talawas blog

Chuyên mục:

Trần Gia Phụng – Đại nạn Trung Hoa thời Trung sử

29/11/2009 | 1:05 sáng | 9 phản hồi

Tác giả: Trần Gia Phụng

Chuyên mục: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ:

Xem thêm: Đại nạn Trung Hoa thời Cổ sử

__________________

Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán (Trung Hoa) tại Bạch Đằng Giang năm 938 (Mậu Tuất) và xưng vương năm 939 (Kỷ Hợi), đóng đô ở Cổ Loa (thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay). Từ đây, nước Việt vĩnh viễn thoát ra khỏi cảnh đô hộ của Trung Hoa, nhưng các triều đình Trung Hoa vẫn tiếp tục nhiều lần đem quân sang xâm lấn nước Việt.

Lần thứ nhất (981)

Sau cuộc đảo chánh không đổ máu lật đổ nhà Đinh (968-980), Lê Hoàn lên làm vua năm 980 (Canh Thìn), tiếp tục đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Về sau, ông thường được sử sách gọi là Lê Đại Hành.

Biết tình hình Đại Cồ Việt (quốc hiệu từ thời vua Đinh Tiên Hoàng) đang xáo trộn vì chuyện đổi ngôi, vua Trung Hoa là Tống Thái Tông (trị vì 976-997) sai sứ đem thư qua khuyến dụ và đe dọa. Lê Hoàn (trị vì 980-1005) lấy danh nghĩa con của vua Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn, xin nhà Tống (Sung, 960-1279) cho nối ngôi vua cha. Tuy nhiên triều đình nhà Tống nắm rõ tình thế nước Nam, biết Lê Hoàn đã giành ngôi của Đinh Toàn, con của Đinh Tiên Hoàng, nên sai người đem một thư khác qua nói rằng “… Họ Đinh truyền nối được ba đời [ý chỉ Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Đinh Toàn], trẫm muốn cho Đinh Toàn làm thống súy, khanh [chỉ Lê Hoàn] thì làm phó. Nếu Đinh Toàn không đáng tướng tài, hãy còn tính khí trẻ con thì nên cho ngay mẹ con và thân thuộc y sang đây...”

Lê Hoàn biết không thể tiếp tục thương lượng, nên chỉ còn con đường duy nhất là chuẩn bị lực lượng để kháng Tống. Trong khi đó, quân Tống chia làm hai đường thủy bộ tiến vào nước ta năm 981 (Tân Tỵ). Đường bộ do Hầu Nhân Bảo cùng Tôn Toàn Hưng tiến theo ngả Lạng Sơn, còn đường thủy do Trần Khâm Tộ và Lưu Trừng từ mặt biển tiến vào bằng đường sông Bạch Đằng.

Trên đường bộ, Hầu Nhân Bảo tiến đến Chi Lăng (Lạng Sơn), trúng phải kế trá hàng, lọt vào vùng phục kích của quân Việt, và bị bắt giết. Quân Việt phản công mạnh mẽ, quân Tống thiệt hại nặng, hai bộ tướng của Hầu Nhân Bảo là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt. Sau trận Chi Lăng, các lực lượng thủy bộ của nhà Tống đều rút lui.

Tuy chiến thắng, Lê Hoàn vẫn phải sai sứ, dưới danh nghĩa của vua Đinh Toàn, sang nhà Tống năm 982 (Nhâm Ngọ) xin trả lại hai tướng đã bắt được, và xin triều cống. Nhà Tống chỉ phong cho Lê Hoàn làm tiết độ sứ. Mãi đến hơn 10 năm sau vào năm 993 (Quý Tỵ), Lê Hoàn mới sai sứ giả trình bày với vua Tống rằng Đinh Toàn quyết định nhường ngôi cho mình. Tống Thái Tông  (trị vì 976-997) biết việc Lê Hoàn nắm quyền đã lâu, nhưng không có cách gì khác hơn, nên sai sứ sang phong Lê Hoàn làm Tĩnh Hải Quân tiết độ sứ Giao Chỉ Quận Vương.

Lần thứ hai (1076-1077)

Trong thời gian nầy nhà Tống (Sung, 960-1279) đang cai trị Trung Hoa. Vua Tống Thần Công (trị vì 1068-1085) phong cho Vương An Thạch (Wang An Shi) làm tể tướng năm 1069. Vương An Thạch (1021-1086) muốn mưu tìm một chiến công ở ngoài biên cương để hỗ trợ chính sách cải cách ở trong nước của ông ta, chuẩn bị tấn công Đại Việt.

Tại Đại Việt, nhà Lý (1010-1225) đã khá vững vàng. Triều đình vua Lý Nhân Tông (trị vì 1072-1127) biết được tin nầy, liền quyết định ra tay trước. Tháng 11 năm Ất Mão (1075), triều đình cử  Lý Thường Kiệt đánh Khâm Châu và Liêm Châu (thuộc Quảng Đông ngày nay); và cử Tôn Đản đánh Ung Châu (tức Nam Ninh thuộc Quảng Tây ngày nay) tháng Giêng năm Bính Thìn (1076).  Sau khi hạ thành, cả hai ông cho bắt người, lấy của rồi rút lui về Đại Việt.

Tháng Chạp năm Bính Thìn (đầu năm 1077), Tống Thần Tông sai Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ và Triệu Tiết làm Phó chiêu thảo sứ, đem quân sang trả thù. Lý Thường Kiệt chặn quân Tống ở sông Như Nguyệt (sông Cầu chảy qua xã Như Nguyệt, Bắc Ninh).

Quách Quỳ chuyển quân đến sông Phú Lương (khúc sông Hồng ở Thăng Long). Lý Thường Kiệt tiếp đánh, nhưng thế giặc rất mạnh. Máy bắn đá của địch phá chiến thuyền Việt, và làm cho nhiều binh sĩ nước ta tử trận. Sợ binh sĩ nãn lòng, Lý Thường Kiệt phao tin có thần nhân báo mộng và cho bốn câu thơ (bằng chữ Nho):

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Có người dịch là:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Quân lính nghe được những câu thơ nầy, đều hăng hái đánh giặc. Lực lượng nhà Tống bị chặn đứng. Hai bên cầm cự với nhau bất phân thắng bại. Triều đình nhà Lý đề nghị bãi binh. Nhà Tống thấy khó thắng, đồng thời binh sĩ ở lại lâu, không hạp thủy thổ, đành chấp thuận. Như thế, cuộc xâm lăng của nhà Tống đầu năm 1077 bắt nguồn từ việc Lý Thường Kiệt cầm quân gây hấn nhà Tống một năm trước đó.

Lần thứ ba (1258)

Phía tây bắc Trung Hoa, tại Mông Cổ, đại hãn Mông Kha (Mangu, trị vì 1251-1259) cử em là Hốt Tất Liệt (Qubilai) cầm quân tấn công Trung Hoa năm 1251. Hốt Tất Liệt sai đại tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqadai), cầm một cánh quân đánh chiếm nước Đại Lý ở Vân Nam năm 1257. Ngột Lương Hợp Thai sai sứ sang yêu cầu Đại Việt thần phục Mông Cổ, nhưng vua Đại Việt lúc đó là Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258) không chịu.

Ngột Lương Hợp Thai liền theo đường sông Thao, tiến quân đánh nước Việt tháng 12 năm Đinh Tỵ (qua năm 1258). [Sông Thao là tên gọi đoạn sông Hồng từ biên giới Hoa Việt đến ngã ba sông Hồng và sông Đà.] Không chịu nổi sức tấn công vũ bão của quân Mông Cổ, Trần Thái Tông bỏ kinh đô Thăng Long rút về Hưng Yên, cách Thăng Long khoảng 60 km về phía nam. Quân Mông Cổ chiếm Thăng Long, cướp phá giết hại người Việt không kể già trẻ lớn nhỏ.

Trước thế nguy, Trần Thái Tông hỏi ý kiến của Trần Thủ Độ nên hòa hay chiến. Trần Thủ Độ cương quyết trả lời: “Đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo.” Chẳng bao lâu, quân Mông Cổ không quen thời tiết nước ta, bị bệnh tật mỏi mệt. Trần Thái Tông ra lệnh phản công, đánh đuổi quân Mông Cổ về lại Trung Hoa.

Lần thứ tư (1285)

Năm 1259, Mông Kha từ trần. Hốt Tất Liệt được hội đồng quý tộc Mông Cổ bầu lên làm đại hãn năm 1260. Hốt Tất Liệt tức Nguyên Thế Tổ (trị vì 1260-1294), đổi quốc hiệu là Nguyên (Yuan), đem quân xâm chiếm hoàn toàn nước Trung Hoa vào năm 1279.[1]

Trong khi đó, tại nước ta, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng, lên làm thái thượng hoàng năm 1258 (Mậu Ngọ). Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông (trị vì 1258-1278). Thượng hoàng Thái Tông từ trần năm 1277 (Đinh Sửu). Thánh Tông lên làm thái thượng hoàng, và nhường ngôi cho thái tử Trần Khâm năm 1278 (Mậu Dần) tức Trần Nhân Tông (trị vì 1278-1293).

Nguyên Thế Tổ sai sứ là Sài Thung (Chai Chong) sang Đại Việt cuối năm 1278, hỏi vua Trần Nhân Tông tại sao không xin phép nhà Nguyên mà tự tiện lên ngôi? Sài Thung còn buộc nhà vua phải sang chầu hoàng đế nhà Nguyên mới được yên việc. Trần Nhân Tông tiếp sứ tử tế, nhưng cương quyết không chịu sang chầu nhà Nguyên.

Năm 1282 (Nhâm Ngọ), nhà Nguyên cử sứ sang nói rằng nếu vua nhà Trần không sang Trung Hoa, thì cho người đại diện sang chầu. Trần Nhân Tông cử chú họ là Trần Di Ái cầm đầu phái đoàn sang triều đình nhà Nguyên. Nguyên Thế Tổ lập tòa tuyên phủ ty, đặt quan để sang giám trị các châu huyện nước ta. Nhân Tông không nhận, trả họ về Trung Hoa. Nguyên Thế Tổ liền phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, và sai Sài Thung đem 1.000 quân, hộ tống Trần Di Ái về nước. Sài Thung đi vào bằng đường Lạng Sơn. Quân nhà Trần chặn đánh; Sài Thung bị bắn mù một mắt, phải quay về nước, còn Trần Di Ái bị bắt.

Lúc đó, Nguyên Thế Tổ muốn bành trướng xuống Đông Nam Á, nhân cơ hội nầy, phong cho con là Thoát Hoan (Toyan) làm Trấn Nam Vương, lấy cớ mượn đường xuống Chiêm Thành, đem quân tấn công nước Việt tháng 12 năm Giáp Thân (qua năm 1285). Lần nầy quân Nguyên tấn công bằng hai đường: Thoát Hoan từ phía bắc đánh xuống, Toa Đô (Sogatu) đã qua đánh Chiêm Thành bằng đường biển từ năm 1282, nay quay ngược trở lên đánh Đại Việt.

Thoát Hoan dẫn quân qua ải Chi Lăng (Lạng Sơn), nhắm Thăng Long trực chỉ. Tướng Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Vương) lui về Vạn Kiếp (Hải Dương, nơi sông Lục Nam và sông Thương gặp nhau). Trần Nhân Tông cho người mời Trần Quốc Tuấn đến bảo: “Thế giặc mạnh như vậy, ta hãy chịu hàng để cứu muôn dân.”  Trần Quốc Tuấn trả lời: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước hãy hàng.”

Quân Mông Cổ đánh hạ Vạn Kiếp, tiến chiếm Thăng Long. Trần Quốc Tuấn rước vua về phía nam, xuống Thanh Hoa (sau nầy là Thanh Hóa). Toa Đô từ Chiêm Thành đem quân tiến lên, bị Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (em vua Thánh Tông) chặn đánh ở cửa Hàm Tử (Đông An, Hưng Yên). Trần Quốc Tuấn liền đề nghị nhân đà thắng lợi nầy, tung quân khôi phục kinh thành.  Trần Nhân Tông sai thượng tướng Trần Quang Khải (em vua Thánh Tông, anh của Nhật Duật) cùng với Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, đem quân từ Thanh Hoa đi vòng theo đường biển, ngược sông Hồng tiến đánh quân Mông Cổ tại bến Chương Dương (khu vực Thăng Long), rồi lên bộ bao vây thành Thăng Long. Thoát Hoan thua chạy lên Kinh Bắc. Trong khi đó, Trần Quốc Tuấn đánh Toa Đô tại Tây Kết (vùng Hưng Yên ngày nay). Toa Đô bị giết, Ô Mã Nhi (Omar) bỏ trốn. Trần Quốc Tuấn tiếp tục phản công, sai hai tướng Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão phục binh đánh tan quân Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, trước khi Thoát Hoan trốn về nước.

Lần thứ năm (1288)

Tức giận về sự thất bại vừa qua, Nguyên Thế Tổ cử Thoát Hoan một lần nữa cầm quân qua đánh phục thù vào tháng 11 năm Đinh Hợi (1287). Quân nhà Nguyên tiến vào nước ta bằng ba hướng: ở giữa, Thoát Hoan tiến xuống Lạng Sơn; phía tây, một cánh quân từ Vân Nam theo đường sông Hồng tràn vào, do Ái Lỗ (Aruc) chỉ huy; và phía đông do Ô Mã Nhi đi trước, vượt biển Đông tiến vào sông Bạch Đằng. Theo sau có Trương Văn Hổ tải 17 vạn thạch lương cung cấp cho quân sĩ.

Lực lượng nhà Trần vẫn do Trần Quốc Tuấn tổng chỉ huy. Thoát Hoan chiếm Vạn Kiếp, sai Ô Mã Nhi theo sông Lục Đầu đánh xuống Thăng Long. Thượng hoàng cùng vua Trần Nhân Tông phải vào Thanh Hoa lánh nạn. Quân Mông Cổ đốt phá Thăng Long rồi rút lui về Vạn Kiếp.

Ô Mã Nhi đem chiến thuyền trở ra biển đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Ngang qua Vân Đồn (Quảng Yên, nay là Vân Hải, Quảng Ninh), Trần Khánh Dư chặn đánh, nhưng quân Việt bị thua. Gặp được thuyền lương, Ô Mã Nhi cùng Trương Văn Hổ quay trở vào đất liền. Rút kinh nghiệm vừa qua, Trần Khánh Dư để cho Ô Mã Nhi mở đường đi trước, đợi đến khi Trương Văn Hổ tải lương theo sau, Trần Khánh Dư mới đổ phục binh, cướp hết lương thực và khí giới.  Trương Văn Hổ bỏ trốn về Trung Hoa.

Quân Nguyên càng ngày càng cạn lương thực. Thoát Hoan kiếm cách cầu viện triều đình nhà Nguyên, nhưng Trần Quốc Tuấn đã cho chặn các đường giao thông ở Lạng Sơn. Thoát Hoan liền quyết định rút quân. Tháng 3 năm Mậu Tý (1288) Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi xuôi sông Bạch Đằng, ra biển về trước. Trần Quốc Tuấn theo kế Ngô Quyền trước kia, sai Nguyễn Khoái dùng cọc gỗ đẽo nhọn rồi bịt sắt và cắm giữa dòng sông. Nguyễn Khoái lừa Ô Mã Nhi đến chỗ phục binh có đóng cọc, đổ quân tấn công khi thủy triều xuống. Trần Quốc Tuấn lại tăng viện, đánh tan chiến thuyền Mông Cổ, và bắt sống Ô Mã Nhi.

Được tin nầy, Thoát Hoan liền theo đường bộ rút quân về Trung Hoa. Dọc đường quân Mông Cổ bị chặn đánh một vài nơi, nhưng cuối cùng Thoát Hoan cũng thoát được. Trần Quốc Tuấn hội các tướng, dẫn quân rước vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông trở về Thăng Long.

Lần thứ sáu (1407)

Năm 1400 (Canh Thìn), đại thần Lê Quý Ly tức Hồ Quý Ly lật đổ vua Trần Thiếu Đế (trị vì 1398-1400), chấm dứt nhà Trần. Nhà Trần bắt đầu từ vua Thái Tông (trị vì 1225-1258) đến vua Thiếu Đế, truyền được mười hai đời, trong 175 năm.

Lê Quý Ly lên làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Đại Ngu, lấy lại họ Hồ là họ của tổ tiên ông, tức Hồ Quý Ly. Làm vua được một năm, Hồ Quý Ly lên làm thái thượng hoàng, nhường ngôi lại cho con là Hồ Hán Thương (trị vì 1401-1407).

Trong khi đó, bên Trung Hoa, Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398) qua đời năm 1398, cháu nội lên kế vị là Minh Huệ Đế (trị vì 1399-1403). Huệ Đế làm vua chẳng được bao lâu thì bị người chú, con của Minh Thái Tổ, lật đổ và thay thế, tức Minh Thành Tổ (trị vì 1403-1424). Minh Thành Tổ là một người đầy tham vọng, còn tham vọng hơn cả Minh Thái Tổ.

Bang giao Việt – Hoa càng ngày càng căng thẳng vì nhà Minh đòi hỏi nhiều điều quá đáng. Năm 1404 (Giáp Thân), một hoàng thân nhà Trần là Trần Khang, dùng đường bộ trốn sang kinh đô Trung Hoa, đổi tên là Trần Thiêm Bình, tự xưng là con của Trần Nghệ Tông, tố cáo Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần và tố cáo những lời trần tình của Hồ Hán Thương là dối trá.

Minh Thành Tổ sai Lý Kỳ sang nước Việt thăm dò. Lý Kỳ sang nắm tình hình, rồi về nước phúc trình cuộc đảo chánh của nhà Hồ. Hồ Hán Thương gởi biểu qua nhà Minh tạ tội, và xin đón Thiêm Bình về làm vua. Năm 1406 (Bính Tuất) Minh Thành Tổ sai tướng Hàn Quan, đem năm ngàn quân hộ tống Trần Thiêm Bình về nước. Trần Thiêm Bình vừa về đến biên giới, liền bị Hồ Hán Thương ra lệnh bắt giết. Hồ Hán Thương cử Trần Cung Túc cầm đầu phái bộ sang Trung Hoa biện bạch về sự giả trá của Trần Thiêm Bình. Phái bộ bị nhà Minh giữ lại không cho về.

Tháng 9 năm đó (Bính Tuất), Minh Thành Tổ cử Chu Năng làm đại tướng, cùng hai phó tướng là Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân sang xâm lăng nước ta. Trước khi qua biên giới, Chu Năng bị bệnh từ trần, Trương  Phụ được cử lên  thay. Quân Minh tiến xuống thành Đa Bang (Sơn Tây), một đồn lũy được Hồ Hán Thương cho xây năm 1405 (ất dậu), làm tiền đồn bảo vệ Thăng Long.  Trương Phụ và Mộc Thạnh chia nhau hai mặt tấn công Đa Bang. Khi quân Việt dùng voi phản công, quân Minh dùng hỏa pháo bắn lại. Voi sợ lửa bỏ chạy. Thành Đa Bang thất thủ, đưa đến việc thất thủ Thăng Long.

Hồ Nguyên Trừng, con trai đầu của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương, đem quân chặn người Minh ở sông Mộc Phàm (Mộc Hoàn, Hà Nam ngày nay), nhưng bị thua phải lui về cửa biển Muộn Hải, Nam Định. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng các quan bỏ chạy vào Thanh Hóa. Quân Minh đuổi theo. Hai bên gặp nhau ở Lỗi Giang, một phân lưu của sông Mã (Thanh Hóa). Quân nhà Hồ thua nữa. Hồ Quý Ly cùng hai con chạy vào Nghệ An. Tháng 5 năm Đinh Hợi (1407), quân Minh bắt được Hồ Quý Ly ở cửa biển Kỳ La (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), và bắt Hồ Hán Thương ở núi Cao Vọng (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), cùng toàn bộ gia đình họ Hồ. Quân Minh không giết cha con Hồ Quý Ly mà chỉ giải về Trung Hoa.

Cần chú ý là khi xâm lăng nước Việt lần nầy, Minh Thành Tổ đã đưa ra cho các tướng viễn chinh ba chỉ dụ đề ngày 21-8-1406, 16-6-1407 và 24-6-1407 căn dặn và nhắc nhở các tướng Minh  thi hành chính sách đồng hóa của nhà Minh và tiêu diệt toàn bộ văn hóa nước Việt. Chẳng những quân Minh vơ vét của cải, vàng ngọc, mà còn tịch thu gần như toàn bộ sách vở văn chương, học thuật, tư tưởng và cả giới trí thức cũng như nghệ nhân người Việt đem về Trung Hoa. Đây là chính sách đồng hóa của nhà Minh trên toàn cõi đế quốc của họ (Sẽ viết trong bài tiếp).

Lần thứ bảy (1788)

Nguyên vào năm 1786 (Bính Ngọ), Nguyễn Huệ dẫn quân Tây Sơn ra Bắc lần thứ nhất, đánh tan quân Trịnh, tỏ ý phù Lê. Trong khi quân Tây Sơn còn ở Bắc hà, vua Lê Hiển Tông (trị vì 1740-1786) từ trần, cháu đích tôn lên thay là Lê Chiêu Thống (trị vì 1787-1788). Khi quân Tây Sơn rút về, họ Trịnh nổi lên trở lại. Lê Chiêu Thống viết thư nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh, một cựu tướng nhà Lê, nay đã đầu quân theo Tây Sơn, đang đóng ở Nghệ An, ra Thăng Long, giúp diệt trừ họ Trịnh.

Chụp lấy thời cơ, Nguyễn Hữu Chỉnh đánh đuổi nhanh chóng quân chúa Trịnh, và trở nên chuyên quyền không khác gì họ Trịnh. Được tin nầy, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ sai tướng Võ Văn Nhậm cùng với Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh vào cuối năm 1787 (Đinh Mùi). Hữu Chỉnh bị bắt giết, vua Lê Chiêu Thống bỏ trốn. Võ Văn Nhậm đặt Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận, chú của Chiêu Thống và là anh của bà Ngọc Hân (vợ Nguyễn Huệ), lên làm giám quốc, đứng đầu triều đình nhà Lê.

Vua Chiêu Thống trốn lẩn quẩn ở vùng Lạng Giang. Mẹ của vua Chiêu Thống (hoàng thái hậu) bồng con của nhà vua chạy sang Long Châu (Trung Hoa) cầu cứu nhà Thanh (1644-1911). Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị trình lên vua Thanh Cao Tông tức Càn Long (Ch’ien-lung / Qianlong, trị vì 1736-1795) rằng đây là cơ hội thuận tiện, mượn cớ giúp Lê Chiêu Thống để xâm chiếm “An Nam”. Vua Càn Long, liền ra lệnh cho Sĩ Nghị động binh bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam tiến đánh Đại Việt tháng 10 năm Mậu Thân (1788). Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo, vào nước ta bằng các đường Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn.

Trước sức tiến quân ồ ạt của Tôn Sĩ Nghị, Ngô Văn Sở theo kế hoạch của Ngô Thời Nhậm, một mặt cho người đưa thư đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, vừa để kéo dài thời gian, vừa để nhử địch, một mặt khác bỏ ngỏ Thăng Long, rút quân về Tam Điệp ở Ninh Bình, bảo toàn lực lượng, chờ viện binh của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.

Tôn Sĩ Nghị tiến quân đến Kinh Bắc (Bắc Ninh). Vua Chiêu Thống ra đón tiếp và cùng Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long ngày 20-11-mậu thân (17-12-1788). Hai ngày sau, 22-11 (19-12), Tôn Sĩ Nghị làm lễ tấn phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc vương.

Được tin nầy, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân ngày 25-11 năm Mậu Thân (22-12-1788), lấy hiệu là Quang Trung (trị vì 1788-1792), rồi tự mình đem quân tiến ra Bắc, nhanh chóng đánh đuổi tan tác quân viễn chinh nhà Thanh, tạo nên chiến thắng Đống Đa lịch sử (mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu, 1789), giải phóng Thăng Long và giữ vững bờ cõi nước ta.

Kết luận

Như thế, từ năm 939 (Ngô Quyền xưng vương) cho đến năm 1788 (Quang Trung xưng vương), trong vòng 850 năm, các triều đình Trung Hoa đã gởi quân xâm lăng nước Việt chúng ta tất cả sáu lần.  Chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:

1) Khi nào nước Việt có sự thay đổi triều đại, hay tranh chấp quyền lực nội bộ, hay nước Việt suy yếu, các vua Trung Hoa liền lợi dụng thời cơ để xâm lăng, nhất là khi con cháu của các triều đại bị truất phế chạy qua Trung Hoa cầu cứu.

2) Dù lúc tấn công nước Việt, lực lượng Trung Hoa rất mạnh, như dưới thời nhà Nguyên (Mông Cổ), nhà Minh, hay nhà Thanh, dù người Việt lúc đầu thất bại và phải rút lui, nhưng tổ tiên chúng ta luôn luôn cương quyết đánh đuổi xâm lăng Trung Hoa, dù phải kháng chiến gian khổ để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc.

3) Trong sáu lần Trung Hoa tấn công nước ta, lần đầu tiên do triều đình Trung Hoa muốn trả đũa việc Lý Thường Kiệt đem quân tấn công Trung Hoa trước. Từ kinh nghiệm nầy, sau đời nhà Lý, các triều đại từ nhà Trần trở đi, tuy cương quyết duy trì chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc, nhưng không khiêu khích, để tránh bị bắc phương trả đũa. Chỉ khi nào bắc phương xâm lăng, thì Đại Việt chống trả. Đặc biệt là sau khi đánh đuổi quân Trung Hoa về nước, Đại Việt vẫn gởi sứ thần sang Trung Hoa ngoại giao, mà ngày xưa gọi là triều cống, để tránh tái diễn chiến tranh.

4) Những kinh nghiệm chống quân xâm lược Trung Quốc đã được Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, trước khi từ trần năm 1300, tóm lược với vua Trần Anh Tông: “Đại khái quân giặc cậy vào trường trận, quân ta cậy vào đoản binh, đem đoản binh đánh lại trường trận, là việc thường trong binh pháp. Nhưng cần phải xét: nếu thấy quân giặc tràn sang như gió, như lửa, thì thế giặc có thể dễ chống cự được; nếu giặc dùng cách chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay, thì mình phải dùng tướng giỏi, phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà chế biến cho đúng, làm thế nào thu hút được binh lính như cha với con một nhà, mới có thể dùng để chiến thắng được.  Vả lại bớt dùng sức dân để làm cái kế thâm căn cố đế, đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn.[2]

Như thế, theo Trần Hưng Đạo, Trung Hoa xâm lăng nước ta bằng hai cách: Thứ nhất, quân Trung Hoa “tràn sang như gió, như lửa”. Thứ hai, quân Trung Hoa “chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay”.

Trong hai cách nầy, cũng theo Trần Hưng Đạo, cách thứ nhất, tức quân Trung Hoa sang đánh nước ta như vũ bão, thì “có thể dễ chống cự được”. Ngược lại, nếu Trung Hoa tiến quân từ từ vào nước ta, theo kiểu tằm ăn dâu, chúng ta sẽ khó chống đỡ hơn. Trong trường hợp đó, theo Trần Hưng Đạo, muốn chiến thắng địch thủ thì chúng ta phải tạo nội lực quốc gia bằng cách xây dựng tình đoàn kết dân tộc (như cha với con một nhà), và nuôi dưỡng sức dân (bớt dùng sức dân) để làm kế lâu dài mà giữ nước. Tuy nhiên, muốn tạo sự đoàn kết toàn dân và muốn nuôi dưỡng sức dân, thì người dân phải được hưởng tự do, được công bình trước pháp luật, mới cảm thấy có trách nhiệm bảo vệ đất nước, hăng hái bảo vệ độc lập dân tộc.

Vào giữa thế kỷ 20, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa cầu cứu Mao Trạch Đông, để đánh thực dân Pháp. Thực dân Pháp là dân da trắng, tuy khai thác và bóc lột nhưng không ở lại sinh sống tại Việt Nam. Nhờ Trung Cộng đánh Pháp không khác gì nhờ kẻ cướp đuổi kẻ trộm. Kẻ trộm bỏ chạy thì tên ăn cướp vào chiếm nhà. Năm 1939, khi còn ở Trung Hoa, Hồ Chí Minh đã từng đọc tài liệu của Đảng Cộng sản Trung Hoa, theo đó Mao Trạch Đông viết rằng Việt Nam là một nước phụ thuộc Trung Hoa.[3] Mời Trung Cộng qua Việt Nam, chính là Hồ Chí Minh đã rước voi giày mả tổ.

Tập đoàn lãnh đạo cộng sản Trung Hoa (CSTH) chủ trương bành trướng, còn hơn cả các triều đình quân chủ Trung Hoa ngày xưa: thôn tính Tây Tạng, xâm lăng Tân Cương, đánh chiếm hải đảo… Năm 1979, CSTH mở cuộc tấn công đại quy mô, dạy cho CSVN một bài học, nhưng gặp phản ứng không thuận lợi. Rút kinh nghiệm từ đó, hiện nay CSTH quay qua thực hiện kế hoạch “tằm ăn dâu”. Dần dần CSTH chiếm đất phía bắc Việt Nam (ải Nam Quan), chiếm biển phía đông Việt Nam (Vịnh Bắc Việt), lấn núi phía tây Việt Nam (Trường Sơn), nghĩa là bao vây Việt Nam ba mặt bắc và đông, tây. Cộng sản Trung Hoa thực hiện được kế hoạch tằm ăn dâu phần lớn là do sự nội ứng tiếp tay của CSVN. Chuyện biên giới, chuyện biển cả, chuyện Trường Sơn, có thể thương thuyết cả ngàn năm mây bay cũng chưa xong, chuyện gì vội vã ký hiệp ước nhượng đất, nhượng biển, rồi nhượng luôn cả quyền khai thác Trường Sơn cho CSTH?

Tình trạng nầy thật nguy hiểm cho tương lai Việt Nam. Hy vọng những kinh nghiệm lịch sử của người xưa, nhất là những lời Đức Trần Hưng Đạo đã dặn dò vua Trần Anh Tông năm 1300, có thể còn hữu ích cho người Việt, nhằm tìm cách phòng bị và chống lại mối đe dọa thường trực từ Bắc phương.

2009 © Trần Gia Phụng (phung trangia@yahoo.com)

2009 © talawas blog


[1] Khi Hốt Tất Liệt xâm lăng Trung Hoa, đặt Trung Hoa dưới ách thống trị của Mông Cổ năm 1279 nghĩa là mặc nhiên sáp nhập Mông Cổ vào Trung Hoa. Năm 1368, Chu Nguyên Chương lật đổ nhà Nguyên (Mông Cổ), lên làm vua, tức Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398), lập ra nhà Minh. Nhà Minh cai trị luôn Mông Cổ. Trường hợp nầy cũng xảy ra với nhà Thanh ở Mãn Châu. Cuối đời Minh, Lý Tự Thành nổi lên ở Thiểm Tây, tự xưng vương năm 1643. Năm sau (1644), Lý Tự Thành kéo quân chiếm Bắc Kinh, vua Minh Hoài Tông (trị vì 1628-1644) tự tử. Tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế thông đồng với người Mãn Thanh (nhà Thanh) ở phía bắc, để dẹp Lý Tự Thành.  Lý Tự Thành thua chạy, vua Thanh vào Bắc Kinh làm lễ đăng quang tức Thanh Thế Tổ, niên hiệu Thuận Trị (trị vì 1644-1661). Từ đó, nhà Thanh làm chủ Trung Hoa, Mãn Châu tự động sáp nhập vào Trung Hoa. Khi nhà Thanh sụp đổ sau cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, đất Mãn Châu cũng bị xem là thuộc Trung Hoa.

[2] Quốc sử Quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 558-559

[3] Nxb. Sự Thật, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua [tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam, không đề tên tác giả], Hà Nội: 1979, tr. 16

Phản hồi

9 phản hồi (bài “Trần Gia Phụng – Đại nạn Trung Hoa thời Trung sử”)

  1. Mặc Lý nói:

    Tôi thích cái u mặc của bác Tích. Và không thể không đồng ý với bác về phản hồi dưới.

  2. Trần Văn Tích nói:

    Thưa Ông/Bà P,
    Cụ Phan Bội Châu gặp may ông/bà ạ. Nếu Đông du thành công, nếu Cụ Phan không yên nghỉ ở Bến Ngự mà yên ngự ở… Ba Đình thì Cụ cũng sẽ mang tội rước voi.
    Thôi thì nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt: chơi với Tàu là chơi dại; chơi với Tây, với Mỹ khá hơn. Mời ông/bà đọc ông Nguyễn Việt Thanh dẫn lời cố học giả Phạm Việt Châu trong phản hồi bài “Thư ngỏ của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông…”.

  3. P nói:

    Tôi không nghĩ chỉ dựa vào việc mời HCM dựa vào Trung Cộng để đánh thực dân Pháp thì có thể khẳng ông rước voi về giày mả tổ.

    Thứ nhất, về mặt ngữ nghĩa, “rước voi về giày mả tổ” thường dùng để chỉ việc cầu cứu người nước khác (trong lịch sử VN là TQ) vào giải quyết những mâu thuẫn trong nước, những mâu thuẫn nội bộ của dân tộc. Còn dựa vào một lực lượng khác để dành lại độc lập dân tộc thì nói “rước kẻ cướp vào đánh kẻ trộm” còn đúng, chứ “rước voi về giày mả tổ” thì không chính xác.

    Thứ hai, tôi thấy đó là một trong những phương sách thời bấy giờ không chỉ có mỗi ông Hồ Chí Minh sử dụng. Phan Bội Châu và phong trào Đông Du thì sao? Những người trong nước lợi dụng sự có mặt của người Nhật để chống Pháp thì sao? Wikipedia viết về Phan Bội Châu như sau:

    “Năm 1905, ông cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc rồi sang Nhật Bản để gặp gỡ các nhà cách mạng Nhật và Trung Quốc và cầu viện trợ tài chính cho phong trào do ông thành lập.”

    Quan hệ của ông Phan Bội Châu với các “nhà cách mạng TQ” và ông Hồ Chí Minh cũng với “các nhà cách mạng TQ” (phe ông) khác nhau và giống nhau như thế nào? Phan Bội Châu có rước voi về giày mả tổ không?

  4. Trần Văn Tích nói:

    Thưa ông/bà trangiang,
    Tôi xin trình bày lại ý kiến của mình cho rõ ràng và đơn giản.
    Ông Trần Gia Phụng viết :”Mời Trung Cộng qua Việt Nam, chính là Hồ Chí Minh đã rước voi giày mả tổ.”
    Ông có đồng ý là chính ông Hồ đã rước voi giày mả tổ không?
    Ông Trần Gia Phụng viết :”Thực dân Pháp là dân da trắng, tuy khai thác và bóc lột nhưng không ở lại sinh sống tại Việt Nam.” Khi bảo người Pháp khai thác và bóc lột, ông Trần Gia Phụng đã nói đến thành phần phu mỏ, phu đồn điền v.v..nghèo khổ bị người da trắng khai thác và bóc lột rồi (tất nhiên còn có những hình thức khai thác và bóc lột khác). Nay ông đem chuyện coolies ra nói, e có phần trùng ý với ông Phụng chăng? Hay ông muốn biểu đồng tình với ông Phụng?
    Ý chính của câu này, ai cũng thấy, nằm ở mấy chữ “không ở lại sinh sống tại Việt Nam”. Hiểu như thế thì thấy rằng “thực dân” da vàng đã ở lại sinh sống tại Việt Nam. Thế thôi.

  5. trangiang nói:

    Thưa ông Trần Văn Tích:

    Nhờ ông giải thích lại rõ, tôi không hiểu ý ông đoạn này: “Trước hết, ông Phụng không nói chỉ một mình miền Bắc rước voi, ông nói miền Bắc rước voi. trangiang có đồng ý miền Bắc đã rước voi không? Huống chi miền Nam không rước voi mà voi muốn vô miền Nam đã giết hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm.”

    Còn về ý : “Pháp không có mang công nhân qua sống thành làng, Pháp không có cho cố vấn sang chiếm cả một khu ở ngay Hà Nội để sinh hoạt”.

    Hẳn ông cũng đã biết, thực dân Pháp không mang công nhân sang sống thành làng vì có đã có coolies. Coolies là ai, coolies sống như thế nào thì có lẽ cũng không cần phải sử gia hay nhà ngôn ngữ mới biết.

    Thực dân Pháp không chiếm ngay cả một khu ở Hà Nội (và không chỉ ở Hà Nội) thì lấy đâu ra những Nhà thờ Lớn, những tòa biệt thự đẹp trên phố Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền … còn đến ngày nay ?

    Ý cuối cùng của ông, tôi không bình luận bởi tôi không thích đặt giả thiết cho lịch sử. Nếu tôi nói “chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không kém cỏi đến thế thì số phận nước Việt Nam đã khác”, ông có chịu không ?

    Cái gì đã quá thì đã quá, vấn đề là làm thế nào với hiện tại để tương lai tốt đẹp hơn.

  6. Trần Văn Tích nói:

    Độc giả trangiang hỏi ông Trần Gia Phụng “Thực dân Pháp ở lại sinh sống ở Việt Nam ư?” rồi đề nghị “Ông Phụng xem lại định nghĩa ‘thực dân’ cái đã nhỉ.”
    Tôi không phải là nhà nghiên cứu sử. Và qua phản hồi này tôi cũng chẳng muốn làm nhà ngôn ngữ học. Bởi vậy xin góp ý với độc giả trangiang như sau : ông Phụng nói như thế có nghĩa là khi Pháp cai trị Việt Nam, Pháp không có mang công nhân qua sống thành làng, Pháp không có cho cố vấn sang chiếm cả một khu ở ngay Hà Nội để sinh hoạt (theo lời kể của một bà kiến trúc sư du học Trung cộng về viết mới đây trên các mạng, nhằm bàn về phong thủy sông Nhị núi Nùng).
    trangiang cũng bảo ông Phụng là hãy tự đập vào mặt mình khi dùng thành ngữ “rước voi giày mã tổ” để chỉ chiến lược dựa vào Trung Cộng của Việt cộng vì miền Nam cũng đã để cho Mỹ rải chất khai quang v.v.. Trước hết, ông Phụng không nói chỉ một mình miền Bắc rước voi, ông nói miền Bắc rước voi. trangiang có đồng ý miền Bắc đã rước voi không? Huống chi miền Nam không rước voi mà voi muốn vô miền Nam đã giết hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm. Hơn nữa, chính ông Hồ đã tự nguyện rước voi ngay từ hôm ông eurêka ra chủ nghĩa cộng sản tại một nơi nào đó bên Nga Xô.
    Tôi lẩn thẩn nghĩ như thế này. Việt Nam từng có cơ hội được hai anh da trắng chiếu cố. Nhà Nguyễn không biết lợi dụng anh thứ nhất (theo kiểu ỷ Pháp cầu tiến bộ của cụ Phan Tây Hồ chẳng hạn) nên mất nước gần trăm năm. Đến thời hiện đại, có anh da trắng thứ hai mon men tới chơi, người cộng sản
    bèn anh hùng đánh chí chết, đánh cho nó cút luôn. Nó cút thực và Việt Nam được toàn thế giới ngưỡng mộ. Giá như Việt Nam không làm ăn như vậy mà theo cách khác thì có phải hay hơn không? Được chi cái tiếng anh hùng? Nếu nó chưa cút thì có phải nay cũng đỡ rét không?

  7. trangiang nói:

    Bài của ông Phụng trích dẫn một lời đúc kết quý báu của Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn, không có gì phải bàn.

    Nhưng thiển nghĩ nhận xét của ông “Như thế, cuộc xâm lăng của nhà Tống đầu năm 1077 bắt nguồn từ việc Lý Thường Kiệt cầm quân gây hấn nhà Tống một năm trước đó.” chưa chuẩn xác. Ít nhất, theo các quý vị Trần Trọng Kim (Việt Nam Sử Lược), Hoàng Xuân Hãn (Lý Thường Kiệt: Lịch sử ngoại giao và tông giáo Triều Lý), Đào Duy Anh (Đất nước Việt Nam qua các đời) và Lê Thành Khôi (Histoire du Vietnam: des origines à 1858), Lý Thường Kiệt tấn công trước là để chặn thế mạnh của giặc. Nhà có Tống đã có ý đồ xâm lăng từ trước khi Lý Thường Kiệt đánh lưỡng Quảng.

    Điểm nữa, ông Phụng viết “Thực dân Pháp là dân da trắng, tuy khai thác và bóc lột nhưng không ở lại sinh sống tại Việt Nam. Nhờ Trung Cộng đánh Pháp không khác gì nhờ kẻ cướp đuổi kẻ trộm. Kẻ trộm bỏ chạy thì tên ăn cướp vào chiếm nhà. Năm 1939, khi còn ở Trung Hoa, Hồ Chí Minh đã từng đọc tài liệu của Đảng Cộng sản Trung Hoa, theo đó Mao Trạch Đông viết rằng Việt Nam là một nước phụ thuộc Trung Hoa.[3] Mời Trung Cộng qua Việt Nam, chính là Hồ Chí Minh đã rước voi giày mả tổ.” Ông Phụng đã tỏ rất rõ khí khái của một “bad loser”, nói cuồng bất chấp sự thật.

    Thực dân Pháp không ở lại sinh sống ở Việt Nam ư ? Ông Phụng xem lại định nghĩa “thực dân” cái đã nhỉ. Ông Phụng có vẻ rất biết lịch sử nước nhà từ thế kỷ X dến thế kỷ XVIII, vậy ông có thể chứng minh nhận xét của Mao Trạch Đông là sai được không? Mời ông đọc Gabriel Déveria (Histoire des relations de la Chine avec l’Annam) để biết “ngày xưa gọi là triều cống” chính xác đến thế nào, chứ không đơn thuần chỉ là “gởi sứ thần sang Trung Hoa ngoại giao” như ông Phụng tưởng tượng.
    Câu “rước voi giày mả tổ” tôi để ông Phụng tự đập vào mặt mình nhé nếu ông Phụng chưa đủ tỉnh để nhớ ra quân đội Mỹ đã rải bao nhiêu bom đạn, tưới bao nhiêu dioxin xuống mảnh đất Việt Nam.

    Chính thể cầm quyền ở Việt Nam hiện tại thối nát, cần phải triệt bỏ, điều này hoàn toàn đúng. Tôi ủng hộ tất cả các tiếng nói đối lập, đòi tự do ngôn luận và công bằng, minh bạch. Nhưng bản thân những tiếng nói đó trước tiên cũng phải công bằng.

  8. mai viet tu nói:

    Bài viết của chú Phụng hay quá mặc dù cái nhìn rất đơn giản nhưng súc tích và thực tiễn (pragmatic view). Sự đối đầu trong lịch sử chỉ dựa trên gần những binh pháp chiến thuật đấu tranh. Chủ nghĩa Việt Nam dân tộc đã là một tụ điểm chiến lược cản bước thành công của một sức mạnh dựa trên chiến thuật phong kiến độc tài trong cả ngàn năm qua. CNXH/CNCS là một chiến lược mới của Trung Hoa để giữ vững cho những dân tộc khác tiếng nói trong nước cùng hướng về cùng một ngôn ngữ và đồng thời từ từ nuốt từng dân tộc nhỏ khác. Dân VN đã và đang đánh một chiến trận theo chiến lược của người thì hậu quả có thể đoán được như thế nào rồi. Có những người quên đi chân lý căn bản đã nghĩ rằng xử dụng CNXH/CNCS để nương theo tìm lối thoát cho dân tộc; nhưng sự thật là đưa dân tộc vào cánh cửa mà đối phương đã muốn mình vào. Nhà văn Phạm Đình Trọng gần đây đã nhìn thấy điều này. Những cái võ trang nhân dân, trí thức giúp nước, hội nghị biển v.v. chỉ là những động tác bị động và vô tình cũng cố cho cái chiến lược mà sẽ làm cho tụ điểm VN dân tộc tan rã.

  9. Hoàng Trường Sa nói:

    “Vả lại bớt dùng sức dân để làm cái kế thâm căn cố đế, đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn.” (lời dạy về kế sách giữ nước của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn)

    Câu này tôi nghe ĐCSVN nhắc đi nhắc lại ra rả trong hàng chục năm qua, chỉ khác một chút là thay vì nói “bớt dùng sức dân để làm cái kế thâm căn cố đế”, thì họ lại nói “khoan sức dân để làm cái kế lâu dài”. Nói là chỉ để nói cho xôm ra tuồng “Đảng ta” cũng hiểu và biết thực hiện lời giáo huấn của Đức Thánh Trần. Nhưng thực tế thì hoàn toàn trái ngược. Từ thời ông Hồ còn sống cho đến nay, ĐCSVN đã bóc lột nhân dân ta tận xương tủy, trong khi những người trong Bộ Chính trị thì sống sung sướng, con cháu, dòng tộc được Đảng chiếu cố từ lúc sơ sinh tới tuổi bạc đầu (như cụ “tổng” Nông Đức Mạnh con “Bác” hay ông Đào Duy Quát con “cụ” cố Đào Duy Tùng chẳng hạn). Với giai cấp lãnh đạo thì Đảng lo lắng chăm chút từ bữa ăn tới cái hòm chôn và chỗ chôn (nghĩa trang Mai Dịch) nhưng với dân thì khỏi phải nói nhiều vì Đảng đối xử ra sao, có lẽ ai cũng biết cả rồi, dù Đảng lúc nào cũng nói là “khoan sức dân”.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả