talawas blog

Chuyên mục:

Trần Gia Phụng – Diễn tiến biến động miền Trung

15/11/2009 | 7:00 sáng | 23 Comments

Tác giả: Trần Gia Phụng

Category: Chiến tranh Việt Nam, Lịch sử
Thẻ:

Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1-11-1963, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ngày 26-10-1956 bị bãi bỏ. Không có luật căn bản quốc gia, các tướng lãnh tự do tranh giành quyền hành, liên tiếp gây nhiều binh biến, khiến cho tình hình VNCH không ngừng bị xáo trộn. Trong hoàn cảnh đó, một biến động chính trị rộng lớn bùng nổ cả ở Sài Gòn lẫn các tỉnh miền Bắc VNCH, mà trước khi đất nước bị phân chia, là miền Trung Việt Nam, nên dân chúng thường quen sự kiện nầy là Biến động miền Trung.

I. Nguyên nhân

Nguyên nhân trực tiếp đưa đến sự bộc phát Biến động miền Trung từ tháng 3 năm 1966 là vụ trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh quân đoàn I và Vùng I Chiến thuật, bị cách chức.

Nguyễn Chánh Thi nguyên là đại tá tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông tham gia cuộc đảo chánh chống Tổng thống Diệm ngày 11-11-1960, nhưng thất bại.  Ông lưu vong sang Phnom Penh (Nam Vang). Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, ông về nước ngày 16-11-1963.  Một tháng sau, ông được cử làm tư lệnh phó Quân đoàn I, dưới quyền chỉ huy lúc đầu của trung tướng Đỗ Cao Trí, rồi của trung tướng Nguyễn Khánh kể từ sau tháng 1-1964.[1] Lúc đó Quân đoàn I chịu trách nhiệm an ninh các tỉnh thành Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Ngày 30-1-1964, đại tá Nguyễn Chánh Thi vào Sài Gòn giúp trung tướng Nguyễn Khánh, thực hiện cuộc chỉnh lý, đưa Nguyễn Khánh lên cầm quyền. Trở về Quân đoàn I, Nguyễn Chánh Thi được cử làm tư lệnh Sư đoàn I Bộ Binh ngày 7-2-1964, rồi thăng chuẩn tướng ngày 29-5-1964.

Nắm được quyền lực, Nguyễn Khánh tìm cách củng cố địa vị, ban hành Hiến chương ngày 16-8-1964 tại Vũng Tàu nên thường được gọi là Hiến chương Vũng Tàu (HCVT). Hiến chương gặp nhiều chống đối, nhất là giới tín đồ Phật giáo và sinh viên học sinh. Các đảng phái như Đại Việt, Dân chủ Xã hội, Việt Nam Quốc dân Đảng đều lên tiếng công kích. Nhiều cuộc biểu tình xảy ra trên toàn quốc, mạnh nhất là ở Huế, Đà Nẵng và Quy Nhơn. Tại Huế, Hội đồng Nhân dân Cứu quốc do bác sĩ Lê Khắc Quyến thành lập, đả kích nặng nề HCVT. Cuối cùng, trong cuộc biểu tình lớn lao ngày 25-8-1964 tại Sài Gòn, Trung tướng Nguyễn Khánh xuất hiện và hô to khẩu hiệu: “Đả đảo Hiến chương Vũng Tàu”.  Thế là HCVT bị dẹp bỏ.

Sau biến cố nầy, trung tướng Dương Văn Đức và thiếu tướng Lâm Văn Phát tổ chức binh biến ngày 13-9-1964 nhằm lật đổ Nguyễn Khánh. Một lần nữa, Nguyễn Chánh Thi về Sài Gòn giúp trung tướng Nguyễn Khánh dẹp cuộc “biểu dương lực lượng” nầy. Nguyễn Chánh Thi được thăng thiếu tướng ngày 21-10-1964 và trở thành tư lệnh Quân đoàn I ngày 14-11-1964.

Trong khi đó, sau những tranh chấp giữa các tướng lãnh, Hội đồng các tướng lãnh giao chính quyền cho phía dân sự. Phan Khắc Sửu được chọn làm Quốc trưởng ngày 24-10-1964 và Trần Văn Hương làm Thủ tướng ngày 31-10-1964. Chẳng bao lâu, Phan Huy Quát lên thay Trần Văn Hương ngày 16-2-1965. Ba ngày sau, thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo lại đảo chánh ngày 19-2-1965. Nguyễn Chánh Thi về Sài Gòn giúp chính phủ Phan Huy Quát, ổn định tình thế.

Vì cuộc tranh chấp giữa Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát, quân đội trở lại nắm quyền. Ngày 19-6-1965, Đại hội đồng Quân lực thành lập Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG) do trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch và Ủy ban Hành pháp Trung ương (UBHPTƯ) do thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch.

Riêng Nguyễn Chánh Thi, ông vẫn giữ chức tư lệnh Quân đoàn I và được thăng trung tướng tháng 10-1965. Vốn là người ngay thẳng, trung tướng Thi công khai chỉ trích những việc mà ông cho là bất công, tham những, nhất là ông nhắm vào hai tướng Nguyễn Văn Thiệu (Quốc trưởng) và Nguyễn Cao Kỳ (Thủ tướng). Vì vậy, trung tướng Thi gây nhiều tranh cãi đối với tập đoàn các tướng lãnh chính phủ trung ương.

Trong cuộc họp Đại hội đồng Quân lực tại bộ Tổng tham mưu ngày 11-3-1966, các tướng lãnh quyết định cho trung tướng Nguyễn Chánh Thi nghỉ phép, ra nước ngoài chữa bệnh mũi, mà theo tướng Thi trong hồi ký Việt Nam: một trời tâm sự, ông cho biết ông chẳng bị bệnh gì cả.

Ngoài ra, lúc đó có dư luận cho rằng trung tướng Thi bị loại ra khỏi chức vụ có thể còn vì một lý do khác. Nguyên vào ngày 1-12-1965, trung tướng Thi gởi thư lên chủ tịch UBLĐQG Nguyễn Văn Thiệu, chính thức đề nghị là Quân lực VNCH phải Bắc tiến, nắm thế chủ động trên chiến trường, mới có thể chiến thắng cộng sản.[2] Ông cũng công khai đề nghị như thế với người Mỹ.

