talawas blog

Chuyên mục:

Dũng Vũ – Trao đổi với ông Trần Lâm và ông Đông A

30/11/2009 | 8:00 sáng | 16 phản hồi

Tác giả: Dũng Vũ

Chuyên mục: Lịch sử
Thẻ: >

Vừa rồi, khi viết bài Từ “ngụy”, “Việt kiều” cho tới “kiêu dân”, tôi chỉ muốn đề nghị một điều duy nhất: Nên tránh hành vi dụng ngữ tiêu cực vì ý đồ chính trị hoặc nhu cầu tự mãn để tránh gây chia rẽ, hận thù dân tộc. Chỉ thế thôi. Và tôi nghĩ đó không phải là ý xấu.

Tôi cảm ơn hồi ý của ông Trần Lâm nhưng rất tiếc tôi phải nói với ông rằng: ông không thuyết phục được tôi rằng ông là người khách quan khi làm việc với sử.

Ông không cần phải giãi bày: “Tôi xin ghi nhận lời chê trách cho rằng tôi có thành kiến với dòng họ Ngô Đình và dân Công giáo. Đây là lời chê trách thường được nghe thấy trong các cuộc tranh luận về những vấn đề lịch sử. Do đó nên người tìm hiểu lịch sử phải cố gắng tìm ra cách để hóa giải nó.”

Bạn đọc có cảm tưởng, ngay từ đầu ông đã bộc lộ rõ rệt thành kiến đối với chế độ Ngô Đình Diệm và dân Công giáo. Theo tôi đoán, hình như ông hoặc gia đình, người thân của ông đã có một kinh nghiệm xấu nào đó từ chế độ Ngô Đình Diệm và người dân Công giáo, khiến ông căm thù và biến nó thành động cơ để viết.

Người đọc dễ nhận ra cảm tính qua cách đọc và viết của ông. Một cuốn sách ông đọc chắc hẳn bao gồm đủ thông tin từ A tới Z, tiêu cực có, tích cực có, song ông chỉ quan tâm khai thác vài điểm A, B, C nói về cái xấu của đối tượng, còn những các khác ông bỏ.

Viết cũng vậy, người đọc cũng bắt gặp nơi ông một cách dụng ngữ đầy thành kiến. Chẳng hạn tôi đặt ông một câu hỏi trung hòa: “Kiêu dân có nghĩa là gì?”. Ông chỉ cần trả lời “Kiêu dân có nghĩa là… (thế này)” là xong. Nhưng ông không muốn vậy mà lại tự đặt câu hỏi: “Kiêu dân, ngươi là ai?”. Ông thừa biết “ngươi” là một từ mang cực tính xấu thường thấy trong truyện chưởng. Hoặc khi cắt nghĩa (thay vì định nghĩa) hai tiếng “kiêu dân”, ông bắt đầu bằng cụm từ “Thời dòng họ Ngô Đình ‘dĩ đức vi chính’…”. Nếu là người trung dung, ông không cần phải thêm phụ ngữ “dĩ đức vi chính” tỏ ý mỉa mai vào đó làm gì.

Còn vô số trường hợp tương tự.

Tôi cho rằng cách làm việc như vậy không nghiêm chỉnh, nhất là đối với sử. Ở Đức, theo chỗ tôi biết, một sinh viên học ngành sử năm thứ nhất không những phải học đọc và viết lại sử mà phải học trở thành người khách quan, duy lý, nghiêm túc. Tôi tin ở xứ văn minh tiên tiến nơi ông cư ngụ cũng thế; ông có thể tự kiểm chứng.

Cả việc sử dụng sử liệu của ông cũng tự thú rằng ông chưa đạt khả năng cần thiết để làm công việc ông ham thích và muốn đạt trình độ hàn lâm. Nhiều dữ liệu ông dùng không kiểm chứng được, nhất là của các tác giả Việt Nam. Thiếu trung thực là một căn bệnh tiêu biểu của người Việt nói chung. Bắc cũng như Nam. Ví dụ, người Nam chê người Bắc toàn đẻ ra những chuyện hoang đường, đại loại như Lê Văn Tám, nhưng chính họ cũng đẻ ra những chuyện hoang đường, đại loại như khi rời bỏ nước, ông Nguyễn Văn Thiệu đã ôm theo mấy chục tấn vàng.

