tài liệu được hình thành trước ngày 8 tháng 5 năm 1963. Chính vì được viết ra trước khi biến cố Phật giáo 1963 bùng nổ, nên nội dung của hai tài liệu này không bị chi phối bởi cuộc tranh chấp giữa phong trào Phật giáo và chế độ Ngô Đình Diệm. Do đó, chúng có một mức độ khả tín rất cao. Hai tài liệu nói trên gồm 1) “The Buddhist Movement in Vietnam and its Difficulties with the Present Government”, một tài liệu do các nhà biên khảo Hoa Kỳ hoàn tất vào tháng Tư năm 1961 và hiện đang được lưu trữ tại Văn khố Chiến tranh Việt Nam ở Lubbock bên Texas, và 2) “L’Église au Sud-Vietnam”, một phóng sự được đăng trên tạp chí Informations Catholiques Internationales vào ngày 15 Mars 1963, từ trang 17 đến trang 26.

Như vậy, câu văn mười hai chữ của Tạ Chí Đại Trường chẳng những được một chuyên gia hàng đầu trong ngành sử Việt xác nhận (confirmed), mà còn được tăng bổ (corroborated) bởi hai tài liệu chánh (sử liệu hạng nhất) mà chúng ta có quyền cho là rất khả tín. Nhờ vậy nên tôi đã có đầy đủ căn cứ để chấp nhận rằng nhận định ngắn gọn mà Tạ sử gia đã đưa ra về khối kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm cầm quyền tại miền Nam Việt Nam là một nhận định rất khả tín, có thể giúp chúng ta hiểu được tại sao Ngô triều đã đánh mất sự ủng hộ của người Lương và cuối cùng bị lật đổ.

Sau khi công bố những điều vừa mới được viết bên trên trong mục phản hồi ở diễn đàn talawas, tôi hân hạnh nhận được sự lưu tâm và câu hỏi dưới đây của độc giả Dũng Vũ:

‘Thưa ông Trần Lâm,

Ông viết: “Tôi hoàn toàn không vô tình khi dùng 2 chữ “kiêu dân”, vì những sử liệu do tôi đưa lên mạng cho phép tôi suy luận rằng khái niệm “kiêu dân Công giáo” là một khái niệm có thể giúp chúng ta hiểu được tại sao chế độ Diệm đã đánh mất sự ủng hộ của người Lương tại miền Nam Việt Nam, đưa đến sự sụp đổ của chế độ này… Tôi nói chuyện có bằng chứng hẳn hoi, thì tại sao tôi phải sợ ai?”

Xin phép được hỏi ông: “Kiêu dân” có nghĩa là gì?

Cảm ơn ông…’

Đây là một câu hỏi rất chính đáng, cần được một sự hồi đáp tường tận. Nếu chúng ta trả lời được câu hỏi này một cách thỏa đáng thì có lẽ chúng ta sẽ có thể tìm được nguyên nhân sâu xa đưa đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm. Như đã nói qua ở trên, chế độ này còn được gọi là Ngô triều hay Ngô trào.

Ngô Trào

Trải qua một cuộc bể dâu
Trông vời cố quận biết đâu là nhà
Khéo oan gia, của phá gia
Này là em ruột, này là em dâu!
Cửa nhà dù tính về sau
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào!

(Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Chơi Chữ)

Tôi không rành chuyện văn chương, nên chỉ dám đoán mò rằng câu Cửa nhà dù tính về sau trong bài thơ nói trên ám chỉ việc Ngô Đình Cẩn đã cho xây một ngôi biệt thự rất nguy nga tráng lệ ở ngoài Huế. Tôi còn nhớ cách đây khoảng 20 năm tôi có đọc trong Nhật Ký Đỗ Thọ rằng người ta đã phải đập đồ bát vỡ ra từng mảnh để lát nền (cho một phần) trong ngôi biệt thự này. Trong những dòng chữ dưới đây, tôi sẽ không đập vỡ bất cứ vật gì, mà chỉ cố gắng đi lượm lặt những mảnh sử liệu vụn vặt, rồi sắp xếp chúng lại thành một bức khảm mosaic, để Dũng Vũ nói riêng và bạn đọc bốn phương nói chung ít nhiều gì cũng thấy được bộ mặt của kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm.

Kiêu dân, ngươi là ai?

Thời dòng họ Ngô Đình “dĩ đức vi chính” tại miền Nam Việt Nam, kiêu dân thường là những tín đồ Công giáo (di cư) dựa vào sự dung túng của kẻ có thế, có quyền để hống hách ngang ngược, xem thường luật pháp, vi phạm một cách trắng trợn nhân và dân quyền của người khác, thường là những Lương dân vô tội.

Sau đây là vài ví dụ điển hình.

1. Trong suốt ba năm liền, kiêu dân đã hằng đêm ném gạch, đá vào nhà thân nhân vô tội của một chính trị phạm, mà (hình như) không hề bị cơ quan công lực trừng phạt. Xem chứng từ của Phan Lạc Giang Đông, một cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa và cũng là bào đệ của Phạm Lạc Tuyên, một viên sĩ quan tham gia vào cuộc đảo chính hụt ngày 11 tháng 11 năm 1960:

“Gia đình tôi kể từ ngày này hoàn toàn không còn được yên nữa. Khu xứ đạo Thái Hòa (xứ đạo của đồng bào Bắc di cư vào Nam), mọi người ở lối xóm dã có thái độ khác trước. Mỗi tối, khoảng từ bảy, tám giờ thì một số người, không biết từ nhà nào đã ném gạch, đá lên mái nhà (bằng tole) của gia đình, ông cụ thân sinh tôi rất buồn và gặp thẳng Linh mục xứ đạo để nói việc này, song không giải quyết được. Việc họ ném như thế kéo dài cho đến khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ mới chấm dứt.”[1]

Xin thêm: Xứ đạo Thái Hòa, theo lời của Phan Lạc Giang Đông, nằm ở Ngã Ba Ông Tạ. Là một người sinh ra và sống những năm đầu đời tại một thị xã hẻo lánh ngoài Vùng II Chiến Thuật trước khi theo cha mẹ vượt biên tỵ nạn Cộng sản, tôi thật tình không biết cái ngã ba này nằm ở đâu. Nhưng vì chúng ta đang bàn về câu văn mười hai chữ của vị sử gia họ Tạ, nên xin ghi luôn chi tiết vui vui bên lề này vào bài.

2. Tại tỉnh Quảng Ngãi, một vị linh mục đã thông đồng với viên tỉnh trưởng trong mưu toan cướp đất của một ngôi chùa tại một làng trong tỉnh này để xây tượng đài cho Đức Mẹ, đưa đến sự xung đột giữa Phật tử ở ngôi làng nói trên và chính quyền địa phương. Xem trang 4 trong tài liệu “The Buddhist Movement in Vietnam and its Difficulties with the Present Government” đã được đề cập đến ở phần đầu của bài. Xin nhắc lại, vì tài liệu này được hình thành trước khi cuộc xung đột giữa Phật giáo và chế độ Diệm bùng nổ, nên nội dung của nó rất đáng tin.

3. Dưới thời Ngô Đình Diệm, tín đồ Công giáo thường được quân đội và cơ quan Thông tin tiếp tay để tổ chức trên đường phố Sài Gòn hay Huế những cuộc rước lễ [?] linh đình, gây ra sự tắc nghẽn giao thông trầm trọng, khiến cho người Lương phải gặp nhiều phiên phức trong việc đi lại. Việc này đã khiến cho Giáo sư Nguyễn Văn Trung lúc đó phải thốt lên rằng những người tổ chức các cuộc rước lễ [?] nói trên nghĩ đường phố là của riêng của Giáo hội Công giáo hay sao.[2] Tuy nhiên, có người vẫn chưa hài lòng. Khi Phật tử tiến hành nghi lễ tại chùa thì sinh hoạt tôn giáo của họ, theo chứng từ của một tín đồ Công giáo Việt Nam, lại bị các công xa của sở Thông tin có mang loa phóng thanh đậu ở gần chùa phá rối.[3]

Chứng từ nói trên được đăng trong tạp chí Informations Catholiques Internationales, phát hành vào tháng Ba năm 1963, cho nên nội dung của nó không thể bị ảnh hưởng bởi biến cố Phật giáo xảy ra sau đó. Vì vậy chứng từ này cũng là một sử liệu rất đáng tin.

4. Kiêu dân gây áp lực không cho sách của Nguyễn Hiến Lê được dùng tại các trường ngoài miền Trung, tuy sách này đã được Bộ Thông tin cho phép phát hành. Sau đây là lời tường thuật của chính vị cố học giả họ Nguyễn:

“Đầu niên khóa 1954-1955, trong chương trình Trung học đệ nhất cấp có thêm môn Lịch sử thế giới dạy trong bốn năm. Ông Thiên Giang lúc đó dạy sử các lớp đệ lục, đệ ngũ. Tôi bàn với ông soạn chung bộ sử thế giới càng sớm càng tốt cho học sinh có sách học, khỏi phải chép “cua” (cours). Ông đồng ý. Chúng tôi phân công: tôi viết cuốn đầu và cuốn cuối cho lớp đệ thất và đệ tứ, ông viết hai cuốn giữa cho đệ lục và đệ ngũ. Chúng tôi bỏ hết công việc khác, viết trong 6 tháng xong; tôi bỏ vốn ra in, năm 1955 in xong trước kì tựu trường tháng chín. (…)

Sau một linh mục ở Trung yêu cầu bộ Giáo dục cấm bán và tịch thu hết bộ sử đó vì trong cuốn II viết về thời Trung cổ, chúng tôi có nói đến sự bê bối của một vài Giáo hoàng. Bộ phái một viên bí thư có bằng cử nhân lại tiếp xúc với tôi. Ông này nhã nhặn, khen tôi viết sử có nhiệt tâm, cho nên đọc hấp dẫn như bộ sử Pháp của Michelet; rồi nhận rằng sách tôi được Bộ Thông tin cho phép in, lại nạp bản rồi thì không có lí gì tịch thu, cấm bán được, chỉ có thể ra thông báo cho các trường đừng dùng thôi; cho nên ông ta chỉ yêu cầu tôi bôi đen vài hàng trên hai bản để ông ta đem về nộp bộ, bộ sẽ trả lời linh mục nào đó, còn bán thì tôi cứ bán, không ngại gì cả. Tôi chiều lòng ông. ( ….)