Chủ trương nầy đã từng được Nguyễn Khánh đưa ra ngày 19-7-1964 và Nguyễn Cao Kỳ nhắc lại ngày 20-7-1965, gọi là “Ngày toàn dân đoàn kết chuẩn bị giải phóng miền Bắc”, nhưng không được người Mỹ chấp thuận. Nguyễn Cao Kỳ vội bỏ chủ trương nầy nên được người Mỹ tiếp tục ủng hộ. Nay trung tướng Nguyễn Chánh Thi kêu gọi thêm một lần nữa. Trung tướng Thi đang giữ chức tư lệnh Quân đoàn I kiêm tư lệnh vùng I Chiến thuật, vùng giáp ranh với Bắc Việt. Phải chăng việc nầy đi ra ngoài chính sách của người Mỹ, nên việc cách chức tướng Thi có liên hệ đến chuyện Bắc tiến và người Mỹ?

Không có tài liệu nào có thể xác quyết điều nầy, nhưng không phải tự nhiên mà ngay sau khi bị buộc nghỉ việc trong cuộc họp tại bộ Tổng tham mưu (11-3-1966), trung tướng Thi nhận được thư của đại tướng William Westmoreland cũng đề ngày 11-3-1966, nhân danh Bộ Quốc phòng Mỹ, mời tướng Thi sang Hoa Kỳ chữa bệnh.[3] Sao lại có sự trùng hợp nhịp nhàng như thế?

Sau cuộc họp ngày 11-3-1966, trung tướng Thi bị giữ lại ở Sài Gòn. Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân, tư lệnh Sư đoàn I Bộ binh được cử lên thay. Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, chỉ huy trưởng Biệt động quân, ra Huế thay thiếu tướng Chuân.

II. Diễn tiến biến động

Biến động miền Trung năm 1966 có thể tóm lược qua bốn giai đoạn sau đây:

1. Cuộc tranh đấu phát khởi

Khi Đài phát thanh Sài Gòn thông báo quyết định của HĐQL cho trung tướng Nguyễn Chánh Thi nghỉ phép và ra nước ngoài chữa bệnh mũi, dân chúng Vùng I Chiến thuật hiểu ngay là trung tướng Thi bị cách chức. Đây là cơ hội thuận lợi để những phần tử vốn âm thầm chống chính phủ quân nhân bấy lâu nay, kích động và phát động các cuộc biểu tình chống đối.

Tức thì, ngày 12-3, cuộc biểu tình bộc phát tại Đà Nẵng, nơi Quân đoàn I đóng bản doanh. Cuộc biểu tình lan ra Huế ngày hôm sau 13-3. Người biểu tình càng ngày càng đông và đủ mọi thành phần: thanh niên, sinh viên, học sinh, công chức, tiểu thương, có cả quân nhân nữa. Đại đa số những người nầy là Phật tử. Những người biểu tình tổ chức thành Lực lượng Tranh thủ Cách mạng (LLTTCM). Những ngày sau đó, càng ngày biểu tình càng dữ dội. Lực lượng TTCM tổ chức tổng đình công, chiếm đài Phát thanh ở Huế cũng như Đà Nẵng.

2. Chính phủ điều đình

Trong khi biểu tình tiếp diễn, chính phủ trung ương kiếm cách thương thuyết, vừa tại vùng I Chiến thuật, vừa tại Sài Gòn. Ngày 16-3, chính phủ đưa trung tướng Nguyễn Chánh Thi ra Đà Nẵng để nhờ tướng Thi kiếm cách yên dân. Sự có mặt của tướng Thi làm cho tình hình êm dịu bớt. Ngày 1-4, chính phủ trung ương gởi trung tướng Phạm Xuân Chiểu ra điều đình. Nhóm biểu tình chống chính phủ giữ trung tướng Chiểu làm con tin một thời gian ngắn.

Tại Sài Gòn, ngày 17-3-1966, đại sứ Cabot Lodge (làm đại sứ lần thứ hai) gặp thượng tọa Thích Trí Quang, trong khi các tướng Thiệu, Kỳ gặp thượng tọa Thích Tâm Châu. Các lãnh tụ Phật giáo đồng ý ngưng biểu tình với điều kiện phía chính phủ giữ lời hứa tổ chức bầu cử và tiến đến chính phủ dân sự. Ngày 19-3-1966, Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) tuyên bố không chống đối chính phủ mà chỉ đòi hỏi bầu cử và thành lập chính phủ dân sự.[4] Tuy nhiên, các cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn. Tại Sài Gòn, cuộc biểu tình tối mồng 2-4-1966 trước Đài phát thanh trở nên hỗn loạn.

Hôm sau, 3-4-1966, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, chủ tịch UBHPTƯ, tuyên bố là cộng sản đã xâm nhập vào các phong trào tranh đấu ở miền Trung và sẽ dùng võ lực để tái lập an ninh tại Đà Nẵng. Lời tuyên bố nầy làm cho cuộc tranh đấu bùng lên mạnh mẽ.

Ngày 5-4-1966, Nguyễn Cao Kỳ ra Đà Nẵng, đem theo hàng ngàn chiến binh bằng cầu không vận Mỹ, nhưng bị quân lính địa phương theo nhóm biểu tình ngăn chặn, không cho ra khỏi phi trường. Vị chỉ huy Thủy quân Lục chiến (TQLC) Mỹ tại Đà Nẵng phải can thiệp, mới tránh đụng độ giữa hai bên.[5]

Lúc đó, thị trưởng Đà Nẵng (bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn) cùng tư lệnh Biệt khu Quảng Đà và Trung đoàn 51 Bộ binh (đại tá Đàm Quang Yêu), Địa phương quân, Nghĩa quân, Quân cảnh, công chức Đà Nẵng tuyên bố ly khai với chính phủ trung ương. Tại Huế, chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, trung tướng Nguyễn Chánh Thi cũng về theo pheo tranh đấu.

Ngày 8-4-1966, hai tiểu đoàn TQLC được gởi tiếp ra Đà Nẵng. Bộ Ngoại giao Mỹ phản đối và yêu cầu chính phủ VNCH giải quyết tranh chấp bằng thương lượng chứ không bằng quân sự.[6] Có thể vì vậy, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ chưa quyết định tấn công và ngày 9-4. UBLĐQG cử trung tướng Tôn Thất Đính ra Đà Nẵng làm tư lệnh Quân đoàn I, thay thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân.  Vài ngày sau, Tôn Thất Đính về phe tranh đấu.

Để làm êm dịu tình hình, ngày 12-4-1966, UBLĐQG triệu tập Đại hội Chính trị Toàn quốc, gồm chủ tịch các Hội đồng tỉnh và thị xã, đại diện các đoàn thể, đảng phái, đại diện các tôn giáo, nhưng Phật giáo và Ki-tô giáo không dự. Trong ngày chót của Đại hội (14-4-1966), trung tướng Nguyễn Văn Thiệu công bố sắc luật số 14/66, tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến (QHLH) qua phổ thông đầu phiếu trong vòng từ 3 đến 5 tháng, theo đó QHLH có nhiệm vụ soạn thảo và biểu quyết hiến pháp VNCH. Đồng thời UBLĐQG chấp thuận 10 đề nghị dân chủ hóa của Đại hội. Hai quyết định nầy là một cách nhượng bộ kín đáo những đòi hỏi của phe tranh đấu nhằm dân chủ hóa đất nước, mà chính quyền không bị mất thể diện.

Sau những hứa hẹn nầy, phía Phật giáo tuyên bố tạm ngưng tranh đấu. Ngày 17-4-1966, thượng tọa Thích Trí Quang từ Sài Gòn ra Huế để dàn xếp và kêu gọi đình chỉ biểu tình. Tuy nhiên, một số phần tử cực đoan, và có thể có sự xúi giục của cộng sản, phản đối quyết định tạm ngưng nầy.

3. Chính phủ cương quyết tái lập an ninh

Vào đầu tháng 5-1966, Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cho biết sẽ bầu cử QHLH vào tháng 10-1966 thay vì tháng 8, và chính phủ quân nhân sẽ cầm quyền thêm một năm nữa. Tức thì LLTTCM phản ứng, tổ chức biểu tình phản đối khắp miền Trung, tái chiếm đài phát thanh và các cơ sở khác. Lần nầy, với sự thỏa thuận ngầm của chính phủ Hoa Kỳ[7], thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ quyết định tái lập an ninh Đà Nẵng và Huế.

Chính phủ trung ương nhờ tàu vận tải Mỹ đưa 40 xe tăng và thiết vận xa đến Đà Nẵng ngày 14-5-1966. Ngày hôm sau 15-5, chính phủ gởi 5 tiểu đoàn Nhảy dù đến Quân đoàn I. Chỉ trong một giờ, quân Nhảy dù tái chiếm Đài phát thanh Đà Nẵng. Trung tướng Tôn Thất Đính chạy ra Huế.

Ngày 16-5-1966, thiếu tướng Huỳnh Văn Cao được cử ra Đà Nẵng làm tư lệnh Quân đoàn I.  Hôm sau 17-5-1966, tại phi trường Phú Bài (Huế), Huỳnh Văn Cao bị thiếu úy Nguyễn Trọng Thức mưu sát, nhưng ông Cao thoát nạn nhờ viên xạ thủ trực thăng Mỹ bắn chết Nguyễn Trọng  Thức. Sau biến cố nầy, Huỳnh Văn Cao xin nghỉ chức tư lệnh Quân đoàn I. Thiếu tướng Trần Thanh Phong tạm thay, cho đến khi thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Sư đoàn II Bộ binh, nhận chức tư lệnh Quân đoàn ngày 31-5-1966.

Chính phủ trung ương cử thiếu tướng Cao Văn Viên ra Vùng I Chiến thuật, chỉ huy cuộc tái kiểm soát Đà Nẵng và Huế. Khi quân Nhảy dù và TQLC xuất hiện, lực lượng ly khai yếu thế dần dần.  Ngày 23-5, nhóm ly khai tại chùa Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng (trên đường Ông Ích Khiêm) buông súng. Thị trưởng Nguyễn Văn Mẫn bị bắt. Trung đoàn 51 Bộ binh bị chận lại ở phía nam Đà Nẵng. Đại tá Đàm Quang Yêu cũng bị bắt ngày 25-5-1966.

Trong khi đó, tại Sài Gòn, chính phủ trung ương triệu tập Đại hội Quân Dân ngày 24-5-1966 tại rạp hát Thống Nhất, gồm khoảng 1,000 đại diện quân đội, hội đồng tỉnh, thị xã, đảng phái, công chức, báo chí… để trình bày về tình hình Đà Nẵng và tình hình miền Trung.

Ngày 31-5-1966, một phái đoàn gồm 6 lãnh tụ Phật giáo do thượng tọa Thích Tâm Châu dẫn đầu, hội đàm với 6 tướng lãnh trong UBLĐQG. Ủy ban LĐQG hứa sẽ tổ chức bầu cử QHLH vào ngày 11-9-1966 và mở rộng UBLĐQG thêm 10 chính khách dân sự. Đó là các ông: Trần Văn Đỗ, Phạm Hữu Chương, Phan Khoang, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Ngọc Trân, Trần Văn Ân, Văn Thành Cao, Nguyễn Lưu Viên, Quan Hữu Kim, Huỳnh Văn Nhiệm. Ngày 6-6-1966, những chính khách dân sự dự họp lần đầu với UBLĐQG.

4. Bàn thờ Phật xuống đường

Ngày 26-5-1966, tại Huế diễn ra tang lễ thiếu úy Nguyễn Trọng Thức, người mưu sát bất thành thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Đoàn biểu tình đốt Phòng Thông tin và Thư viện Hoa Kỳ tại Huế, tiêu hủy khoảng 5.000 quyển sách. Huế hoàn toàn hỗn loạn. Trung tá tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm thị trưởng thành phố Huế, phải dời văn phòng ra ngoại ô. Ngày 1-6-1966, cuộc biểu tình đập phá tiếp Tòa lãnh sự Mỹ tại Huế một lần nữa.

Trước áp lực của lực lượng chính phủ, thượng tọa Thích Trí Quang, lãnh tụ Phật giáo tranh đấu, tung ra biện pháp cuối cùng là yêu cầu đồng bào đưa bàn thờ Phật xuống đường ngày 6-6-1966 trong khắp thành phố Huế, để ngăn chặn lối đi của quân chính phủ. Nhiều thành phố miền Trung cũng hưởng ứng chiến dịch nầy: Quảng Trị, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Pleiku…  Cần chú ý là lúc đó, không phải tất cả Phật tử đồng thuận với biện pháp đưa bàn thờ Phật xuống đường.

Ngày 8-6-1966, thượng tọa Thích Trí Quang tuyệt thực trước tỉnh đường Thừa Thiên, nhưng chưa đầy 24 giờ sau, Thích Trí Quang kiệt sức, phải vào bệnh viện. Quân Nhảy dù và TQLC đến Huế từ ngày 8-6, nhưng chưa dẹp bàn thờ Phật. Ngày 10-6-1966, một tiểu đoàn Cảnh sát Dã chiến (CSDC) được đưa ra Huế tăng cường. Ngày 16-6-1966, đại tá Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc An ninh Quân đội kiêm tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia, đích thân chỉ huy quân Nhảy dù và CSDC, khiêng bàn thờ trả lại dân chúng và nhà chùa, khai thông đường đi trong thành phố Huế.

Phe ly khai rút về chùa Diệu Đế, chùa Từ Đàm và vào trong thành Nội, hoàng thành nhà Nguyễn trước đây. Lực lượng Nhảy dù, TQLC và CSDC lần lượt giải tỏa dễ dàng ba địa điểm nầy vào các ngày 18 và 19-6-1966. Thượng tọa Thích Trí Quang được đưa vào Sài Gòn ngày 21-6-1966. Tại các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, phong trào tranh đấu tan rã nhanh chóng. Biến động miền Trung xem như chấm dứt.

III. Hậu quả

Số người chết và bị thương trong biến động miền Trung lên khá cao. Riêng tại Đà Nẵng, trong cuộc đụng độ đầu tiên giữa phe tranh đấu và lực lượng Nhảy dù ngày 15-5-1966, số người chết lên đến khoảng 150 người và số người bị thương lên khoảng 700 người.[8] Trong việc chính phủ đưa quân tái kiểm soát Huế, số người chết và bị thương không được biết, số người ly khai bị bắt là 190 quân nhân, 109 công chức, 35 nhân viên cảnh sát.[9]

Đại đa số những người tham gia biến động nầy là Phật tử, nhưng GHPGVNTN chưa có một hệ thống giáo quyền chặt chẽ để kiểm soát các tăng ni và Phật giáo đồ như giáo hội Ki-tô giáo La Mã, nên những lãnh tụ Phật giáo không kiểm soát được phong trào Biến động miền Trung, và đôi khi bị cuốn hút theo phong trào.

Từ đó, Biến động miền Trung làm chia rẽ các lãnh tụ Phật giáo và làm suy giảm tiềm lực khối Phật giáo. Nguyên khi thượng tọa Thích Trí Quang phát động đợt tranh đấu cuối cùng vào đầu tháng 6-1966, các lãnh tụ Phật giáo ôn hòa ở Sài Gòn phản đối. Thượng tọa Thích Tâm Châu, sau khi tham dự hội nghị World Fellowship of Buddhists (Hội Thân hữu Phật tử Thế giới), trở về Sài Gòn ngày 29-5, thì Việt Nam Quốc Tự, trụ sở Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống Nhất (GHPGVNTN), bị phe quá khích chiếm đóng. Bản thân Thích Tâm Châu bị đe dọa, phải bỏ Việt Nam Quốc Tự đi tỵ nạn. Thượng tọa Tâm Châu nhiều lần lên tiếng chống lại việc đưa bàn thờ Phật xuống đường.[10] Từ đó, hố chia rẽ giữa hai nhóm ôn hòa và quá khích càng ngày càng sâu rộng, làm cho khối Phật giáo yếu hẳn đi. Một lãnh tụ Phật giáo khác là thượng tọa Thích Thiện Minh bị thương nặng vì bị mưu sát ngày 1-6-1966, mà không tìm ra thủ phạm.

Chắc chắn cộng sản Việt Nam (CSVN) không bỏ qua cơ hội để lợi dụng Biến động miền Trung, xúi giục những hành vi quá khích trong đám đông, nhằm phá hoại chính quyền, gây rối loạn xã hội và nhất là làm mất uy tín tổ chức Phật giáo, gây chia rẽ giữa Phật giáo với Phật giáo, giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, với chính quyền và cả với người Mỹ.

Cần chú ý là CSVN rất lo sợ tất cả những tổ chức quy củ và có hậu thuẫn quần chúng. Ở Việt Nam, các tổ chức có hậu thuẫn quần chúng mạnh mẽ nhất chính là giáo hội các tôn giáo. Đối với tôn giáo, ngoài vấn đề triết thuyết và giáo lý, CSVN rất chú trọng đến sức mạnh quần chúng (tín đồ), thực lực của các tôn giáo. Cộng sản trên thế giới nói chung chống giáo hội Ki-tô giáo vì sợ khối lượng tín đồ đông đảo của giáo hội nầy. Ở Việt Nam, sau năm 1945, vì lo sợ ảnh hưởng của Cao Đài giáo đối với nông dân miền Đông Nam Việt và ảnh hưởng của Phật giáo Hòa Hảo đối với nông dân miền Tây Nam Việt, nên CSVN đã tìm tất cả các cách để triệt hạ hai tôn giáo nầy.

Sau khi thành lập năm 1964, GHPGVNTN là giáo hội có khối lượng tín đồ đông đảo khắp nước, được hậu thuẫn rộng rãi, nhất là trong giới lao động và dân chúng nông thôn. Vì vậy, GHPGVNTN trở thành một sức mạnh chính trị đáng ngại đối với CSVN. Không thể đánh phá GHPGVNTN như đã từng hãm hại Đức thầy Huỳnh Phú Sổ và Phật giáo Hòa Hảo sau năm 1945, CSVN kiếm cách phá hoại và gây chia rẽ để cho GHPGVNTN phân hóa và yếu đi. Có như thế, CSVN mới giành được độc quyền lãnh đạo quần chúng.

Trong những cuộc biểu tình, phe tranh đấu đưa ra những biểu ngữ chống Mỹ, lại đốt Phòng Thông tin Hoa Kỳ tại Huế, làm cho người Mỹ càng thêm ủng hộ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.  Khối Phật giáo Việt Nam cũng mất uy tín trước dư luận thế giới. Ngày 17-6-1966, Hội Phật giáo Thế giới tuyên bố không ủng hộ khối Phật giáo Việt Nam vì tăng ni hoạt động chính trị.[11]

Một hậu quả ít ai chú ý là sau khi chính phủ tái kiểm soát miền Trung, một số người, trong đó có thanh niên, sinh viên, học sinh, sợ bị chính quyền quân sự trả thù, đã “nhảy núi” năm 1966, tức lên miền rừng núi theo du kích cộng sản. Những sinh viên thanh niên nầy sau trở về Huế quấy phá và giết hại đồng bào trong biến cố Tết Mậu Thân vào đầu năm 1968.

Hậu quả trầm trọng nhất của Biến động miền Trung là chính phủ VNCH phải dồn sức để ổn định xã hội ở thành phố, khiến nỗ lực chống cộng bị suy giảm. Quân nhân ngoài tiền tuyến, nhất là quân nhân Phật tử không an tâm chiến đấu vì hậu phương bị xáo trộn. Nhờ thế, du kích cộng sản có cơ hội tăng cường hoạt động và phát triển ở nông thôn và miền rừng núi.

Cuối cùng, Biến động miền Trung vẫn đem lại một kết quả quan trọng về phương diện dân chủ hóa là đã thúc đẩy nhà cầm quyền quân sự nhanh chóng tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến ngày 11-9-1966, nhằm soạn thảo hiến pháp. Hiến pháp được ban hành ngày 1-4-1967, làm nền tảng cho nền Đệ nhị Cộng hòa Nam Việt Nam. Có tất cả 11 liên danh ứng cử tổng thống và phó tổng thống ngày 3-9-1967, trong đó liên danh quân đội của Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đã thắng cử. Tuy các ứng cử viên đối lập cho rằng cuộc bầu cử gian lận, nhưng “đa số trong 22 quan sát viên Hoa Kỳ và 93 quan sát viên của 21 quốc gia đều nhận rằng cuộc bầu cử có nhiều dấu hiệu tự do”.[12] Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy thì nhận định: “Cuộc bầu cử tổng thống năm 1967 có thể được coi là lương thiện và tự do.”[13] Có người cho rằng nếu phe dân sự biết đoàn kết thì có thể thắng cuộc bầu cử nầy.[14]

Kết luận

Tóm lại, Biến động miền Trung không phải là một biến cố địa phương mà là một sự kiện quan trọng có tầm vóc quốc gia. Đặt vụ Biến động miền Trung năm 1966 trong hoàn cảnh lịch sử đầy xáo trộn sau năm 1963, nguyên nhân sâu xa ban đầu của biến động là những đòi hỏi dân chủ hóa đất nước, thiết lập quốc hội lập hiến, trở lại chính phủ dân sự. Việc cách chức trung tướng Nguyễn Chánh Thi chỉ là cái cớ làm bùng nổ các cuộc biểu tình.

Biến động miền Trung tuy đã thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa VNCH, nhưng ngược lại Biến động miền Trung đã làm suy yếu GHPGVNTN và nhất là làm suy yếu tiềm lực của chiến đấu của Quân lực VNCH. Trách nhiệm sâu xa nhất về biến động nầy là những người muốn mưu cầu quyền lực bằng con đường không thông qua thể chế dân chủ. Trong khi đó kẻ có lợi nhất trong Biến động miền Trung không ai khác hơn chính là CSVN.

Nguồn: Trích Trần Gia Phụng, Việt sử đại cương tập 6

© 2009 Trần Gia Phụng

© 2009 talawas blog


[1] Trước tháng 11-1963, thiếu tướng Trí làm tư lệnh quân đoàn I, thiếu tướng Khánh làm tư lệnh quân đoàn II. Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, hai ông đều được thăng trung tướng và theo lệnh chính phủ mới, hai ông đổi chỗ nhau từ tháng 1-1964.

[2] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam, một trời tâm sự. California: Nxb. Anh Thư, 1987, tt. 319-32.

[3] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam, một trời tâm sự. California: Nxb. Anh Thư, 1987, tr. 344.

[4] Chính Đạo, Tôn giáo và chính trị, Phật giáo 1963-1967, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 210.

[5] Stanley Karnow, Vietnam a History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 446.

[6] Chính Đạo, sđd. tr. 215.

[7] Chính Đạo, sđd. tr. 221.

[8] Chính Đạo, sđd tr. 220.

[9] Đoàn Thêm, 1966 Việc từng ngày, California: Nxb. Xuân Thu tái bản, 1989, tr. 119.

[10] Đoàn Thêm, sđd. tr. 115.

[11] Đoàn Thêm, sđd. tr. 116.

[12] Đoàn Thêm, 1967 Việc từng ngày, California: Nxb. Xuân Thu tái bản, 1989, tr. 197.

[13] Hoàng Cơ Thụy trích dẫn, Việt sử khảo luận cuốn 6, Paris: Nam Á 2002, tr. 3339.

[14] Hoàng Cơ Thụy, sđd. tr. 3339.

Bình luận

23 Comments (bài “Trần Gia Phụng – Diễn tiến biến động miền Trung”)

  1. Trần Lâm viết:

    @ Hòa Nguyễn

    Có thể các nhà sử học sẽ phải tìm hiểu một cách tường tận mối liên hệ nhân quả giữa việc chế độ Ngô Đình Diệm thẳng tay loại bỏ tất cả các thành phân đối lập chống Cộng tại miền Nam và sự xáo trộn chính trị trầm trọng bùng nổ trên vùng đất này sau khi chế độ đó sụp đổ. Có lẽ vì không có một thế lực đối lập nào được chuẩn bị để lên nắm chính quyền, nên mới có tình trạng loạn thế xuất gian hùng xảy ra trong thời hậu đảo chánh.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Trần Lâm viết: “Năm 2004, khi đọc lần đầu tiên trong sách của Vũ Ngự Chiêu rằng có đến 40 ghế trong Thượng viện Miền Nam nằm trong tay tín đồ Công giáo chứ không phải 30 như Bunker đã nói, tôi không tin, cho rằng họ Vũ đã nói bậy.”