Cho nên những chuyện như ném gạch lên mái tôn, cưỡng hiếp vợ ông này ông kia,… chẳng ai biết được có đúng vậy không, thế nhưng ông lại đưa vào bài viết.

Kể cả những gì các học giả Việt Nam viết cũng cần nên suy ngẫm. Theo tôi biết, nhiều người quen cách làm việc của phương Tây, khi tiếp cận với tài liệu học thuật của Việt Nam, họ thường dè dặt.

Ví dụ trong ngành ngôn ngữ học Việt Nam, giáo sư, tiến sĩ thì nhiều, nhưng người có thẩm năng và uy tín thực sự thì rất hiếm. Ngay đến các vị nổi tiếng như Nguyễn Đình Hòa ở Mỹ hoặc Nguyễn Kim Thản ở Hà Nội vẫn có giới hạn. Về văn hóa, lịch sử cũng vậy. Kim Định, Nguyễn Hiến Lê là những người tôi kính nể nhưng không phải các ông nói gì nghe cũng lọt lỗ tai.

Nhìn chung, mặc dù trình độ học thuật của các học giả Việt Nam không cao như các học giả Tây phương do điều kiện khách quan, nhưng nói thế không có nghĩa Tây phương cái gì cũng nhất. “Dĩ Âu vi trung” không phải là chân lý. Ít ra trong suốt hơn 20 năm làm việc trong địa hạt khoa học, tôi đã học được kinh nghiệm ấy. Đến người thày dạy tin học cũ của tôi với một chuỗi Dr. nằm trên danh thiếp, từng được gắn huân chương Chữ Thập Đức (tựa như Huân chương Hồ Chí Minh hạng nhất) cũng không hẳn đã hoàn thiện. Nhân vô thập toàn.

Cho nên chớ có cả tin khi làm việc với khoa học và nhất là những loại khoa học như sử, không rõ ràng, khó kiểm chứng như khoa học tự nhiên.

Dẫu sao đi nữa, cái cần vượt qua trước hết là “cái Tôi” của mình. Làm được việc đó, tôi tin những gì ông Trần Lâm dự định viết sẽ đạt được một trình độ cao hơn.

Còn đối với ông Đông A, tôi xin cảm ơn ông về tài liệu hai tiếng “kiêu dân” từ đâu mà có. Chắc ông cũng hiểu, không phải ai cũng có những gì ông có. Đối với một từ không phổ biến, thiết nghĩ ông nên phụ chú trong bài viết của mình để tránh hiểu lầm và để bài viết thêm nghiêm chỉnh. Giả sử tôi cũng viết một bài giống trường hợp ông, tôi không thể đòi hỏi độc giả rằng “Xin lưu ý, trước khi đọc bài viết của tôi, bạn cần phải có kiến thức thời nhà Tống”.

Cuối cùng, tôi có một thắc mắc thế này. Đất nước và xã hội Việt Nam hiện tại có quá nhiều vấn đề thiết thực đáng quan tâm. Chúng quyết định sự phát triển và tồn tại của người dân trong nước. Làm sao giải quyết vấn đề Trung Quốc xâm lăng? Làm sao giải quyết vấn đề giáo dục, y tế yếu kém? Làm sao nâng cao dân trí? Làm sao cho giai cấp giàu nghèo bớt chênh lệch? Làm sao nâng đỡ người nghèo, bênh vực kẻ yếu đuối? Làm sao để người dân được tự do hơn, được đối xử công bình, nhân bản hơn? Làm sao thuyết phục nhà nước nên tôn trọng ý kiến của người dân? Làm sao giải quyết vấn đề công nghiệp hóa? Làm sao làm ra những sản phẩm trí tuệ, thay vì trồng lúa bán, nuôi tôm cá, đào mỏ bán, đào được gì bán đó, v.v… và v.v… Còn vô số việc làm cần sự góp sức của người có lương tâm, đặc biệt là giới trí thức.

Thiết nghĩ, mình là người có cuộc sống may mắn hơn nhiều người khác tại Việt Nam, thì nên góp ý cải thiện xã hội, còn hơn viết những đề tài thiếu thiết thực, phiến diện, chỉ khơi thêm chia rẽ, hận thù.

Vừa viết đến đây, tôi được biết bài viết “Kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm của ông Trần Lâm được phổ biến trên trang Giao Điểm, một diễn đàn nổi tiếng xưa nay về sự bài xích Công giáo và chế độ ông Diệm bởi những người Phật giáo cực đoan và người cộng sản Việt Nam.