Hồi đó bộ Lịch sử thế giới của tôi chỉ còn một số ít. Tôi hỏi các nhà phát hành, được biết có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó; trong Nam thì không. Chỉ ít tháng sau bộ đó bán hết, tôi không tái bản. Công giáo thời đó lên chân như vậy.”[4]

5. Cũng theo chứng từ của người Giáo dân mà chúng ta vừa gặp ở phần trên, kiêu dân đã lạm dụng quyền thế để đả kích tín ngưỡng của các học viên người Lương phải theo học khóa học Nhân vị tại Trung tâm Nhân Vị ở Vĩnh Long. Vì sợ bị ghi danh vào sổ đen, những nạn nhân này đành phải chịu đựng trong im lặng, khiến cho các học viên Công giáo tại khóa học cũng cảm thấy hổ thẹn trước hành động hống hách nói trên.[5]

Đây là một điểm cần phải được nhấn mạnh, vì nó cho ta thấy rõ không phải tín đồ Công giáo nào tại miền Nam cũng là kiêu dân khi vùng đất đáng lẽ là tự do này phải sống dưới sự thống trị của nhà Ngô. Ngay cả trong hàng giáo phẩm Công giáo cũng đã có những bậc chân tu cố tránh xa chế độ Ngô Đình Diệm để duy trì uy tín và tính chất độc lập của Giáo hội.[6]

Cố học giả Nguyễn Hiến Lê cho biết: “Ngô Đình Thục ở Vĩnh Long… tạo ra thuyết Duy linh chống với thuyết Duy vật của Cộng sản, bắt công chức nào cũng phải học. Họ chẳng học được điều gì mới cả, chỉ phải nghe mạt sát đạo Phật và đạo Khổng. Những người theo học đại đa số thờ Phật, đau lòng mà không dám cãi.”[7]

Phải chăng thái độ kiêu căng và khiêu khích của một bộ phận quan trọng trong cộng đồng Công giáo tại Miền Nam mà chúng ta vừa thấy qua những trường hợp nêu trên đã là một trong những nguyên nhân chính khiến cho khối người Lương ở phía dưới vĩ tuyến 17 ngày càng xa cách chế độ Ngô Đình Diệm, đưa đến sự sụp đổ của nó vào cuối năm 1963?

“Cả làng xin được rửa tội….”

Do những biến cố xảy ra trong năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm thường bị những người chống đối tố cáo là một chế độ đã lệ thuộc (quá) nhiều vào sự hậu thuẫn trung thành của Giáo dân (di cư) và, vì vậy, đã dành cho khối người này một sự nâng đỡ đặc biệt. Nhưng thật ra, không phải đợi đến năm 1963 mới thấy được sự gắn bó keo sơn giữa (một khối) tín đồ Công giáo và nền Cộng hòa Nhân vị do anh em Tổng thống Diệm lãnh đạo. Quan hệ này đã nhen nhúm ngay sau khi chế độ Ngô Đình Diệm vượt qua được giai đoạn phôi thai đầy nguy hiểm. Trong tạp chí International Affairs phát hành vào tháng 4 năm 1956, J. Donald Lancaster nhận xét:  Tổng thống Diệm bị hạn chế trong việc thế thiên hành đạo tại miền Nam Việt Nam bởi lòng trung thành đối với tôn giáo cũng như gia đình của chính ông ta.

Lòng trung thành nói trên rất có thể đã là một trong những yếu tố khiến cho người Lương đột nhiên theo đạo Công giáo hàng loạt thời dòng họ Ngô Đình cầm cân nẩy mực phía dưới vĩ tuyến 17, một hiện tượng Nguyễn Hiến Lê có đề cập đến trong hồi ký của mình (trang 121, tập II). Ông kể lại: “Diệm-Nhu theo chính sách ba-Đ: Đảng (Cần Lao), Đạo (Công giáo) và Địa phương (miền Trung). Chỉ công chức nào có đủ ba Đ mới được tin dùng, cho nên con số tín đồ Công giáo tăng vọt lên, nhất là ở miền Trung; có giáo đường làm lễ rửa tội hằng trăm người một lúc.”

Người nổi tiếng và thành đạt nhất trong nhóm Giáo dân tân tòng này không phải ai khác hơn là một viên sĩ quan gốc miền Trung tên Nguyễn Văn Thiệu. Ông Thiệu lập gia đình với một nữ tín đồ Công giáo trước khi Ngô triều được thiết lập. Nhưng mãi đến năm 1958, tức là lúc triều đại này đã “vững nền thịnh trị”, ông mới để cho Linh mục Bửu Dưỡng, một lý thuyết gia quan trọng của trường phái Cần lao Nhân vị, rửa tội tại Đà Lạt. Chính LM Bửu Dưỡng đã cho Tướng Edward Lansdale biết điều này và nhờ bản báo cáo Lansdale gửi cho Đại sứ Elsworth Bunker ngày 20 tháng 4 năm 1968, nên sử gia Vũ Ngự Chiêu mới có thể tìm ra được một chứng liệu thành văn về sự trở lại đạo của Nguyễn Văn Thiệu.[8] Arthur Dommen, một học giả có cảm tình với họ Ngô, cũng cho biết vị Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh trong tương lai này không theo đạo lúc lập gia đình, mà chỉ làm việc này sau khi chiếc ghế Tổng thống của Ngô Đình Diệm đã vững như bàn thạch.[9]

Trường hợp Nguyễn Văn Thiệu, như đã nói, chỉ là trường hợp nổi bật nhất. Hiện tượng người Lương ồ ạt theo đạo Công giáo thời Ngô Đình Diệm mà Nguyễn Hiến Lê kể lại đã được tạp chí Informations Catholiques Internationales phát hành ngày 15 tháng 3 năm 1963 xác nhận. Nên xem những con số ngoạn mục được nêu ra trong đó. Ngoài ra, nhờ tạp chí này mà chúng ta còn biết được Đức ông Ngô Đình Thục đã khoe với một đồng nghiệp người Pháp rằng ở giáo phận Vĩnh Long đôi khi có đến nguyên cả làng xin được rửa tội và, ngoài Phi Luật Tân ra, Nam Việt Nam là quốc gia độc nhất tại Viễn Đông sẽ phải được ở trên con đường đưa đến sự trở lại đạo hoàn toàn.[10] Tuy nhiên, Informations Catholiques Internationales cũng cho chúng ta biết, thái độ đắc thắng do cả chế độ Ngô Đình Diệm lẫn khối thiểu số Công giáo phơi bày đã tạo ra một sự bất mãn nhất định trong khối người Lương, một sự bất mãn mà tạp chí này cho là dễ thấy ngay tại Sài gòn cũng như ở các ngôi làng xa xôi hẻo lánh nhất.[11]

Nhận định nói trên rất phù hợp với báo cáo mà Đại Sứ Pháp Roger Lalouette gửi về Paris đúng một năm trước đó.[12] Lalouette cho biết ngoài Cộng sản ra, chế độ Diệm còn phải đương đầu với sự chống đối của những thế lực phi Cộng sản:

“Lực lượng chống đối tập họp những người ái quốc cấp tiến, giới trưởng giả Nam Kỳ bị gạt bỏ khỏi những việc công ích bởi những phần tử Bắc hay Trung vào tị nạn, những giáo pháo bị giải giới và bị nghi ngờ và, một cách tổng quát, tất cả những người không Ki-tô chống lại thiểu số Ki-tô (10% dân số) đã đặt tôn giáo Ki-tô La Mã lên hàng quốc giáo. Họ không đòi hỏi sự thay đổi trong chế độ, mà là thay đổi cả một chế độ.”

Chính nội dung của những tư liệu được hình thành trước biến cố Phật giáo nói trên đã cho phép chúng ta (tạm) tin lời Vũ Tài Lục, người đã từng sống trong thời cai trị của nhà Ngô, khi vị học giả này khẳng định rằng đến tháng 5 năm 1963 thì sự kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Ngô Đình Diệm (mà ông gọi là chế độ Diệm-Thục để nhấn mạnh vai trò của Đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục trong đó) đã đến mức không thể chịu đựng hơn được nữa, nên Phật tử đã phải xuống đường để phản đối. Dù sao đi nữa thì mối liên hệ nhân quả giữa tệ trạng kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Ngô Đình Diệm và Biến cố Phật giáo 1963 sẽ được phân tích một cách tường tận hơn trong một bài khác, đang được chuẩn bị.

Một hiện tượng thuộc lịch sử?

Ngoài việc kỳ thị tôn giáo, chế độ do anh em Ngô Đình Diệm cầm đầu còn gây ra cho người dân miền Nam những bực mình không cần thiết. Khi bàn đến một tấm hình ăn ý của ông ta, Đoàn Thêm, một viên chức cao cấp làm việc trong Dinh Độc lập thời Đệ Nhất Cộng hòa, có kể lại:

“Một người bạn trẻ ở ngoài chính giới đã bảo tôi:

– Coi bộ thì cũng không đến nỗi nào, nhất là bức ảnh Âu phục chụp nghiêng 3/4 thấy treo ở nhiều nơi.

Tôi cho biết là chính ông ưa bức đó hơn cả, nhưng anh ta lại càu nhàu luôn:

– Chỉ phải cái rất bực và rồi phát ghét, là cứ phải chào! Sao lại đem in tròn giữa quốc kỳ để bắt đứng dậy chào khi xem xi nê? Thà tới chậm, mất hẳn đoạn phim thời sự, còn hơn phải ngắm mặt mũi, bảnh bao mấy cũng bỏ đi!

Tôi không thể chối cãi, vì chính là trường hợp tôi mỗi khi muốn coi phim…

Không những chế độ Ngô Đình Diệm làm phiền người dân, chính cá nhân họ Ngô cũng quấy rầy nhân viên dưới quyền ông ta. Theo Đoàn Thêm:

“Ông Tổng thống luyến tiếc các biểu hiệu quân chủ, nên tái lập Kim Khánh của nhà Nguyễn và công nhận là huy chương cao nhất của Việt Nam. Ông gây lại không khí cung đình, đặt lễ phục gấm lam khăn đen cho các nhân viên cao cấp, và chỉ nhận chúc Tết Nguyên Đán vào sớm ngày mồng một. Đã có vài người xin ông cho chúc vào chiều ngày ba mươi, vì Tết đầu năm là ngày của gia đình, theo cổ tục, buổi sáng dành cho gia tiên, đa số còn phải đèn nhang cúng vái, hoặc mừng tuổi ông bà cha mẹ. Ông không nghe, vì theo ông, xưa kia phải triều bái ở điện Thái Hòa hoặc ở Vọng Cung các tỉnh, nghĩ đến Vua rồi mới đến nhà, vì Vua là là nước. ‘Vua ban hồng phước không tốt hơn là chờ người xông đất hay sao?’

Bởi vậy, cứ tám giờ mồng một, là hàng trăm người, cả nhân viên, lẫn đại diện đoàn thể dân chúng, đành phải xúng xính áo khăn vào cầu ơn trên phù hộ cho ông.

Một công chức bực quá đã thốt ra một câu chua chát:

– Thôi thì coi bái khánh như một công vụ đã được tính vào số lương tháng rồi!

Có lẽ vì thế mà hai tiếng Ngô Triều đã được nói đến ngay từ 1957, chớ không phải từ sau Cách mạng 1963, do một Tôn Thất nhà Nguyễn đương làm Giám đốc một Nha.”

Chuyện lố lăng nhất mà chế độ Nhân vị của dòng họ Ngô Đình đã gây ra là việc họ bắt buộc người dân miền Nam hát bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống trong lễ chào cờ. Cách đây trên hai mươi năm, tờ Làng Văn, một nguyệt san chống Cộng hữu danh tại hải ngoại, có đăng trong số 47 một bài mang tên “Sơ kết vấn đề Quốc-Ca”, trong đó có chứa đựng những dữ kiện lý thú về bài hát sùng bái cá nhân nói trên. (Khi đó tôi là một học sinh trung học, còn hai năm nữa mới được thi tú tài, nhưng cũng đã bắt đầu có quan tâm đặc biệt đến chế độ Ngô Đình Diệm, nên đã cẩn thận cất giữ tờ báo đó cho đến ngày hôm nay đem ra xài.)

Tờ Làng Văn viết:

“Vấn đề Quốc ca đã được mang ra bàn cãi tất cả ba lần. Lần thứ nhất do Quốc hội đệ nhất Cộng-hòa năm 1956…

Lần thảo luận thứ nhất không đưa tới một sự thay đổi nào, vì có một số đại diện dân cử vì lòng tôn sùng cá nhân, muốn đưa bài Suy tôn Ngô Tổng Thống… ra thay bài Tiếng gọi công dân… Cuộc bàn cãi để đi tìm một bài hát khác làm Quốc ca thay cho bài hát đương thời, với tác giả chính đã đứng về phía CS, lại biến thành một cuộc tranh chấp giữa tin thần tôn quân kiểu mới và khuynh hướng dân chủ tự do. Phe tôn quân không thắng nổi số đông, mà phe đa số cũng không dám dùng thế lực của mình để loại bài suy tôn cá nhân. Trong trường hợp đó, thà giữ nguyên bài cũ còn hơn.

Cuối cùng, vì đoàn kết quốc gia, vì thể diện của lãnh tụ, và quan trọng hơn hết, vì an ninh bản thân, một giải pháp chìm xuồng đã được đưa ra, dung hợp cả hai chủ trương: giữ lại bài Tiếng gọi công dân làm Quốc ca, và hát kèm bài Suy tôn Ngô Tổng Thống ngay trong lễ chào cờ. Từ đó, 1956, Việt Nam Cộng hòa có một bài quốc ca ‘kép’. Tình trạng này kéo dài tới 1963 mới chấm dứt, sau khi Trung tướng Dương Văn Minh đảo chánh thành công, kết thúc chín năm cai trị của Ngô triều.”[13]

Trong mục phản hồi trên diễn đàn talawas, Trần Ngọc Cư mới đây có lời than phiền về tệ trạng sùng bái cá nhân nói trên. Nhưng có lẽ là người tuổi đã cao, nên họ Trần không muốn nhắc đến khả năng đề kháng thụ động của khối người Lương trước sự lố lăng này của chế độ Ngô Đình Diệm và thái độ kiêu ngạo của tập đoàn Công giáo di cư phía sau lưng nó, một sự đề kháng được biểu lộ qua câu Toàn dân Bùi Chu mút cu Ngô Tổng Thống. Đây là một sử liệu truyền khẩu mà tôi được những người lớn tuổi đã từng sống dưới sự thống trị của Ngô triều kể lại cho nghe tại hải ngoại. Nó rất ăn khớp với những sử liệu thành văn mà tôi đã thu thập được và vừa giới thiệu trong bài này. Do đó, nó rất đáng được gìn giữ và phổ biến.

Cách nhìn nói trên không phải là một cách nhìn được mọi người chấp nhận. Hòa Nguyễn và Trần Văn Tích hình như muốn tương đối hóa việc làm lố bịch của chế độ Ngô Đình Diệm.

Hòa Nguyễn viết: “Nhưng cũng nên “thông cảm” những bài hát suy tôn ở vào cái thời thế giới (thứ ba) thích ca tụng các lãnh tụ “anh minh, vĩ đại” của họ, như Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch, Kim Nhật Thành, Lý Thừa Vãng, Sukarno (được bầu làm tổng thống trọn đời).”

Trong bảng Phong thần do Hoà Nguyễn nêu ra không thấy có tên của Jawaharlal Nehru, Thủ tướng Ấn Độ. Ấn Độ trong giai đoạn đó cũng là một quốc gia thuộc thế giới thứ ba, nhưng hoàn toàn không có tệ trạng sùng bái Nehru. Có lẽ vì Ấn Độ là một quốc gia dân chủ, nhất là khi so sánh với Indonesia, Nam, Bắc Hàn, Nam, Bắc Việt Nam, Trung Quốc hay Đài Loan. Bản chất dân chủ của một chế độ không cho phép chuyện lố bịch nói trên xảy ra.

Hơn nữa, việc sùng bái cá nhân không phải chỉ xảy ra tại thế giới thứ ba. Chuyện này đã xảy ra ngay tại nước Pháp dưới thời Pétain và cũng đã lan tràn sang Đông Dương, lúc đó đang nằm dưới sự kiểm soát của chế độ Vichy do Pétain cầm đầu.
Trần Văn Tích viết:

“Thời Pháp thuộc tôi lớn lên ở thành phố Đà Nẵng, lúc bấy giờ có tên chính thức là Tourane. Học trò nhà nước chúng tôi trước khi sắp hàng vào lớp thường phải đứng nghiêm để hát bài Maréchal, nous voilà ca tụng Thống chế Pétain, trong đó có câu “Devant toi, le sauveur de la France”. Vậy nếu Tổng thống Ngô Đình Diệm sau này được xem là “cứu đất nước” v.v… thì cũng chỉ là một hiện tượng thuộc lịch sử vào một giai đoạn nhất định.”

Có thể đây là một nhận định chưa hoàn toàn chính xác. Trước khi Pétain lên chấp chính năm 1940, không có một chính quyền nào của Đệ Tam Cộng hòa lại bắt học sinh hát bài ca tụng Thủ tướng Clemenceau là cứu tinh của nước Pháp, tuy không ai phủ nhận công lao rất lớn của ông trong giai đoạn quyết định cuối Đệ Nhất Thế chiến. Nền Cộng hòa dân chủ này đã vinh danh “le Père-la-Victoire” bằng một cách văn minh hơn. Bởi thế nên việc chế độ Vichy do Pétain cầm đầu bắt học sinh làm chuyện tào lao nói trên có thể được xem như là một triệu chứng của bản chất bệnh hoạn của chế độ này, một chế độ trung gian bản xứ đã tỏ ra rất đắc lực trong việc truy lùng, bắt giữ và chuyển giao người Do thái cho Đức quốc xã – việc làm nhơ nhuốc nhất bên cạnh những việc phản động khác của chế độ Vichy.[14]

Bác sĩ Tích viết tiếp: “Nghĩ lại, nếu quốc ca nước Anh có lời hát “God save the Queen” thì lời bài “Suy tôn Ngô Tổng thống” có câu “Xin Thượng Đế ban phước lành cho người” có thể được xem là hai hiện tượng lịch sử – như đã trình bày – hay chăng?”

Câu hỏi này hình như được đặt ra trên những dữ kiện còn thiếu sót. Kể từ khi vua Henry VIII đọan giao với Tòa thánh La Mã để lập ra Giáo hội Anh giáo, các vị quốc vương hay nữ hoàng Anh quốc không những là nguyên thủ của một quốc gia mà còn phải đóng vai trò lãnh tụ của một tôn giáo (Supreme Governor of the Church of England). Vì vậy, cầu nguyện Thượng đế phù hộ cho ông hay bà ta là việc không có gì đáng nói. Hơn nữa, bài God save the Queen hay God save the King có từ thế kỷ thứ 18,[15] và hình như không mang ý nghĩa khẩn cầu cho một cá nhân cụ thể nào, chẳng hạn Victoria hay Elizabeth II, mà chỉ cầu mong sự bảo bọc của bề trên đối với ngôi vị nguyên thủ của một quốc gia quân chủ có truyền thống Ki-tô lâu đời. Có lẽ do những lý do nói trên mà bài hát này vẫn còn được giữ làm Quốc ca Anh Quốc cho đến ngày hôm nay, trong khi bài ca sùng bái Ngô Đình Diệm phải chịu chung số phận với cái chế độ đã ép buộc người dân miền Nam hát nó.

Vậy chúng ta có thể tạm kết luận rằng những nỗ lực tương đối hóa mà Hòa Nguyễn và Trần Văn Tích đã dành cho tệ trạng sùng bái cá nhân dưới sự thống trị của Ngô triều vẫn chưa đủ sức thuyết phục. Có thể cũng như trong trường hợp của chế độ Vichy, tệ trạng này phản ảnh bản chất kém lành mạnh của chế độ Ngô Đình Diệm. Trong chế độ lành mạnh nào mà nhân viên an ninh có thể áp dụng một chính sách trả thù bỉ ổi đối với lương dân vô tội mà những kẻ lèo lái quốc gia lại không hề hay biết? Sau cuộc đảo chánh hụt năm 1960, tay chân của anh em Ngô Đình Diệm đã xâm phạm tính dục nhiều người vợ của những viên sĩ quan tham gia vào biến cố đó và, ít nhất là trong trường hợp của Phan Lạc Tuyên, đã bao vây kinh tế cha mẹ, khiến cho con cái họ bị thất học. Nhưng cả ông Ngô Đình Diệm lẫn ông Ngô Đình Nhu, theo chứng từ của Trần Ngọc Nhuận, một sĩ quan tình báo cao cấp trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đều không biết đến tội ác động trời này![16] Phải chăng vì họ không biết chế độ của họ đang bị côn đồ hóa, nên cuối cùng chính họ đã bị thuộc hạ cũ giết chết bằng một cách rất côn đồ? Chính sách trả thù đối với đàn bà, người già và trẻ em nói trên đã được kể lại trong: 1) Trần Ngọc Nhuận, Đời quân ngũ, Xuân Thu, 1992, tr. 305-306, và 2) Phan Lạc Giang Đông, “Nhớ lại và suy nghĩ”, trong Chính Đạo (chủ biên), Nhìn lại biến cố 11/11/1960, Văn Hóa, Houston, 1997, tr. 207-231.

© 2009 Trần Lâm

© 2009 talawas


[1] Nguồn: Phan Lạc Giang Đông, “Nhớ lại và suy Nghĩ”, trong: Chính Đạo [Vũ Ngự Chiêu] (chủ biên), Nhìn lại biến cố 11/11/1960, Văn hóa, Houston, 1997, tr. 210.

[2] Informations Catholiques Internationales, “L’Église au Sud-Vietnam”, 15 Mars 1963, tr. 21.

[3] Ibid, tr. 19.

[4] Tại trang 99 và 100 trong cuốn Đời viết văn của tôi, do Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1986.

[5] Ibid.

[6] Ibid, tr. 21.

[7] Hồi kí, Tập II, Văn Nghệ, California, 1990, trang 120-121.

[8] Xem: Chính Đạo, Mậu Thân 68: Thắng hay Bại?, Văn Hóa, Houston, tái bản lần thứ hai, 1998, tr. 355. Xem thêm: Arthur Dommen, The Indochinese Experience of the French and the Americans, Indiana University Press, 2001, tr. 658.

[9] Arthur Dommen nói rằng Nguyễn Văn Thiệu là đảng viên Đại Việt, còn Vũ Ngự Chiêu thì cho biết ông ta là Ủy viên Quân ủy Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng. Xem Nguyên Vũ, Paris Xuân 96, Văn Hóa, 1997, tr. 87-88.

[10] Nguyên văn: “C’est le seul pays d’Extrême-Orient (à part les Philippines) qui soit en marche vers une conversion totale…”

[11] Nguyên văn: “Ce que nous avons appelé, pour faire image, le ‘triomphalisme’ conjugé du régime et de la minorité catholique ne manque pas de nourrir un certain mécontentement chez les non-catholiques. Quoique en contradiction avec les conversions massives dont nous avons parlé plus haut, il est facilement observable à Saigon comme dans les plus lointains villages.”

[12] Báo cáo này đã được Vũ Ngự Chiêu tìm thấy, dịch sang tiếng Việt và cho in lại trong Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Văn Hóa, Houston, 2000, tr. 248-250.

[13] Bạn đọc bốn phương cần lưu ý đến chi tiết này: Nguyễn Hữu Nghĩa, Chủ bút tờ Làng Văn, đã bị một số người hiểu lầm (?) khái niệm tử năng thừa phụ nghiệp tố cáo là con trai của đại tướng VC Nguyễn Chí Thanh. Nhưng nhờ có Bác sĩ Trần Văn Tích, một người có lập trường chống Cộng rất vững vàng, từng là cộng tác viên cho tờ báo này, nên tôi mới dám xài những dữ kiện do nó cung cấp về bài Suy tôn Ngô Tổng Thống.

[14] Bạn nào hiếu kỳ muốn biết thêm về nó thì nên tìm đọc: Robert Paxton, Vichy France: Old Guard and New Order, 1940-1944, Knopf, New York, 1972. Sau Đệ Nhị Thế chiến, người Pháp đã cố che giấu sự thật, cố tương đối hóa những việc làm kém sạch sẽ của chế độ này. Chính nhờ sự đào bới trong văn khố Đức của Paxton, một sử gia người Mỹ, mà bộ mặt nhơ nhuốc của nó đã bị lột trần trước công chúng Pháp. Cách đây vài năm, tạp chí Journal of Contemporary History có đăng một bài nghiên cứu về tầm ảnh hưởng sâu rộng của ông ta đối với giới sử học Pháp. Tôi đã đưa bài đó lên mạng, các bạn có thể đọc nó tại đây. Thật thú vị khi thấy một người Mỹ quê ở Virginia giảng cho mấy ông Tây bà Đầm nghe về quá khứ khá bẩn thỉu của quốc gia họ. Nhưng dân Phú Lang Sa vẫn còn giữ được tinh thần thượng võ. Mới đây họ đã trao tặng cho Paxton huân chương Légion d’honneur để bày tỏ lòng biết ơn đối với công trình nghiên cứu của ông: “Son œuvre a été controversée à une époque où la France refusait de regarder son passé en face, même s’il est difficile à accepter. Grâce à lui on sait que, contrairement à la légende, Vichy n’a pas été contraint à collaborer à ce point et que la Révolution nationale de Pétain, son régime fasciste, n’a pas été imposée par les Allemands.”

[15] “Like many aspects of British constitutional life, its official status derives from custom and use, not from Royal Proclamation or Act of Parliament.

[16] Hai anh em ông Diệm, ông Nhu cầm vận mệnh quốc gia trong tay, mà khi thủ hạ của họ hại dân vô tội – những người mà họ có bổn phận bảo vệ –  họ lại hoàn toàn không biết. Điều này khiến chúng ta phải tự hỏi tại sao họ không biết. Ở một quốc gia văn minh, nạn nhân có thể dựa vào hệ thống tư pháp độc lập hoặc hệ thống truyền thông tự do để lưu ý giới hữu trách đến những tệ trạng mà họ phải gánh chịu. Vì dưới nền Cộng hòa Nhân vị, hệ thống tư pháp không được độc lập và giới truyền thông không được tự do nên hai anh em ông Diệm mới có thể không biết gì cả. Việc giới lãnh đạo của một quốc gia không biết dân vô tội bị xâm phạm phi pháp và việc những nạn nhân này không có cách nào làm cho giới lãnh đạo biết được tệ trạng nói trên thật ra là một bản cáo trạng đối với giới lãnh đạo đó: Họ không biết, vì bộ máy chính trị của họ là một bộ máy kém lành mạnh, nếu không muốn nói là bệnh hoạn.

Bình luận

55 Comments (bài “Trần Lâm – Kiêu dân công giáo thời Ngô Đình Diệm”)

  1. Nam Phan viết:

    Suy tôn: Một mục tiêu chính trị hay một ý đồ tôn sùng lãnh tụ?

    Đây là phần tiếp theo cuả góp ý lần trước tuy hai phần cùng một chủ đề nhưng phần đầu nói lên những sư thật. Ở đây xin thử đưa ra một lý giải tại sao có vụ suy tôn ông Tổng thống?

    Là người sống trong cả hai chế độ: Việt Minh(CS)và Đệ Nhất Cộng Hoà, tôi hiểu hình ảnh lãnh tụ vô cùng quan trọng trong việc tranh thủ đại đa số quần chúng mà trình độ dân trí chưa cao. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp ở trong vùng kiểm soát cuả CS, người dân do sự tích cực tuyên truyềncuả chế độ nên hễ nói đến chuyện nước non không thể không nhắc đến Cụ Hồ. Bộ đội Cụ Hồ, Cán bộ Cụ Hồ, chính sách cụ Hồ…

    Những người hậu thuẫn cho ông NĐD lúc đó cũng là những người đã trải qua kinh nghiệm trên. Không ít trong số họ đã là những cán bộ VM rời bỏ hàng ngũ CS về với Quốc Gia. Họ cũng nhận ra vai trò xây dựng một hình ảnh lãnh tụ để lôi kéo đại đa số quần chúng.

    Ở cái thế lưỡng tranh, có thể các người đó đã cố vấn cho chế độ dùng việc suy tôn như một hành vi chính trị, nhằm cân bằng với miền Bắc. Miền Bắc có cụ Hồ, Miền Nam có cụ Ngô. Lần giở lại nhửng lời trong bài hát “Suy tôn Ngô TT” ta thấy rõ ý định này:
    Miền Bắc : cụ Hồ bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước
    Miền Nam: “Ai bao năm từng lê gót nơi quê người, cúu đất nước thề tranh đấu cho tự do”
    Miền Bắc: Bài phong( giật sập triều đại nhà Nguyễn) đả thực( đánh đuổi thực dân Pháp)
    Miền Nam:” Người cương quyết chống Cộng,bài phong kiến bóc lột, diệt thực dân đang rắc reo tàn phá”
    Miền Bắc: “Hồ Chủ Tịch sống mãi trong sự nghiệp cuả chúng ta”
    Miền Nam: ” Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm”
    Rõ ràng “bên tám lạng,bên nửa cân”,rõ ràng là mục tiêu chính trị. Không chỉ hành động này giống chính sách tôn sùng lãnh tụ cuả chế độ CS, còn nhiều sách lược khác mà chế độ NĐD thực hiện cũng mang máng những chính sách cuả miền Bắc.

    Điều đáng tiếc mà cũng may là miền Nam, tình thế khác với miền Bắc lúc đó. Giới trí thức đông đảo hơn, trình độ nhận thức về dân chủ cũng cao hơn, miền Nam tự do phóng khoáng hơn. Văn nghệ sĩ vốn lấy tư tưởng độc lập làm tiêu chuẩn sống,không để chính quyền nhốt họ vào “rọ”, nên hành vi chính trị(suy tôn) kia không đem lại hiệu quả mong muốn,dù rằng mục tiêu chỉ nhắm vào khối nhân dân đông đảo, nhưng giới trí thức là “đầu tầu” cuả xã hội miền Nam.

    Nếu chế độ NĐD không phạm phải những sai lầm nghiêm trọng và không gặp người đồng minh hai mặt thì cái việc suy tôn với lời ong tiếng ve kia cũng chỉ xảy ra ở chốn riêng tư cuả những người bất mãn chế độ.
    Điều đáng tiếc hơn nữa là việc suy tôn này bị những phần tử xu nịnh đẩy từ mục tiêu chính trị sang hành vi tôn sùng lãnh tụ mà biên giới mong manh giữa hai hành động không dễ dàng phân biệt.

    Trở lại với ông Trần Lâm, việc ông dẫn chứng sách vở là hết sức bổ ích. Ông chỉ quên một điều: Vị thế vua Lê không giống vị thế NĐD. Xã tắc cuả vua Lê thanh bình thịnh trị. Bốn phương thu về một mối, không có cảnh bên này bên kia, không còn anh em nào tranh ngai đoạt vị với Vua. Vua là chuá tể.

    Vua đem quân đi trừ khử bọn “mọi rợ” phương Nam. Đem quân đi rồi rút quân về. Vua hiểu đất nước người ta còn đó, dân tộc người ta vẫn hiện diện. Mọi hành vi xưng tụng lộ liễu sẽ chẳng tồn tại lâu dài. Vả lại người chép xử là bầy tôi của Vua. Vua sẽ đi vào xử sách ngàn năm, sá gì vài hàng chữ nơi biên cảnh!

  2. Lê Thượng viết:

    Độc-giả Ngoc Nguyen viết: “Ngày xưa người ta nói đùa “Theo Đạo có gạo mà ăn” hoá ra lại đúng với thế giới ngày nay”. Bạn Ngoc Nguyen đã viết thiếu mất đi một nửa.

    Những ngày tôi còn nhỏ, sống ở một vùng quê nơi miền Trung nước Việt, tôi nghe:

    Theo Đạo có gạo mà ăn.
    Theo Phật có tật ngang lưng!

    Không phải người ta nói đùa mà là nói thật cho những năm tháng sống trong vùng dưới sự kiểm soát của cụ Cẩn.

  3. Huy Tử viết:

    THƠ CON CÓC

    ” It were better to be of no church than to be bitter for any.” -William Penn

    a) Trong thâm tâm chúng tôi,
    Chỉ có “TỰ DO TÍN NGƯỠNG” thôi,
    Chẳng hề đếm xĩa đến ý niệm, tâm cảnh (mind set)”TỰ DO TÔN GIÁO” của người,…

    b) Ôi thôi, các bạn ơi!
    Nói chi đến chuyện xa vời!
    Đây là điều đơn giản và gần gũi ở đời:
    – Ai dám mô tả và giảng giải về công dụng của “CỘT THU LÔI”!
    Mặc dù chỉ là “khoa học thường thức thực dụng’ thôi!-(còn tiếp),…

    Hwy Tu, S&FR,…
    (Một kẻ hèn mọn)

  4. Trần Lâm viết:

    @Nam Phan

    1/ Tính chất khả tín của Nguyễn Hiến Lê: Có lẽ tuyệt đại đa số bạn đọc Talawas đều biết NHL là ai, vậy tính khả tín hay bất khả tín của ông ta xin nhường cho quyền nhận xét của họ, tôi không cần nhiều lời với NP về vấn đề này.

    2/ Nam Phan: “Chuyện có chắc chắn như học giả NHL viết trong hồi ký và ông TL phụ hoạ? Chỉ có các trường miền Trung cấm, còn trong Nam thì không. ” Một Quốc Gia trong một Quốc Gia”.Tôi nghi ngờ điều này vì biết “tính cách” tập quyền cuả chế độ NĐD.”

    Đoàn Thêm, trong Những Ngày Chưa Quên 1954-1963, có kể lại một chuyện rất tức cười về những phiền phức mà sự xung đột giữa anh em Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn gây ra cho nhân viên dưới quyền họ, khiến chúng ta hoài nghi “tính cách” tập quyền của chế độ Ngô Đình Diệm. Đáng tiếc hiện giờ không có cuốn đó trong nhà. Vậy ngày mai sẽ trích đăng lên. (Hay bạn đọc nào có cuốn đó trong nhà, xin nhờ trích đăng đoạn đó giùm cho tôi).

    3/ Nam Phan: “Cuối cùng, việc ông TL dẫn sách,báo,tài liệu thuận với luận cứ cuả ông thì xưa nay không hiếm. Dùng những tài liệu khách quan, nhận định cả điều hay lẫn cái dở thì mới là chuyện lạ. Độc giả không nên kỳ vọng vào điều này ở ông Trần Lâm.”

    Bài tôi viết được đăng trên một diễn đàn độc lập, tự do, với một khối độc giả có trình độ cao. Vậy nếu tôi xài tài liệu thiếu khách quan v.v. thì bản chất của Talawas và “phẩm chất” của thành viên diễn đàn này đã hoặc sẽ vạch trần điều đó.

    4/ Cuối cùng, có vài lời phân trần. Tôi gặp bạn đọc Nam Pham lần đầu qua bài viết về huyền thoại James Scott. Căn cứ trên lời qua tiếng lại giữa bạn đọc này và tôi, tôi có cảm giác rằng đây là một người chững chạc đang miễm cười nhìn con ngựa non háu đá là tôi. Đó là lý do chính tại sao tôi thấy vui vui khi thấy ông ta lên tiếng. Nhưng Nam Phan của bài cũ không còn có nữa trong bài này.

  5. Tôn Nguyễn viết:

    Có nhiều người không đồng ý với cách xem Hồi giáo, Công giáo, Tin lành… là Ky tô giáo. Các tôn giáo này chủ trương nhất thần hay độc thần (monotheism) tức là có một cá thể siêu việt duy nhất tạo ra và kiểm soát toàn thể vũ trụ. Cá thể duy nhất này được gọi là God, Thượng đế, Chúa trời, Đấng Allah… tùy theo mỗi tôn giáo.

    Lại còn có tôn giáo đa thần (polytheism) và các tôn giáo phủ nhận sự hiện hữu của một Đấng toàn năng như Kỳ na giáo (Jainism) và Phật giáo (Buddhism).

    Thông thường ai cũng nghĩ tôn giáo mà mình theo là tốt và hay hơn các tôn giáo khác nhưng nếu biết tôn kính niềm tin của người khác như một con người không toàn vẹn như ta thì bạo lực về tôn giáo ít có cơ hội bộc phát. Nếu không kềm chế được niềm tin của mình, người đó sẽ trở thành những kẻ cuồng tín (fanatics) nhắm mắt bịt tai trước mọi sự thật xảy ra trước mắt, hành động dẫn đến tội ác là một bước không xa.

    Sự tôn kính ở đây – theo thiển ý – là không nói xấu tôn giáo bạn, không tìm cách dụ dỗ, rao giảng dưới bất cứ mọi hình thức điều mình tin cho người khác mà hãy để cho họ tự do chọn lựa, không xem tôn giáo khác là ma quỉ, tà đạo…

    Phải công nhận rằng phần lớn các tín điều trong các tôn giáo đều không có giá trị khoa học tức là có thể kiểm chứng bằng giác quan hay bằng những dụng cụ khoa học. Thí dụ lịch sử trái đất diễn tiến vô cùng phức tạp và nó đã có từ khoảng 4.5 tỉ năm về trước chứ không đơn giản chỉ mới xuất hiện cách nay từ 6 cho đến 10 ngàn năm theo như một số kinh sách.

    Như vậy việc nhìn tôn giáo dưới nhãn quan khoa học và đạo đức có lẽ dễ dàng được chấp nhận hơn.

  6. hoanglinhvuong viết:

    Công Giáo và Người Công Giáo

    Từ ngữ „kiêu dân Công Giáo“ được xử dụng thay vì „Người Công Giáo“ trong thể chế Ngô Đình Diệm quả là không điêu. Tôi là „kiêu dân Công Giáo“ đã từng chứng kiến tận mắt sự kỳ thị và hung hăng của người „bên Đạo“ đối với người „bên Lương“ như đã được dẫn chứng ở truyền thông khắp nơi và ngay ở trên diễn đàn talawas này. Cho đến hôm nay đôi khi nó vẫn còn đúng với nghĩa của nó tại một số vùng Công Giáo, cả ở trong lẫn ở ngoài nước.

    Điều không ai có thể phủ nhận là „kiêu dân Công Giáo“ đã đóng góp 2 mặt tích cực cho chế độ Ngô Đình Diệm:
    1. Tăng cường ổn định chính trị chống Cộng Sản vào thời điểm đó.
    2. Sức mạnh hậu thuẫn để thể chế Ngô Đình tồn tại cho đến khi có chính biến tháng 11-1963.

    Nếu ông Diệm không phải là người Công Giáo thì liệu lối điều hành kiểu gia đình trị của dòng họ Ngô có xảy ra hay không? Xin thưa rằng vẫn xảy ra vì chẳng có Chúa Giê Su nào bảo ông Diệm hãy dành cả đất nước Việt Nam cho Chúa cả. Đấy là cá tính của ông Diệm và gia đình ông.

    Chắc mọi người đồng quan điểm với tôi -trừ một số người như dòng họ Ngô Đình- rằng trong xã hội:
    1. Nhà nước không thể là tôn giáo, cho dù là những đạo giáo hướng thiện, và nhà nước phải „kích cầu“ để tôn giáo được tự nhiên phổ biến, để hỗ trợ cho nhà nước, để hướng dẫn con người biết sống với nhau trong hoà bình và nhân ái, tạo trật tự và công bằng.
    2. Tôn Giáo không thể là Nhà Nước. Tôn giáo lân la vào chính quyền là điều chẳng phù hợp với thiên định nào cả. Nó sẽ trở thành bè đảng.

    Chúng ta có những đạo giáo hướng thiện điển hình như Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Hoà Hảo, và đạo chẳng theo đạo nào cả là đạo thờ Tổ Tiên mà chúng ta nôm na là đạo làm người…

    Giảng như „thầy“ Joshep.tran ở đây thì ai chả giảng được. Vấn đề là các thầy có ngó lại hành động của mình xem có song song với điều mình đang dựa Chúa nói không? Chúng ta cứ đi vào những họ đạo ngay bây giờ thì sẽ thấy việc khá phổ biến là uy quyền của các vị Linh Mục được củng cố và thâu tóm lại như uy quyền một ông vua con, với tiến độ tùy theo hoàn cảnh cho phép.
    Một cái „mốt“ đang rất thịnh hành hiện nay là đập nhà thờ cũ hô hào đóng góp xây nhà thờ mới cho bề thế không phải là do các vị Linh mục chủ xướng thì ai vào đây? Trong khi đó nhiều xóm đạo xa xôi đang phải hành lễ dưới gốc cây sồi.

    Rất đau buồn là con người nhân danh thượng đế hành xử theo kiểu trần tục cuả mình. Phải chăng cái kiểu „kiêu dân“ này cũng là cá tính di truyền? Của một nhóm người? Nói như thế không phải bảo rằng đạo Công Giáo xấu.

    Mong Qúi Vị tách bạch giữa Tôn Giáo và Con Người, ở đây Công Giáo và Người Công Giáo.

  7. Nam Phan viết:

    Ông Trần Lâm quả là người hiếu khách và thích “nhiễu sự” nên ông vui mừng thấy rõ khi tôi có lời thưa chuyện. Điều này quả là một khích lệ cho tôi viết thêm vài hàng thô lậu.
    Ông lại cũng còn là người lạc quan nên cho rằng cả một bài tràng giang đại hải của ông mà tôi chỉ “bắt” được một lỗi nhỏ nhưng cuối cùng lại…sai!

    Dù cho việc dùng sách cuả ông Nguyễn Hiến Lê có chậm đi một niên học thì hoàn cảnh cuả chính quyền NĐD và đám CG di cư kia cũng chẳng khác bao nhiêu. Hẳn ông Trần Lâm cũng đã tham khảo sử sách nhiều để biết điều đó và cũng giúp cho tôi tránh phải nhắc chuyện không vui khi thấy người ta lấy cái nhìn cuả hậu sinh để nói chyện Bành Tổ.

    Việc tôi trả lời ông đây không chỉ đưa vấn đề với ông mà mụch đích là nêu lên một số nghi vấn về những điều học giả NHL đã viết trong hồi ký cuả ông.

    Ông NHL là ai? Là người trong “học giới”, là nhân viên cao cấp tùng sự tại Bộ Giáo Dục? Là người có thẩm quyền soạn sách giáo khoa hay là người chọn sách để bộ đưa vào học trình trung học? Dù lúc đó ông Thiên Giang, người soạn chung sách với ông có là nhà giáo đang dậy cấp trung học, chưa chắc đã là người có trách nhiệm này. Sách chưa in, đã “tự tin” cho rằng những điều mình biên soạn phải được đưa vào giáo trình!

    Vấn đề cần phải được đặt ra là bộ “Lịch sử Thế Giới” là sách giáo khoa hay là sách nghiên cứu (mà từ đó những người biên soạn sách giáo khoa trích dẫn). Với một bộ sách 4 cuốn dày hơn 700 trang thì không có cấp Trung học nào “tiêu hoá ” nổi. Nếu là sách giáo khoa thì Bộ chỉ cần làm một trong hai việc: một là sách do bộ tuyển chọn hay cho phép dùng trong trường học thì chỉ cần khuyến cáo các nhà viết sách “lướt” qua những v/đ nhạy cảm. Nếu là cuả tư nhân họ không “nghe” Bộ thì chỉ cần ra lịnh cho các trường công lập dùng sách khác vì sách kia có ” vấn đề”. Nếu là sách nghiên cứu dùng cho mọi tầng lớp độc giả thì trách nhiệm thuộc về bộ Thông Tin,Bộ Giáo Dục không có tư cách gì cấm bán hoặc tịch thu như ông NHL nói:”Sau một linh mục ở Trung yêu cầu Bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu hết bộ đó…”
    Có chế độ nào lạ đời như vậy ngoại trừ chế độ Công An là trùm như chế độ CS hay chế độ NĐD qua lời kể lại của ông Nguyễn?

    Chuyện có chắc chắn như học giả NHL viết trong hồi ký và ông TL phụ hoạ? Chỉ có các trường miền Trung cấm, còn trong Nam thì không. ” Một Quốc Gia trong một Quốc Gia”.Tôi nghi ngờ điều này vì biết “tính cách” tập quyền cuả chế độ NĐD.

    Việc cấm in, cấm bán là của Bộ TT, Bộ GD không biết trách vụ của mình đến đâu hay sao mà không trả lời cho ông LM kia để ông Nguyễn phải than phiền?

    Bộ GD đã không có quyền thì cớ gì phái ông Bí Thư tới “nói khó” với ông học giả hay là vì thấy núi ” Thái Sơn” mà hoảng? Sách đã in, đã bán gần hết,vậy chuyện ông Bí Thư cuả Bộ đến xin ông Nguyễn bôi đen vài hàng rồi đem về “lừa” ông LM thì có tin được không? Bộ ông LM thế lực kia nhẹ dạ đến thế sao?

    Ông Nguyễn nói rằng:’ Hồi đó bộ LSTG cuả tôi còn một it,tôi có hỏi thì mấy nhà phát hành cho biết có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó,còn trong Nam thì không, chỉ ít tháng sau bộ đó bán hết, tôi không tái bản…” Thế là đủ lý do để kết luận:”…Công Giáo thời đó lên chân như vậy”!(theo như nhà xuất bản Văn Nghệ thì sách được tái bản sau năm 1963,nghĩa là trước khi Hồi Ký ra đời chứ không như ông NHL nói.Biết tin ai bây giờ!)

    Việc dùng chữ “mập mờ” của ông Nguyễn có thể làm cho nhiều độc giả có thành kiến với CG, với c/q NĐD nghĩ rằng bất cứ một ông LM bá vơ nào đó cũng có quyền xiá vào chuyện quốc gia và chế độ đó cũng chiều theo thì kết luận là đám kiêu dân kia quả là bất trị, ngang ngược và cái chính quyền kia còn đáng cho tồn tại hay không là đúng quá.Và “Cách (cái) Mạng” nó đi là đúng rồi! Ông LM quyền thế kia là ai, người ảnh hưởng đến sư nghiệp cuả ông Nguyễn như vậy mà cũng chẳng được ông cho biết danh phận?

    Cuối cùng, việc ông TL dẫn sách,báo,tài liệu thuận với luận cứ cuả ông thì xưa nay không hiếm. Dùng những tài liệu khách quan, nhận định cả điều hay lẫn cái dở thì mới là chuyện lạ. Độc giả không nên kỳ vọng vào điều này ở ông Trần Lâm.

    Chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà dưới thời TT Ngô Đình Diệm là một chế độ cho đến bây giờ ” lời khen,tiếng chê” đã nhiều. Ai chê thì vẫn chê, ai khen thì vẫn khen. Những nỗ lực như cuả ông TL dù có đi đến đâu chăng nữa, đối với người khen thì chưa có chế độ nào cùng thời với nó (CS) hay sau nó như của mấy ông Đại Việt, mấy ông Tướng sánh kịp , may ra sau này có “Trần Tổng Thống” thì dân Nam ta mới mở mày mở mặt ra với năm Châu.

  8. Trần Lâm viết:

    @ Nam Phan

    NP: “Trước tình thế đó ông Ngô Đình Diệm, một người không vì danh, vì lợi được Quốc Trưởng ủy thác cầm quyền, với một dúm người hậu thuẫn, sau bao nhiêu sóng gió đã dần dần ổn định tình hình đất nước, chủ quyền QG được thu hồi, kinh tế đã bắt đầu phát triển, đại đa số người dân đã biết đến thế nào là an cư, lạc nghiệp. Họ không thể không nhận ra AI là người đã đem lại những thành quả đó. Với ảnh hưởng luân lý Khổng Giáo, truyền thống ghi ơn những người có công thì việc thoả mãn những yêu cầu đó bằng bài hát ” Suy Tôn” kia là điều có thể hiểu được.”

    NGÔ CHÍ SĨ

    Rất có thể người Việt Nam có truyên thống ghi ơn những người có công với đất nước bằng một cách tự phát. Trường hợp Ngô Đức Kế là một ví dụ.

    Trong thiên khảo luận The Colonial Bastille: A History of Imprisonment in Vietnam, 1862-1940, Peter Zinoman có nhắc đến việc ông Nghè này được suy tôn một cách tự phát như sau:

    “Phan Khoi noted that since the turn of the century, political prisoners had emerged as among “the most respected category of men” in Indochinese society, “even more so than officials and scholars in the past.” As evidence, he recalled an anecdote about a group of admiring vandals who erased “Doctorate Holder” ( tien si) from the tombstone of the famous scholar and political prisoner Ngo Duc Ke and scrawled “Man of Ideals” (chi si) in its place. He also noted that the celebrated “rock breaker of Poulo Condore,” Phan Chu Trinh, was so highly esteemed that even powerful French official such as Marius Moutet expressed veneration and affection for him. According to Phan Khoi, there existed a positive relationship between the level of hardship that an activist endured in prison and the degree of public respect that he or she enjoyed.”

    Một vị rành chữ Nho cho tôi biết, xét về mặt kỹ thuật, câu chuyện về Ngô Chí Sĩ do ông Tú họ Phan kể lại rất khó có thể xảy ra, vì chữ Tiến và chữ Chí viết khác nhau rất xa. Tuy nhiên, chính(sự lưu truyền của)giai thoại nói trên đã cho chúng ta thấy một cách rõ ràng là người Việt không quên người có công với đất nước. Nó có thể được xem như là sự biểu lộ tự phát của lòng biết ơn của họ đối với một người vì việc nước mà phải chịu cảnh tù tội.

    Vậy nếu Ngô Đình Diệm thật sự có công với người dân Miền Nam, thì tại sao chế độ Ngô Đình Diệm lại không để cho họ được biểu lộ lòng biết ơn này đối với ông bằng một cách tự phát, mà phải ép buộc họ làm việc đó trong buổi lễ chào cờ? Không lẽ chế độ này sợ người dân Miền Nam quên công lao của Ngô Đình Diệm hay sao?

    Rất có thể là chính sự ép buộc nói trên đã làm cho họ bực mình, phát ghét rồi đưa đến sự nhạo báng tệ trạng sùng bài cá nhân này.

    Viết đến đây tôi chợt nhớ ra một đoạn văn của Võ Phiến có liên quan đến Vùng II Chiến Thuật quê tôi:

    “Năm 1470, vua Lê Thánh Tông đuổi quân Chiêm thành đến tận đèo Đại lãnh. Lần đầu tiên, ta đặt chân lên ngọn núi nầy, ta cắm bia đễ ghi dấu đại sự. Việc quả là trọng đại. Núi phải đặt tên là núi Lê Thánh Tông chăng?

    – Không chỉ là núi Đá bia, là Thạch bi sơn!

    Thành thử, trong thời quân chủ ở nước ta, dường như vua chúa không có cái ý đem tên tuổi mình gán vào những thành tích lớn lao trên đất nước. Ý đó là một phát minh của chế độ dân chủ.”

    Đoạn văn này khiến tôi tự hỏi vào hậu bán thế kỹ 15 ở kinh đô Thăng Long của nước Đại Việt đã có một nhà Nho nào sáng tác một bài thơ mang tên “Suy Tôn Lê Thánh Tông” và được chính quyền đương thời tiếp tay trong việc phổ biến để ghi ơn một trong những vị vua có công lớn nhất đối với dân tộc Việt hay không.

    Vì đã nhắc đến Đại lãnh nên xin ghi luôn là hai chữ Đại Trường trong tên của sử gia Tạ Chí Đại Trường lấy từ đèo Đại lãnh và sông Trường giang, vùng đất nơi ông sinh ra, tuy gốc là Bình Định.

  9. Lê Anh Dũng viết:

    Cám ơn anh Joshep.tran.

    Tôi xin khiêm tốn, nhưng cũng thành thật tỏ bày suy nghĩ.

    1. LM. Laurenso Quynh, 83 tuổi, trong bài «Phải xây dựng lại tâm hồn Kitô của giáo dân Việt Nam», trả lời phỏng vấn của Yves Kerihuel, nhật báo Pháp La Croix ngày 22.6.2009, bản dịch của Nguyễn Ngọc Giao, nói: “Từ một thế kỉ nay, tỉ số giáo dân ở Việt Nam không tăng: năm 1886 là 6,5% (650 000 người Công giáo trên dân số 10 triệu người), năm 2000 vẫn là 6,5 % (5 triệu/77 triệu). Bởi vì người ta vẫn tiếp tục rao giảng một thứ Ki tô giáo Tây phương. Ở đây, Giáo hội đã miệt thị đạo Phật, đạo Khổng, đạo thờ ông bà…”

    Ông Nguyễn Hữu Hanh, trong hồi ký đăng trên talawas, nhận xét về ông Diệm:

    “Ông không tin người, nên ông hay chọn người làm cho ông trong số những người đồng hương đồng xứ với ông, bà con bạn bè thân thuộc với ông, hoặc là bà con bạn bè với những người bạn xa bạn gần của ông.

    Ông là người rất mộ đạo Thiên Chúa, nên ông hay chọn người có đạo Thiên Chúa và ông tin họ hơn những người không có đạo.

    Ông tin những người có vào Đảng Cần lao của ông Nhu hơn là người thường, nên ông hay chọn người là đảng viên Đảng Cần lao.

    Khi chọn người để đưa vào chánh phủ hay thăng thưởng công chức ông đặt nặng ba điều đó hơn là công việc làm hay công tâm.”

    Trên bức tranh lịch sử truyền đạo Công Giáo tại VN vẽ ra bởi LM. Laurenso Quynh; với vị trí tối thượng của ông Ngô Đình Diệm ở một quốc gia lạc hậu vừa ra khỏi thực dân, phong kiến; cùng vô số chứng nhân, sử liệu khác, tôi nghĩ “Kiêu dân công giáo thời Ngô Đình Diệm” là một sự thực.

    2. Tôi tìm hiểu nghiêm túc, thành tâm với thiện chí đạo Tin Lành. Khi tìm hiểu tôi ý thức việc cần giảm thiểu tối đa thành kiến để có thể tiếp cận tốt hơn (dù vẫn có nhiều thành kiến không thể tránh khỏi do ăn sâu vào tâm thức).

    Tôi học trường CG gần hết thời trung học, có nhiều người thân yêu tin Thiên Chúa là Thiên địa chơn chủ (xem Trần Văn Toàn, talawas), tôi rất quen thuộc với những ngôn từ, những gía trị anh Joshep tuyên xưng. Ông Nguyễn Gia Kiểng, tác giả cuốn Tổ quốc ăn năn (tên sách cho thấy tác giả chọn vị trí xét lại vấn đề, không nhìn từ góc nhìn quen thuộc), có nêu một nhận xét đặc sắc trong một bài báo, đại ý: Sự khoan dung của một tôn giáo biểu hiện không phải qua những điều khoan dung, cao đẹp của nó, mà ở những điều hà khắc, cay nghiệt của nó.

    Không thấy dấu của những hà khắc, cay nghiệt trong Phật, Khổng, Lão, Trang, trong sách vở cũng như đời sống. Đã có bao nhiêu cuộc chiến xảy ra trong khối người mênh mông thuộc về 2 khối Ấn Hoa, nhưng không có một cuộc chiến đáng kể nào nhân danh những tư tưởng trên.

    Những xung đột nhiều khi đẫm máu giữa Công giáo với Hồi giáo, Tin Lành, Anh giáo… là những sự kiện có thể kiểm chứng trong lịch sử thế giới; tại Việt Nam sự xung đột, bất mãn có xảy ra trong thời kỳ Ngô Đình Diệm; hiện nay trên diễn đàn talawas, có những người như ông Hòa Nguyễn vẫn nêu yếu tố Công Giáo như một thành tố trong trình bày, diễn dịch của mình… Sự nghi kỵ lương giáo vẫn còn đó. Nếu chỉ thỏa mãn với những điều tốt đẹp quen thuộc anh Joshep nêu ra, e rằng chúng ta lẩn tránh sự thật; đối diện với những thương tổn nhức nhối một cách phiến diện, tự an thần.

    Hiện nay việc thắp hương, thờ phụng tổ tiên đã được chấp nhận, phổ biến với Công Giáo VN; nhưng đa số người Tin Lành VN vẫn suy nghĩ và dùng những ngôn từ có vẻ miệt thị, xúc phạm những hình thức truyền thống thể hiện sự kính trọng, tưởng nhớ cha mẹ, tổ tiên. Quá bám sát văn bản Thánh Kinh tới từ một thổ nhưỡng, văn minh khác – cho dù được gọi là viết cho con người nói chung, người Tin Lành VN vẫn nhìn những tôn giáo khác, những hình thức tin kính khác với con mắt chủ quan, bất dung. Do cơ chế hoạt động từng Hội Thánh nhỏ khác với Công giáo, vấn nạn này sẽ còn kéo dài, ít nhất là qua khỏi đời tôi.

    Sống mà không biết thì rất uổng, tôi vẫn tìm hiểu Ky-tô giáo cũng như các tôn giáo khác. Quĩ thời gian tôi dành cho Ky-tô giáo hiện nay chiếm đa phần. Dù hiểu biết còn rất sơ sài, tôi thiển nghĩ không vì thế mà nên quá thận trọng, không dám phát biểu gì trước khi tường tận ngọn ngành, vì ngày nào cũng có thể là ngày chót của cuộc đời.

    Với những tôn giáo độc thần thì không thể có sự chia xẻ ảnh hưởng, quyền lực của thượng đế với bất kỳ quyền năng, thế giá nào khác, vì việc này trái với định nghĩa độc thần. Con người có thể tương nhượng, du di nhưng thượng đế thì không.

    Những con người, dù ở Việt Nam, Trung Đông… càng có niềm tin vững chắc nơi thượng đế duy nhất của mình, càng có khuynh hướng khuynh đảo để thượng đế của mình thành thượng đế của mọi người.

    Chúng ta đang trao đổi trên một vấn đề con người đã luận bằng lời nói, bằng gươm đao… từ bao nhiêu đời, nên tôi không có ảo tưởng sẽ có một câu trả lời thỏa đáng. Để có hòa bình cho nhân loại, thiết tưởng đừng nghĩ tới chuyện đi loan báo về niềm tin, tìm cách áp đặt nó bằng cách này hay cách khác lên người khác. Chỉ cần sống cho tốt đẹp, con người không ngu, cũng không mù lòa để không thấy niềm tin đúng, suy nghĩ đúng sẽ có kết quả chói sáng và tỏa hương.

  10. Nam Phan viết:

    Việc tôn vinh TT Ngô Đình Diệm qua bài hát ” Suy Tôn Ngô Tổng Thống” đã từng là một đề tài, chủ đề cho những người chống chế độ nhạo báng, nhất là từ khi nó sụp đổ. Hãy thử xét lại thời điểm bài hát ra đời và nhất là tình thế cuả nước ta sau hiệp định Geneve dể có cái nhìn khách quan.

    Miền Bắc dưới quyền thống trị của đảng CS. Miền Nam dưới một chính thể nửa thực dân nửa phong kiến. Chính quyền Quốc Gia tuy có đủ các cấp từ Quốc trưởng , Thủ Tướng, các Tổng Bộ Trưởng, có Quân Đội, Công An, Cảnh Sát… nhưng trong thực tế người Pháp nắm toàn quyền, từ Ngoại Giao, Quốc Phòng, Kinh tế … Quốc Trưởng thì nay Hồng kông, Macao, mai nước Pháp. Thủ Tướng phần đông xuất thân “dân Tây”, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội QG thì do người Pháp đào tạo, nuôi dưỡng, trao quyền hành, Cảnh Sát Công An, lực lượng trị an thì giao cho một đảng cướp mà những hoạt động chính là tổ chức, điều hành các cơ sở như sòng bạc, nhà chứa, cướp bóc, tống tiền lương dân. Đất nước thì các đảng phái chính trị,các giáo phái hùng cứ mỗi đoàn thể một phương. Dân trí thì 90% nông dân ít học hoặc thất học, vừa thoát ra khỏi một triều đại mà những năm cuối đầy tai tiếng, đâu đã biết thế nào là Cộng Hoà, Dân Chủ…

    Trước tình thế đó ông Ngô Đình Diệm, một người không vì danh, vì lợi được Quốc Trưởng ủy thác cầm quyền, với một dúm người hậu thuẫn, sau bao nhiêu sóng gió đã dần dần ổn định tình hình đất nước, chủ quyền QG được thu hồi, kinh tế đã bắt đầu phát triển, đại đa số người dân đã biết đến thế nào là an cư, lạc nghiệp. Họ không thể không nhận ra AI là người đã đem lại những thành quả đó. Với ảnh hưởng luân lý Khổng Giáo, truyền thống ghi ơn những người có công thì việc thoả mãn những yêu cầu đó bằng bài hát ” Suy Tôn” kia là điều có thể hiểu được.

    Phải chăng ông Diệm không quên mình vì Nước? Không chống CS, không bài trừ phong kiến (cát cứ), không lợi dụng thời thế, thế lực khác để “tống tiễn” chế độ thực dân Pháp? Phải chăng những lời của nhà văn Thanh Nam trong bài hát là không thực? Việc xin Thượng Đế ban ơn phước cho người lãnh đạo quốc gia là việc đáng để nhạo báng? Còn những chữ “muôn năm” hay “vạn tuế” chỉ là cách nói cho văn vẻ chứ chẳng phải mong cho ông Diệm trị vì mãi mãi. Phải chăng Nhạc Sĩ Ngọc Bích, văn sĩ Thanh Nam là gia nô cuả Ngô triều? Và họ đã hưởng lộc lớn lộc nhỏ vì việc này?
    Thế lực nào , những ai đã nhạo báng việc tôn vinh này? CS, thực dân Pháp,những người mất quyền,mất lợi, bị hất cẳng, những người lãnh đạo các đảng phái chính trị chưa hay không được tin dùng vì khác quan điểm về việc điều hành đất nước. Điều này cũng dễ hiểu. Đáng tiếc là những tay “gần chùa” hưởng lộc lớn lộc bé khi chế độ còn thịnh thì ngậm miệng ăn tiền, khi chế độ suy thì “dậu đổ bìm leo”. Đức Phật còn bị mấy tay này gọi bằng “Anh” thì NĐD là cái thá gì?
    Binh vực, bào chữa, chạy tội cho những sai lầm của chế độ NĐD là ngoan cố, là bất trí. Nhưng vì tư thù, vì định kiến hay một lý do nào đó để chỉ nhìn thấy sai lầm, mà không luận công, định tội cho đúng thì đó chỉ là hành động của bọn bất lương.

  11. Louis viết:

    Ông Joseph.Tran cho rằng: “Với một nền tảng thần học mênh mông, hoàn chỉnh và sâu sắc như Kitô giáo (Công giáo, Tin Lành, Chính Thống giáo, Anh giáo và cả Do Thái giáo nữa) thì chỉ mới tìm hiểu qua như anh mà đã phát biểu (xin lỗi anh là khá phiến diện) về ơn cứu độ…” Tôi chỉ có câu hỏi đơn giản thế này thôi: Nếu thần học Thiên Chúa giáo đã mênh mông, hoàn chỉnh và sâu sắc như ông đã nghĩ thì lý do gì mà từ Augustine cho đến đương đại các nhà thần học Vatican vẫn chưa thống nhất được về “chủ thuyết” Limbo?
    Tôi xin được ngắn gọn giải thích từ “limbo” theo Wikipedia như sau: do từ “limbus” trong ngữ Latin, có nghĩa là bên bờ vực của địa ngục.Từ thời Trung cổ các nhà thần học Thiên Chúa giáo trong đó có cả Augustine đều cho rằng trẻ con chưa được rửa tội (baptized) mà chết đi thì sẽ không được vào nước Chúa, dù đứa bé đó chưa đủ trí khôn và chưa phạm tội gì cả. Vì không được vào nước Chúa mà cũng không bị đoạ vào địa ngục nên “linh hồn” của đứa bé sẽ vẩn vơ, không nơi nương tựa… linh hồn sẽ ở trong trạng thái “limbo”. Thiển nghĩ của tôi là các nhà thần học này dùng chủ thuyết limbo để răn đe mọi người, muốn mọi người hãy thờ Chúa, theo chúa trước khi có cả trí khôn để phân biệt phải-trái, chính-tà, một khi đã rửa tội rồi thì giáo luật sẽ giữ cho cá nhân này luôn đi bên “lề phải”, chỉ còn có niềm tin và bổn phận phải vâng lời giáo hội thôi, không được “phản biện”.
    Từ Augustine đến giờ, Vatican đã có biết bao thay đổi đối với chủ thuyết limbo này? Các nhà thần học Thiên Chúa giáo vẫn chưa đồng ý với nhau được sau khi 1 đứa bé chưa rửa tội chết đi thì “linh hồn” sẽ đi về đâu? Có thể bảo nền thần học này hoàn chỉnh chưa?
    Về nạn “kiêu dân công giáo” thì độc giả có thể đọc thêm nhà văn Thế Uyên, 1 người Bắc di cư năm 1954: “Công giáo miền Bắc di cư (thành phần giáo dân bảo thủ và có khả năng chiến đấu như Thập Tự Quân viễn chiến thời trung cổ bên châu Âu…)”, “từ các thế kỷ trước, cộng đồng giáo dân ở Việt Nam đã dựa vào quân lực Pháp để tồn tại trước mọi thù nghịch phát xuất từ giới kẻ sĩ và triều đình Việt Nam. Nay quân Pháp đang rút khỏi phần đất này, lấy ai bảo vệ sinh mạng tài sản, nhất là tín ngưỡng của mình đây?” “Đảng Cộng Sản quyết tâm sẽ thống nhất đất nước bằng võ lực, như thế lại một lần nữa đe doạ sự tồn vong của cộng đồng giáo dân. Cộng đồng này yếu thế, như từng nhiều lần yếu thế vì chỉ là một thiểu số, đương nhiên nghĩ tới chỗ dựa mới, đồng minh mới, thay thế cho lực lượng viễn chinh Pháp. Thủ tướng đương thời miền Nam là một người Công giáo đã từng “bao năm lê gót nơi quê người” (Mỹ), nếu đã nghĩ tới cầu viện quốc gia hùng mạnh này, chẳng qua xét theo khía cạnh nào đó, là hành động tự vệ, cho cộng đồng Công giáo của mình. Còn có là “tự vệ chính đáng” hay không, là tùy góc độ, vị trí nhìn, quan điểm chính trị của từng người.”
    Xin theo cái link dưới đây để đọc hết Thế Uyên, tôi không có ý cắt đoạn văn khỏi ngữ cảnh để phục vụ “ý đồ” của mình, độc giả đọc để rút ra kết luận cho chính mình:
    http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=5561

  12. Ngoc Nguyen viết:

    Những tin tức đọc giả Hoà Nguyễn đưa ra cũng chính xác, nhưng nhìn lại mặt tích cực thì những nước phồn thịnh nhất hiện nay là những nước theo Ki Tô. Ngày xưa người ta nói đùa “Theo Đạo có gạo mà ăn” hoá ra lại đúng với thế giới ngày nay. Nước nào giàu nhất? Âu, Mỹ, etc. Lấy ví dụ như nước Tây Ban Nha ngày xưa có thời kỳ hơn nửa nước là Hồi Giáo. Tuy chính quyền Hồi Giáo cho phép mọi tôn giáo khác chung sống hoà thuận (Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo) nhưng khi nữ hoàng Isabel Ki Tô Giáo lên nắm quyền thì bà ra lệnh giết và đuổi hết những người ngoại đạo, tống họ qua bên kia bờ Địa Trung Hải, qua tận Phi Châu. Bà còn gửi giáo sĩ sang cải đạo trọn vẹn Trung Mỹ và Nam Mỹ và Mễ là những nơi trước đó có tôn giáo và văn hoá riêng. Một số đông đền đài và gần như tất cả những ai kháng cự đều bị tiêu diệt. Có thể đó là một cái gút khó thở của Ki Tô Giáo, nhưng hãy nhìn xem, Tây Ban Nha bây giờ khá hơn hẳn những nước Hồi Giáo. Tôi chắc chắn không ít những người Hồi giáo bên Phi châu ước gì ngày xưa tổ tiên mình chịu khó cải đạo thì giờ đây đâu đến nỗi!

  13. Hoà Nguyễn viết:

    Ông joshep.tran nói: “Kitô giáo (Công giáo, Tin Lành, Chính Thống giáo, Anh giáo và cả Do Thái giáo nữa)”.

    Kitô giáo có lần đã được giải thích ở đây là dịch nghĩa của Christianity trong tiếng Anh, và Kitô là phiên âm Christ (từ gốc Hy Lạp) để gọi tôn kính Chúa Jesus. Vậy Kitô giáo không thể bao gồm Do Thái giáo trong đó (tuy Jesus là người Do Thái và từ nhỏ theo Do Thái giáo). Nếu cho Do Thái giáo cũng là Kitô giáo vì đều thờ Chúa (God, Do thái giáo gọi Jehovah, và người Kitô gọi là Chúa Cha), thì chẳng lẽ kể luôn Hồi giáo trong đó nữa, vì Allah của đạo Hồi cũng chỉ God. Như vậy có lẽ nhầm lẫn nhất thần giáo với Kytô giáo.

    Về giáo lý thì những lời Joseph viết trên rất hay và có lẽ đúng với kinh điển, nhưng theo lịch sử người trong Christianity giết nhau cũng nhiều (huống chi lá khi họ giết người ngoại đạo).

    Chuyện người Công giáo và Tin Lành giết nhau ở Pháp (1562-1598):

    http://en.wikipedia.org/wiki/French_Wars_of_Religion

    Thập tự quân châu Âu đánh nhau với quân Hồi giáo Trung Đông. Bắc Phi trong 200 năm (từ 1095 đến 1291):

    http://en.wikipedia.org/wiki/Crusade

    Liên hệ với câu chuyện đang bàn: Trong cuộc tấn công chùa chiền ở miền Nam VN đêm 20-8-1963, chế đô của ông Diệm bắt giam 1500 sư ni, kể từ vị lãnh đạo cao nhất là tăng thống đến các chú tiểu.

    Nhân đây góp ý với ông Lê Anh Dũng thắc mắc về “thuộc linh” hay “thục linh” ông nghe ở nhà thờ Tin Lành.
    Tôi nghĩ người Tin Lành gọi là “thuộc linh” chỉ được “ơn của Chúa Thánh Linh” (Spirit), giao tiếp được với Chúa, được Chúa (Thánh Linh) hướng dẫn.

    Còn thục linh hình như là tên một vị thuốc Bắc.

  14. joshep.tran viết:

    Kính gửi anh Lê Anh Dũng.
    Với một nền tảng thần học mênh mông, hoàn chỉnh và sâu sắc như Kitô giáo (Công giáo, Tin Lành, Chính Thống giáo, Anh giáo và cả Do Thái giáo nữa) thì chỉ mới tìm hiểu qua như anh mà đã phát biểu (xin lỗi anh là khá phiếm diện) về ơn cứu độ, về đạo hiếu với cha mẹ, về nhận thức và tâm thức của những người tin theo Đức Giê-su thì dễ làm cho các bạn đọc có cái nhìn sai hoặc rất sai về gương mặt nhân lành của “Thiên Chúa Tình Yêu”.
    Xin cầu chúc anh đầu tư thêm thời gian tìm hiểu thêm về giáo lý, về thánh kinh của Kito giáo đầy đủ hơn nữa để mỗi chúng ta sẽ trở thành nhân chứng của “Tình Yêu” của “Sự Thật” để chúng ta đạt được “Sự Sống”.
    Người Kito giáo hơn ai hết luôn ý thức được sự yếu đuối của mình và rất cần đến lòng thương xót của Đức CHúa. Nếu nói họ “cậy” hơn những người tôn giáo khác thì mới chỉ là bề ngoài hoặc có chút ngộ nhận mà thôi. Khi tiếp nhận và thấm nhuồn niềm tin nơi Chúa Giê-su họ được thôi thúc không ngừng để đi loan báo về niềm tin và làm chứng cho Đức Chúa của họ vì theo họ Ngài là đường là sự thật và là sự sống. Họ nhìn người chưa tin Giê-su như một sự mời gọi họ phải yêu thương, phải sống tốt hơn để thuyết phục những người xung quanh cảm mến mà tìm hiểu về Thiên Chúa là Cha mọi người hết thảy. “Người ta sẽ nhận ra các con là môn đệ của thày vì các con thương yêu nhau” nhưng “chỉ thương yêu những người thương yêu các con thì có khác chi dân Ngoại, Thầy bảo thật, anh em phải thương yêu cả những kẻ thù nghịch mình và cầu nguyện cho họ nữa”. Để minh chứng và làm gương Đức Giê-su khi bị treo đến chết trên thập tự giá đã lớn tiếng “Xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Nếu những người Kito hữu mà nghĩ như anh nói thì đâu có thể, hoặc dám đi truyền giáo nữa? đâu có ai vui lòng hoặc đủ can đảm để lấy tính mạng, máu đào của mình ra để khẳng định niềm tin vững chắc nơi Giê-su Kito nữa?
    “Thánh giá vẫn đứng vững dù thế gian không thay đổi” đã có quá nhiều chống đối phủ nhận,thù nghịch hay vấp phạm nhiều ngàn năm qua nhưng Thánh Danh Giê-su vẫn ngày một “Sáng” ra.” Rồi đây lời ta sẽ được loan truyền đế tận cùng trái đất” đó sao?
    Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã từng nói “thời đại ngày nay người ta cần các nhân chứng hơn các thầy thuyết giảng”. Ước chi chính cuộc sống của mỗi chúng ta – những người đã cảm nhận được tình yêu thương tràn đầy từ Đức Chúa sẽ từng bước sám hối đời sống tội lỗi của mình và canh tân lại trong “Tình Yêu”.
    Nguyện xin Thần Khí của sự sống và khôn ngoan sẽ luôn giúp chúng ta có một lựa chọn thánh thiện trước bao sự cám dỗ của cuộc sống trần gian này.
    Kính bút!

  15. Ngoc Nguyen viết:

    Bạn trẻ Joseph viết bài thật cảm động. Nếu như trọn mấy chục triệu người Việt đều thành tâm và có thể bất đồng ý kiến một cách ôn hoà như bạn ấy thì đất nước mình sẽ khá hẳn lên trong vòng 24 tiếng. Thật là hậu sinh khả uý, đáng cho nhiều người thuộc thế hệ hoàng hôn như chúng ta phải kính nể.

    Riêng phần phát biểu của tác giả Trần Lâm thì tôi có ý kiến thế này: có rất nhiều người lên mạng sôi nổi tham gia vào những diễn đàn về đề tài các nhà sư và sự nằm vùng của họ (gần đây tôi nghe nói luôn cả nhà sư Quảng Độ cũng là nằm vùng, làm bộ bị quản chế mấy chục năm trời, và ông Tuệ Sỹ cũng là nằm vùng, làm bộ bị lãnh án tử hình), nhưng không phải ai cũng làm việc này một cách vô vụ lợi. Ngoài những Phật tử đức độ, đã từng ra vào sinh tử để cứu nước như ông Trưởng ty Công an Liên Thành thì dĩ nhiên đã bộc lộ những uất ức đến tận trời xanh của mình, những người còn lại là ai? Tôi thấy đổ tội cho giáo dân lên các diễn đàn để dùng lời thô tục với các nhà sư là một điều vô lý. Đọc kỹ lời văn họ thì ta thấy họ rất bài bản, mỗi câu thoá mạ đều kèm theo lời giải thích là họ là Phật tử, có khi lại kèm theo vào câu Mô Phật nữa. Kết luận của tôi vẫn là: đây chính là những cán bộ tuyên truyền được tung ra để đánh lạc hướng mỗi khi trong nước đang có chiến dịch cướp chùa hoặc đàn áp Phật giáo. Tôi xin nhắc lại rằng tôi chỉ nghi ngờ một số cá nhân trên các diễn đàn ấy thôi, còn những người khác thì mỗi người có một quá khứ và một nỗi hờn hoặc lý do chính đáng hoặc cơn bệnh riêng, tôi không am tường hết. Thành thật cám ơn.

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...