    Tôi không biết chắc con số, nhưng lý do như trên rất dễ hiểu. Phong trào Phật giáo miền Trung bị đập tan (bởi những người theo hay có gia đình theo Phật giáo như Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan, Cao Văn Viên. TT Trí Quang thực tế không còn ảnh hưởng gì (bị giết chết về mặt chính trị, như đại sứ Mỹ Cabot Lodge mong muốn), ảnh hưởng của TT Tâm Châu chỉ trong nhóm người Bắc di cư ở Sài Gòn. Các đoàn thể chính trị khác đều yếu về tổ chức và tài chính. Trong khi đó tổ chức Công giáo giàn trải khắp nơi, với số tiền dùng vận động tranh cử không biết bao nhiêu mà nói, lại có hai tờ báo hàng ngày ủng hộ là Xây Dựng (LM Lãm), và Hoà Bình (LM Du), và số tín đồ tập trung, kỷ luật.

    Vài điều nhận thấy sau đây, đôi khi hơi mỉa mai:

    1. Khi Hiến chương Vũng Tàu bị xé bỏ, ngày 26-8-64, thì qua ngày hôm sau nhiều ngàn người Thiên Chúa giáo biểu tình trước cổng trại Tổng tham mưu “ủng hộ Hội đồng Quân đội Cách mạng, chống Dương Văn Minh” (nhưng bị lính bắn chết 4 người. Tiếp theo là xáo trộn lớn ở Sài Gòn (cả ở Huế, Đà Nẵng) giữa học sinh, thanh niên hai bên Thiên chúa giáo và Phật giáo (có ít nhất hai học sinh chết ở Sài Gòn).

    2. Khi TT Tâm Châu và sinh viên Sài Gòn tổ chức biểu tình chống Thủ tướng Trần Văn Hương (lúc đó bị tố là “chia rẽ (Bắc Nam)” ông Hương gọi lại họ là “đám con nít”, và “lũ lưu manh cạo đầu rồi mặc áo tăng ni”, rất thiếu chính trị nên biểu tình càng mạnh), thì Thiên Chúa giáo và Mỹ đều ủng hộ TT Hương.
    Trước tình hình như vậy, ông Hương phải đổ (và bị quân đội giam lỏng ở Vũng Tàu), nhưng được nhiều cảm tình của Thiên chúa giáo từ đó, và đến mãi sau này vẫn được người Thiên Chúa giáo ủng hộ. Thí dụ trong hồi ký đăng trên báo Người Việt (nay in thành sách) ông Võ Long Triều (Công giáo) kể lại lúc còn làm bộ trưởng trong chính phủ Nguyễn Cao Kỳ, ông đã lén ra Vũng Tàu tiếp xúc với ông Hương và mưu đưa ông Hương trở lại chính quyền (có thể đây là một trong nhiều điều bất đồng với ông Kỳ). Sau này, ông Thiệu (Công giáo nhưng đảo chính ông Diệm) dùng ông Hương trong vai trò Phó tổng thống để lấy phiếu của Công giáo và người miến Nam (?).

    3. Ông Phan Huy Quát ở trong trường hợp trái ngược. Ông này vào thời 1945 đã làm việc cho Khâm sứ Bắc kỳ Phan Kế Toại trong chính phủ Trần Trọng Kim, sau là tổng trưởng của chính phủ Bửu Lộc (trước chính phủ Ngô Đình Diệm), và thật ra ông Quát là người của đảng Đại Việt. Khi viết về ông Quát tôi luôn luôn ghi ông bị “cho là người của Phật giáo”, vì các tướng đã đưa ông lên thay ông Hương bị Phật giáo chống mạnh. Ban đầu Phật giáo im lặng trước chính phủ Phan Huy Quát, nhưng khi Thiên Chúa giáo, bắt đầu là Linh mục Hoàng Quỳnh như đã viết, chống đối ông Quát kịch liệt, thì Phật giáo ủng hộ ông Quát. Môt đại tá, tên Bùi Dinh (Công giáo) làm đảo chính ông Quát bất thành và bị bắt với 14 người khác. Đến khi ông Quát bị hạ, bên Phật giáo ủng hô ông Quát càng nhiều, nhất là ở miền Trung, và đòi lập lại chính quyền dân sự.

    4. Phật giáo (phe Ấn Quang của TT Trí Quang) suy yếu sau Biến động miền Trung và thêm tẩy chay cuộc bầu cử do chính họ tranh đấu mới có, vì vậy họ không có đại diện chính thức trong Quốc hội được bầu. Cũng là sự non kém vế chính trị.

    Nói thêm với ông Trần Lâm. Theo tôi, tình hình chính trị miền Nam sau 1-11-63 bị tác động bởi năm yếu tố: Quân đội, Mỹ, Phật giáo, Thiên chúa giáo và đảng Đại Việt (kể cà Việt quốc ở miền Trung). Quân đội (như tường Khánh) hành động chỉ vì quyền lợi, giành chức vụ. Mỹ muốn đưa quân vào VN êm thắm. Phật giáo, Công giáo và Đại Việt vì bảo vệ quyền lợi riêng đã đành, mà cũng muốn lấp vào khoảng trống chính trị sau sự sụp đổ của chế độ ông Diệm. Đảng Đại Việt ban đầu liên kết với nhóm “Cần lao” (Công giáo, tướng Khiêm, Viên) để lật đổ các tướng Minh, Đôn, Kim, Đính. Nguyễn Khánh (và tướng Thi) ở miền Trung không có vai trò gì trong vụ chỉnh lý trên, nhưng Khánh lợi dụng thời cơ giành chức thủ tướng của Đại Việt (đáng lẽ phải là Nguyễn Tôn Hoàn), và dần dần loại bỏ được Khiêm cùng phe cánh. Nhưng đảo chính tiếp theo trong thời Khánh là kết hợp của nhóm Công giáo (như tướng Phát), Đại Việt (như đại tá Huỳnh Văn Tồn), hay sĩ quan bất mãn vì mất chức như Dương Văn Lắm (đô trưởng SG). Vai trò của tướng Kỳ và Thi ngày càng quan trọng qua những lần giúp Khánh dẹp đảo chính. Khánh rất mưu trí (hay gian hùng) nhưng sau cùng bị cả 5 nhóm đã nêu trên chống lại.

    Vê mặt lịch sử, nếu phân tích sâu xa sẽ biết nhiều điều thú vị, và nhất là thấy sự thật, đằng sau những rối ren, hoả mù của thời đó. Tôi mới đọc biết ở đây chi tiết về ông Nguyễn Gia Hiến của lực lượng Đại Đoàn Kết. (Ngoài ra, khi tìm qua Google để đọc truyện của Liên Thành, thấy có đăng một ít trên trang nhà của Việt Quốc (và đã giới thiệu link ở đây), như vậy trước và nay VQ vẫn còn hiềm khích với Phật giáo miền Trung?).

  3. Trần Lâm viết:

    A) Cuộc bầu cử năm 1967

    Xin ghi thêm một điều mà sử gia Trần Gia Phụng đã không đề cập đến trong bài viết.

    Bên cạnh việc Nguyễn Văn Thiệu được bầu lên làm Tổng thống, cuộc bầu cử năm 1967 tại Miền Nam Việt Nam còn mang đến một kết quả đáng lưu ý khác. Đó là số ghế do tín đồ Công giáo nắm trong Thượng viện, cơ quan lập pháp tối cao của MNVN.

    90 % dân Miền Nam là người Lương, nhưng theo báo cáo Đại sứ Bunker gửi cho Tổng thống Johnson thì qua cuộc bầu cử nói trên đã có đến 50 % số ghế trong Thượng viện rơi vào tay Giáo dân, 10 % dân số.

    Bunker còn cho biết trong số 5 liên danh thắng cử vào Thượng viện lại có đến 3 liên danh do tín đồ Công giáo cầm đầu: LD Trần Văn Lắm, LD Nguyễn Gia Hiến (anh ruột Nguyễn Gia Kiểng) và LD Huỳnh Văn Cao. Hai liên danh khác là LD Nguyễn Ngọc Kỷ và LD Trần Văn Đôn.

    Không thấy Bunker nói đến liên danh do Nguyễn Văn Huyền, một tín đồ Công giáo, cầm đầu và cũng thắng cử vào Thượng viện (Vũ Ngự Chiêu và Đoàn Thêm thì có nói).

    Bunker có ghi thêm một chi tiết tức cười như sau về cuộc bầu cử nói trên:

    “The Central Election Council for the Upper House announced the results of the Senate elections on September 18. (…) The Council noted that a substantial copying error had occurred in totalling Lam’s vote in Saigon, where the return in one district for Lam was 28,571, but was added as 2,815 votes.”

    “As a result of the final tabulation, Ticket No. 10 headed by Pham Ba Cam, was superseded by Ticket No. 3, headed by Tran Van Lam. This increased number of Catholics, which we had estimated to be 25 to 30, or one-half the total seats.”

    Như thường lệ, tôi đã đưa bản báo cáo của Đại sứ Bunker lên mạng. Ai muốn, thì có thể đọc nó qua link này:

    http://www.scribd.com/doc/22657552/Senate-1967

    Kết quả cuộc bầu cử Thượng viện năm 1967 sẽ còn trở nên quan trọng hơn sang năm sau, khi những sĩ quan thân tín của người con cầu tự Nguyễn Cao Kỳ, theo tuyên bố chính thức của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, bị một chiếc trực thăng Mỹ bắn lầm trong Đợt 2 của chiến sự Mậu Thân.

    Substantial copying error, trực thăng Mỹ bắn lầm. Chuyện có thể xảy ra. Danh ngôn của Donald Rumsfeld: “Stuff happens.”

    Năm 2004, khi đọc lần đầu tiên trong sách của Vũ Ngự Chiêu rằng có đến 40 ghế trong Thượng viện Miền Nam nằm trong tay tín đồ Công giáo chứ không phải 30 như Bunker đã nói, tôi không tin, cho rằng họ Vũ đã nói bậy. Chỉ sau khi chính mắt tôi đọc báo cáo nói trên của Bunker tôi mới dám tin ông ta. Nhưng cho dù con số là 1/2 hay 2/3, nó vẫn là một kết quả ngoạn mục, chứng minh một cách không thể chối cãi khả năng chính trị ngoại hạng của tín đồ Công giáo Việt Nam.

    Có lẽ đây là một điều khó có thể bỏ qua được trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam dân chủ trong một tương lai hậu Cộng sản.

    B) Kiêu tăng

    Muốn tìm hiểu lịch sử của một giai đoạn thì phải tìm hiểu mối liên hệ nhân quả giữa những biến cố trong giai đoạn đó. Vậy vấn đề (sử học) trong trường hợp này là câu hỏi liệu có mối liên hệ nhân quả nào không giữa sự hiện hữu của kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm và sự xuất hiện của kiêu tăng (và kiêu binh) sau khi Ngô triều sụp đổ.

  4. Phùng Tường Vân viết:

    “Như vậy miền Nam đã lỡ mất cơ hội trở lại chính quyền dân sự sớm hơn, ngay năm 1965, qua chính phủ Phan Huy Quát…” (Hòa Nguyễn)

    Tôi thật không nghĩ như vậy, Các vị Đại tá với những khát vọng quyền lực cháy bỏng còn ngồi lù lù ở đó thì chắc chắn không có một thứ ông Quát ông Nạt nào làm nên cơm cháo gì và hy vọng có được một chính quyền dân sự có thực quyền vào lúc ấy.

  5. Hoà Nguyễn viết:

    Bài viết này như không nóí gì về “kiêu dân”, nhưng để góp ý với ông Phùng Tường Vân, xin trích lại đoạn sau đây.

    – Ngày 5-5-1965, Hội đồng Quân lực tuyên bố tự giải tán để các tướng lãnh trở về với nhiệm vụ quân sự thuần tuý.
    – Ngày 26-5-1965, quốc trưởng Phan Khắc Sửu ( theo đạo Cao Đài) và thủ tướng Phan Huy Quát (cho là thân Phật giáo) bất đống ý kiến trong việc thay đổi hai bộ trưởng.
    – Ngày 27-5, một phái đoàn của Lực lượng Đại Đoàn kết Công giáo do Linh muc Hoàng Quỳnh hướng dẫn đến yết kiến quốc trưởng Sửu, đưa kiến nghị không tín nhiệm thủ tướng Quát, và yêu cầu chỉ định thủ tướng khác.
    – Ngày 1-6-65, Linh mục Hồ Văn Vui hướng dẫn 60 đại diện của Mặt trận Công giáo đến gặp ông Sửu đề nghị giải tán chính phủ ông Quát.
    – Từ ngày 2-6-65, một số linh mục, chính khách thuộc các tôn giáo, đảng phái gửi kiến nghị bất tín nhiệm thủ tướng Quát.
    – Ngày 4-6, truyền đơn chống chính phủ Quát được tung ra trên nhiều đường phố.
    – Đêm 5-6, vài trăm người (Thiên chúa giáo) chống đối chính phủ, đốt xe, hành hung người trên đường Trương Minh Giảng, Gia Định.
    – Ngày 7-7, 200 cụ già thuộc các đoàn thể Thiên chúa giáo yết kiến quốc trưởng Sửu, đòi giải quyết khủng hoảng, họ ngồi tại dinh Gia Long từ 16 giờ đến 22 giờ.
    – Ngày 8-6, hơn trăm thanh niên, sinh viên thuộc Thanh niên Đại đoàn kết và sinh viên, học sinh Tự Dân (Thiên chúa giáo) tới dinh Gia Long từ 10 giờ đến 18 giờ mới chịu về, yêu cầu giải quyết khủng hoảng.
    – Thủ tướng Quát họp báo trình bày chi tiết về âm mưu đảo chính đêm 10-6 (của phe Thiên Chúa giáo), và âm mưu lập chính phủ trung lập của phe “Hoà Bình”.
    – Ngày 10-6, thanh niên Thiên chúa giáo biểu tình ở Tân Mai, Biên Hoà, xô xát vói không quân.
    – Ngày 14-6, Hội đồng Quân lực trở lại thành lập Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (ông Thiệu làm chủ tịch), và Uỷ Ban Hành pháp Trung ương (ông Kỳ chủ tịch) thay thế chính phủ Phan Huy Quát.
    (Theo Việt Nam Máu Lửa, trang 695-697, của Đỗ Mậu).
    Những chuyện này ai sống ở vùng Sài Gòn, Gia Định thời đó có thể còn nhớ.

    Như vậy miền Nam đã lỡ mất cơ hội trở lại chính quyền dân sự sớm hơn, ngay năm 1965, qua chính phủ Phan Huy Quát (Bác sĩ Phan Huy Quát có tên tuổi ở Bắc kỳ từ 1945, và đã là tổng trưởng Quốc phòng trong chính phủ Bửu Lộc, thành lập ngày 11-1-1954).

  6. Phùng Tường Vân viết:

    “Đúng là biến động miền Trung đã thúc đẩy tiến trình dân sự hoá chính quyền trung ương, xúc tiến bầu cử quốc hội lập hiến. Cũng đúng nữa là khi khởi đầu tranh đấu, Phật giáo có chính nghĩa vì đòi bình đẳng với các tôn giáo khác, nhất là với công giáo. Nhưng tất cả vấn đề nằm ở chỗ không biết ngừng lại đúng lúc, trong hoàn cảnh miền Nam đang một sống một chết với cộng sản”. (TVT)

    Thái độ quyết liệt của các nhà lãnh đạo Phật Giáo miền Trung lúc ấy còn phản ảnh một sự nứt rạn, chia rẽ trầm trọng của chính Phật Giáo: “Phe Ấn Quang”, “Phe Quốc Tự”, Miền Khuông Việt, Miền Vạn Hạnh… điều này không mấy ai còn lạ, tuy nhiên còn có những “yếu tố gia trọng” khác khiến cho sự chia rẽ ấy càng thêm phức tạp bộn bề, người viết xin cung cấp thêm một chi tiết “vụn” nữa của lịch sử để minh họa: Ông NP (quá cố) có lần kể lại rằng trong một buổi đàm đạo với một số khách tham dự rất hạn chế sau khi nghe tin tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng đầu “nội các chiến tranh” dưới một chức danh mới “Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương”, Thượng tọa Thích Tâm Châu có tâm sự rằng ông hài lòng vì “suốt từ triều Lê đến nay mới có một nhân vật gốc Bắc Hà đảm nhiệm chức vụ Tể Tướng.”

  7. Phùng Tường Vân viết:

    Kiêu tăng,

    Nếu đã có một thứ “kiêu dân”, thì văn học quần chúng miền Nam vào thời kỳ ấy cũng đã từng ghi nhận một thứ “kiêu tăng” trong câu đồng dao quen thuộc sau đây: “Nhất tướng, nhì sư, tam xi, tứ điếm”. Tôi chỉ xin nhắc lại một dữ kiện vụn vặt bên lề lịch sử, tuyệt nhiên không có ý tham dự cuộc tranh luận và tỏ ý bất kính với bất cứ ai.

  8. Trần Văn Tích viết:

    Thượng toạ Thích Trí Quang bị xem là thiên cộng trong khi tướng Nguyễn Chánh Thi tích cực chống cộng nhưng hai người vẫn có thể là đồng minh chiến thuật vì lập trường chính trị của họ có một số điểm giống nhau, chẳng hạn chống tham nhũng, chống phục tùng ngoại bang, cụ thể là Mỹ, nhân danh dân tộc. Tất nhiên đây chỉ là những điều được tuyên cáo, tuyên bố khi chưa có thực quyền, còn khi cờ đã vào tay thì sẽ phất ra sao, hoạ chăng chỉ có Trời biết.
    Đúng là biến động miền Trung đã thúc đẩy tiến trình dân sự hoá chính quyền trung ương, xúc tiến bầu cử quốc hội lập hiến. Cũng đúng nữa là khi khởi đầu tranh đấu, Phật giáo có chính nghĩa vì đòi bình đẳng với các tôn giáo khác, nhất là với công giáo. Nhưng tất cả vấn đề nằm ở chỗ không biết ngừng lại đúng lúc, trong hoàn cảnh miền Nam đang một sống một chết với cộng sản. Các quân nhân cầm quyền thuở bấy giờ đã thoả mãn hoặc chuẩn bị thoả mãn một số đòi hỏi của phe đấu tranh, tỷ như ngày 2-6-1966, Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia đã được mở rộng qua thoả hiệp với phe Phật tử ôn hoà của Thượng toạ Thích Tâm Châu. Cho nên ngày 6-6-1966, các nhân sĩ (dân sự) như Trần Văn Văn, Nguyễn Lưu Viên, Phạm Hữu Chương, Phan Khoang, Trần Văn Hương đã tham gia Ủy ban.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...