Ông Trần Lâm thấy không, ông đã đặt câu hỏi “Kiêu dân, ngươi là ai?”, thì bây giờ người ta có quyền đặt câu hỏi “Trần Lâm, ông là ai?”

© 2009 Dũng Vũ

© 2009 talawas blog

Phản hồi

16 phản hồi (bài “Dũng Vũ – Trao đổi với ông Trần Lâm và ông Đông A”)

  1. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Hải Dương nêu tên các ông Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn…, và đây chỉ là trao đổi nhỏ với ông HD, nhưng cũng là điều thú vị đối với tôi.

    Sau khi tướng Nguyễn Văn Hinh, chỉ huy quân đội quốc gia chống thủ tướng Ngô Đình Diệm, bị Bảo Đại gọi qua Pháp và không cho về, đại tá tình báo Mỹ Landsdale thuyết phục tướng Cao Đài Liên minh Trình Minh thế về với ông Diệm. Trong “Việt Nam 1945-1995″ trang 427, Gs Lê Xuân Khoa cho biết tướng Trình Minh Thế được Mỹ trả 2 triệu đô-la, tướng Nguyễn Thành Phương (Cao Đài) được 3,5 triệu, tướng Trần Văn Soái (Hoà Hảo) được 3 triệu. Ngoài ra, sĩ quan, binh sĩ được đồng hoá và mang cấp bậc ngang hàng quân đội quốc gia. Ông Ngô Đình Nhu lên Tây Ninh gặp Trình Minh Thế nhiều lần, và đích thân Ngô Đình Diệm cũng vào chiến khu gặp TMT để thương lượng. Sở dĩ như thế vì lúc đó Bình Xuyên nắm công an cảnh sát ở Sài Gòn, rất lộng quyền và rất chống ông Diệm, còn quân đội sau khi tướng Hinh đi dường như có thái độ trung lập trong tranh chấp giữa ông Diệm và Bảo Đại, chỉ tướng Lê Văn Tỵ, thay Hinh, và đại tá Trần Văn Đôn, do gia đình có mối liên hệ trước với ông Diệm và vợ chồng ông Nhu, là nghiêng về TT Diệm. Ông Diệm rất cần đến lực lượng của Trình Minh Thế từng có tiếng quyềt liệt chống Pháp, để làm đối trọng với quân đội quốc gia chưa rõ thế nào, và nhất là để đối đầu với lực lượng vũ trang Bình Xuyên. Lúc đó Pháp vận động Mỹ thay thế ông Diệm, và các giáo phái vẫn áp lực lên TT Diệm: ngày 23-3-55 họ ra tối hậu thư đòi ông Diệm cải tổ chính phủ trước 26-3. Ngày 29-3, Bình Xuyên pháo kích vào bộ Tổng tham mưu và dinh Độc lập. Trần Văn Đôn phản kích, cho lính nhảy dù của Đỗ Cao Trí chiếm Nha Cảnh sát của Bình Xuyên. Ông Diệm bổ đại tá Nguyễn Ngọc Lễ (người đã ủng hộ ông chống tướng Hinh) làm tổng giám đốc cảnh sát công an. Ngày 28-3, Bảo Đại gửi công điện đề cử tướng Nguyễn Văn Vỹ làm tổng tham mưu trưởng thay thế tướng Tỵ, và gọi ông Diệm qua Pháp. Anh em ông Diệm triệu tập đại hội ngày 29-3, với chừng 200 người, gồm 19 đảng phái và đoàn thể, mà tiếng nói mạnh nhất là các giáo pháí, như Cao Đài, Liên Minh, Hoà Hảo (có mặt Nguyễn Thành Phương, Trình Minh Thế, và Nguyễn Giác Ngô, tướng Hòa Hảo).Họ chiếm quyền chủ tọa, và đưa đến quyết định truất phế Bảo Đại, uỷ nhiệm thủ tướng Ngô Đình Diệm lập chính phủ lâm thời với các nhiệm vụ: dẹp phiến loạn (Bình Xuyên), thu hồi toàn vẹn độc lập và yêu cầu Pháp rút quân khỏì VN, tổ chức bầu cử quốc hội để trả lại chính quyền cho nhân dân.

    1/ Nguyễn Bảo Toàn, chủ tịch đại hội, là nhân vật uy tín của Hòa Hảo, từng bôn ba Pháp, Trung Hoa, Nhật, đã cùng Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia, đòi Pháp thương thuyết với lực lượng quốc gia (không phải với VM và Bảo Đại). NBT chủ trương VN độc lập theo chế độ Cộng hòa, và hoàn toàn dân chủ. Do đó, Nguyễn Bảo Toàn ủng hộ ông Diệm trong truất phế Bảo Đại.

    2/ Hồ Hán Sơn, Phó chủ tịch, mang cấp bậc đại tá của quân đội Cao Đài, theo báo chí miền Nam Hồ Hán Sơn từng theo tướng Nguyễn Sơn, là tác giả quyển “Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh” (nội dung có lẽ theo ý tưởng quân sự của Trung Hoa thời đó, cả Quốc lẫn Cộng), và có một bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc.

    3/ Nhị Lang, Tồng thư ký, đảng viên Việt Quốc, nhưng theo Trình Minh Thế, giữ vai trò phụ tá hay cố vấn.

    Các đảng và đoàn thể do ông Nhu tổ chức hay kêu gọi ủng hộ ông Diệm như: Việt Nam Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng (của Nhu), Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam (Trần Quốc Bửu), Phong trào Cách mạng Quốc gia (Nhu, Cẩn), Nhóm Tinh thần, Xã hội Công giáo, Hội Tương trợ Đồng bào Nghệ, Tĩnh, Bình… Các nhóm này có thể cố gắng lèo lái đại hội, nhưng không hay chưa nắm được quyền chủ động.

    Hai tướng Tỵ, Vỹ và Trần Văn Đôn cùng đến dinh Độc lập hôm đó để hỏi ý kiến ông Diệm về việc thay thế người nắm quân đội, tình cờ nhằm lúc nhiều người trong đại hội trên có mặt. Nhị Lang (ông Trần Văn Đôn cũng kể Hồ Hán Sơn) đã có thái độ “vọng động” trước mặt ông Diệm ở dinh Độc Lập, như Nhị Lang rút súng, bắt tướng Vỹ lột lon; việc làm này có thể gây hậu quả tai hại là bị quân đội xông vào bắt hết (lính nhảy dù của Đỗ Cao Trí đang bao vây dinh Độc lập). Hôm sau, tướng Vỹ còn tức giận chuyện trên, muốn làm đảo chính với lý do ông Diệm bị mất quyền trong tay các đảng phái, nhưng tướng Tỵ không chịu, nên không làm được. Sau đó, đại tá Dương Văn Minh, quân trấn trưởng vùng Sài Gòn đẩy Bình Xuyên ra khỏi đô thành.

    Sau khi đạt được mục đích hay thành công rồi, theo Đỗ Mậu (VNMLQHT, trang 140), ông Diệm cho những ủy viên thân tín trong Hội đồng Nhân dân Cách mạng tìm cách gây mâu thuẫn, phân hóa. Hội đồng, qua Tổng thư ký Nhị Lang, bị tố cáo thâm lạm biển thủ 1 triệu đồng. Nguyễn Bảo Toàn từ chức chủ tịch, rồi lui vào bóng tối. Đến khi có đảo chính 1963, tên ông được xướng lên cùng với Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán,… Ông Toàn bị bắt, và bị thủ tiêu (báo chí viết xác ông bị chặt khúc bỏ vào bao ném xuống sông). Chuyện này đáng suy nghĩ, vì những người khác chỉ bị bắt giam, điều tra và xét xử.

    Hồ Hán Sơn trốn về Tây Ninh, nhưng sau đó người ta tìm thấy xác ông dưới một đáy giếng, và cho là do Nguyễn Thành Phương (bị Nhu mua chuộc) giết hại.

    Nhị Lang bỏ trốn qua Cam Bốt, về lại miền Nam khoảng năm 1960, bị bắt rồi sau 1963 được thả. Vào thời TT Thiệu, Nhị Lang tham gia nhóm “Phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm”, và được ông Thiệu giao cho nhiệm vụ “phối hợp hành động các đảng phái”. Nhị Lang có một quyển sách ca ngợi Trình Minh Thế, Ngô Đình Diệm, và Ngô Đình Nhu.

    Tôi không có tài liệu về Vũ Tam Anh.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả