talawas blog

Chuyên mục:

Tưởng Năng Tiến – Giáo sư ở Tây và ở Ta

04/12/2009 | 12:12 sáng | 10 phản hồi

Tác giả: Tưởng Năng Tiến

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Tạp văn
Thẻ:

Tôi chưa bao giờ đi Tây, và cũng chưa bao giờ có ý phiêu lưu đến một nơi xa xôi, lôi thôi, thiếu vệ sinh và thiếu văn minh (tới) cỡ này:

“Người đi mua sắm ngay cả tại các trung tâm mua sắm lớn đều phải trả tiền đậu xe và phải tự trả tiền vào cái máy thật cao lớn gồ ghề. Thủ tục quá ư rườm rà, nhất là đối với những người không đọc được tiếng Pháp thì còn nhiêu khê gấp bội, chẳng hạn trong tiệm mua sắm áo quần, khách phải đi bỏ tiền vào một cái máy đặc biệt để đổi đồng Token rồi bỏ đồng này vào cánh cửa cầu tiêu để cửa mở khi khách cần sử dụng… người đi bộ thường phải cúi mặt xuống nhìn bước đi của mình trên bãi cỏ, trên đường tráng nhựa hoặc lát gạch để tránh giẫm lên những bãi cứt chó…” (Paris, 10 ngày thăm viếng – Nguyễn Văn Thành).

Chỉ nghe kể không cũng đủ ớn chè đậu. Hèn chi, khi đến Hà Nội (để tham dự  Đại hội Việt kiều) giáo sư Trần Thanh Vân đã “khẳng định” với báo Dân Trí rằng:

“… người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn trở về Việt Nam để làm việc. Tôi nói thật người Việt mình sống ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình. Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục ở nước ngoài không được như thế.”

Vợ chồng GS Trần Thanh Vân nhận bằng khen của Chính phủ năm 2008. Nguồn Dân Trí.
Vợ chồng GS Trần Thanh Vân nhận bằng khen của Chính phủ năm 2008. Nguồn Dân Trí.

Điều “khẳng định” này, tiếc thay, không được mọi “người Việt Nam ở nước ngoài” (tận tình) chia sẻ. Theo ông Hoàng Ngọc-Tuấn thì GSTS Trần Thanh Vân là một người “nịnh bợ” và nói năng … như một “con vẹt.”

Nịnh bợ, nghĩ cho cùng, cũng chỉ là một thái độ sống (thường thấy) ở đời thôi. Tôi không hiểu sao ông Hoàng Ngọc-Tuấn lại phản ứng (quá) gay gắt với giáo sư Trần Thanh Vân như thế, trên diễn đàn talawas:

“Đất nước Việt Nam hôm nay cần những nhà khoa học vừa có tài ba vừa có lòng dũng cảm như Andrei Sakharov, chứ không cần những nhà ‘trí thức’ giỏi nói nịnh theo nhà cầm quyền. Sự đàn áp tự do tư tưởng, đời sống văn hoá suy đồi, chất lượng giáo dục thảm hại, sự độc tài, tham nhũng và thối nát của chế độ chính trị ở Việt Nam sẽ còn kéo dài cho đến chừng nào tất cả các tiếng nói trí thức đều đồng thanh nói thật, và không còn một ai nói nịnh, nói hùa theo nó nữa.”

Quan điểm của ông Tuấn, xem ra, rất gần với ông Đỗ Thái Nhiên. Trước khi Đại hội Việt kiều khai mạc (cả  tháng) tác giả này đã viết trên Thông Luận, vào ngày 19 tháng 1 năm 2009, rằng đây chỉ là một thứ đại hội “về hùa” thôi.

Như đã thưa:  tôi chưa bao giờ đi Tây. Tưởng cũng phải nói luôn (cho rõ) là tôi cũng chưa bao giờ đi học. Và vì thế tôi  không dám bàn cãi (hay tranh luận) với bất cứ ai về sự dị biết trong sinh hoạt của quí vị giáo sư ở Tây, hoặc ở ta. Tôi chỉ vì tình cờ được biết vài vị giáo sư đã (có lúc) ở bên Tây, và cũng đã (có thời) trở lại và làm việc với chính quyền cách mạng Việt Nam (bên ta) nên muốn ghi lại dôi dòng về cuộc sống (cũng như ý kiến của họ) cho rộng đường dư luận, thế thôi.

Trước hết, xin nhắc đến giáo sư Trần Đức Thảo. Cuộc đời của ông (ở Tây cũng như ở ta) được tóm gọn như sau, bởi những người đồng thời:

“Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại, tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc xà cừ, mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước, vẫn còn nguyên ở đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô, chắc là những khách quen…”

“Con cháu nhà tôi nó vừa sắm được cái ti vi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây rợ xong, bật lên thấy đang chiếu cảnh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu cái ông Thảo này là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu, bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to, được tặng Huân chương Độc lập hạng Hai. Ông ta sang tận bên Tây mà chết, cả Tây cả ta đều làm lễ truy điệu. Toàn cán bộ cấp cao, có danh giá đến dự.”

“ Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp ‘Pơ-giô con vịt’ mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người…”

“Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nom vất vả thế.. ế.. ế. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái ‘pooc ba ga’, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi nả rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng là Thảo cả đấy, mà Thảo này thì sống cơ cực trần ai – bà cụ chép miệng thương cảm: Một vài năm nay không thấy ông đạp xe ngang qua đây, dễ chết rồi cũng nên…”

“Tôi uống cạn chén rượu, cười góp chuyện: ‘Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu tang lễ trên ti-vi…’. Bà già bĩu môi: ‘Ông đừng cho tôi già cả mà nói lỡm tôi!” [Phùng Quán –  Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo (Việt Nam Thư Quán)].

Cuộc sống của giáo sư Thảo (xem chừng) không được “vui” gì mấy –  nếu xét riêng về mặt cơm áo, hay củi gạo. Tuy nhiên, đối với nhiều vị trí thức thì đây không phải là điều mà họ quan tâm. Tiến sĩ Trần Thanh Vân, qua cuộc phỏng vấn thượng dẫn, rõ ràng là một người không quan tâm nhiều (lắm) về phương diện vật chất. Ông nhấn mạnh đến sự tôn trọng của xã hội và kính phục của sinh viên, đối với các giáo sư. Và cứ theo như nguyên văn lời ông thì “ở nước ngoài không được như thế.”

Thời gian mà giáo sư Trần Thanh Vân (thỉnh thoảng) về Việt Nam để nhận bằng khen hay dự đại hội, xem ra, không được dài cho lắm. Ít nhất thì nó cũng ngắn hơn thời gian, cũng như kinh nghiệm, của vài vị giáo sư khác về vấn đề này:

“Đạo đức không còn được dậy trong trường, và thời buổi này  người ta dậy trẻ nhỏ nhục mạ thầy cô… Trong các đại học, trong các phân khoa, trong mỗi lớp, trong mỗi buổi học, suốt cả năm, trong đám sinh viên luôn có những tay làm do thám…”

“Tôi biết, trong những trí thức tôi là người đang nằm trong tầm ngắm và đang bị công an theo dõi. Tôi biết có vài ‘con chó săn’ đang ở những căn phòng cạnh nhà tôi để có thể để mắt xem ai là những người hay xem chừng thư tín của tôi, nghe ngóng những câu chuyện hay tìm hiểu đài phát thanh nào mà tôi hay thích mở nghe…”

“ Tôi không ngạc nhiên khi thấy một học trò đang chuẩn bị cho cái chết của thầy cũ của mình và thuyết phục những kẻ đấu bò ra cú đòn chí mạng” [Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié – Hanoi 1954-1991: Procès d’un intellectuel. Trans Nguyễn Quốc Vĩ –  Kẻ Bị Mất Phép Thông Công

Hà Nội 1954-1991: Bản án cho một trí thức (Thông Luận Online)].

Ủa, chớ giáo sư Nguyễn Mạnh Tường (lỡ) làm gì mà bị “đì” dữ vậy cà? Câu trả lời cũng tìm được (ngay) trong cuốn tự truyện thượng dẫn: ”Tôi chỉ đơn giản đòi hỏi quyền tự do tư tưởng và chỉ với thế thôi đã trở thành kẻ phản bội, kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản.”

Bỉ nhất thời dã. Thử nhất thời dã.

Hồi đó là một thời. Bây giờ là một thời (đã) khác. Cộng sản Việt Nam không còn muốn “đào tận gốc, trốc tận rễ” bất cứ thành phần nào nữa. Không những thế, họ còn chủ trương “trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất  nước – như đã ghi rõ trong  Nghị quyết 36:

“Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của nước nhà.”

Bản N.Q này được ký vào ngày 26 tháng 3 năm 2004. Theo nhận xét của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng “… từ khi nghị quyết này được ban hành, có nhiều con tim đã vui trở lại!”

Và mỗi con tim biểu lộ niềm vui theo một cách khác nhau. Giáo sư Vũ Đức Vượng tuyên bố: “Nhiều người than phiền, khó chịu về thủ tục hải quan và những cử chỉ thiếu thân thiện ở sân bay. Nhưng họ quên mất một điều rằng chẳng có sân bay nào lại đông vui người thân ra đón như mỗi khi họ trở về VN.”

Còn với giáo sư  Nguyễn Trí Dũng thì “đó là tâm trạng nao nao, xúc động khi được dạo bước một sớm thu trên quảng trường Ba Đình và lắng nghe bản quốc ca trầm hùng vang lên.”

Thiệt là… quá đã!

Để đáp ứng lại tình cảm của quí vị giáo sư này, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn (trong một cuộc nói chuyện với phóng viên báo Tiền Phong, vào hôm 7 tháng 6 năm 2009) cho biết thêm là sẽ có nhiều “khởi sắc” và “đột phá” trong chính sách đãi ngộ Việt kiều.

Thiên hạ đều đã có dịp thấy sự “khởi sắc” và nghe tiếng “đột phá” của chính sách đãi ngộ Việt kiều qua tiếng “hú còi mở đường của xe cảnh sát” khi đưa phái đoàn đi về Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình (vào hôm 21 tháng 11 năm 2009) theo như lời mô tả của giáo sư Nguyễn Hữu Liêm. Tôi trộm nghĩ thêm, rất có thể, chính tiếng “hú còi mở đường” vào ngày hôm đó đã mang lại “nỗi bình an giữa Đại hội Việt kiều.”

Tâm cảm của quí vị giáo sư, như vừa dẫn, quả có khác với thường dân – như hai  ông Hoàng Ngọc-Tuấn và Đỗ Thái Nhiên. Theo thiển ý, chúng ta nên tôn trọng sự khác biệt. Về hùa hay về nguồn, như đã thưa, cũng chỉ là một thái độ sống (thường thấy) ở đời thôi. Nặng lời với nhau làm chi, cho má nó… khi!

Tưởng Năng Tiến

Phản hồi

10 phản hồi (bài “Tưởng Năng Tiến – Giáo sư ở Tây và ở Ta”)

  1. Bắc Phong says:

    cái sướng của các nhà trí thức
    ngoài no cơm ấm cật đã đành
    còn sướng được chiêu đãi trọng vọng
    vì học vấn địa vị công danh

    nhưng tất cả chỉ là dây trói
    người nào khôn thì tự cởi ra
    còn nếu không chỉ sinh dục vọng
    sống trầm luân trong cõi ta bà

    huống chi lại ôm chân chế độ
    vì muốn được khen tặng trao bằng
    thái độ đó là vô liêm sỉ
    có khác gì cái bọn nô quan

    hãy cứ nhìn vào gương mỗi sáng
    hỏi mình có thực sự là mình
    đôi khi cần tự tát vào mặt
    mới nhận ra ý nghĩa nhục vinh

  2. QuangSan says:

    Chuyện nhỏ.
    Cám ơn bạn vantruong đã cho xem, xót xa thật, nhưng ở Việt Nam ngày nay là chuyện nhỏ, nó nhan nhản khắp mọi nơi, có nói đến hay không mà thôi.

    Tôi cũng thắc mắc tại sao Giáo sư Phạm Gia Khải sống dưới khung trời ấy bấy lâu nay mà không hay cái “thủ tục đầu tiên”? Chuyện nhỏ!

    Bao nhiêu người phải trốn khỏi quê hương “chùm khế ngọt”, thế mà khi bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất hay Nội Bài là đi “ót”, dễ ợt, chuyện nhỏ!

    Đừng nói chi đến Giáo sư Trần Đức Thảo nó xa xôi quá, muốn về với quê hương rốt cuộc cũng phải lết qua chết ở xứ người! Thương tâm thật! Lo cải cách ruộng đất trước. Trí thức là chuyện nhỏ!

    Những nhà trí thức và “vô trí thức” vừa qua về hùa dự đại hội Vịt Kiều mà điển hình nhất là các vị vừa hưởng vừa la: Vũ oai oái sân bay vui nhộn, Búa Liềm mất dấu huyền hoặc, Trần Xanh Mây về đây sung sướng hơn bên Tây bên Mỹ, cứ anh dũng tiến lên theo tiếng “còi hụ” để được cái vinh quang như Giáo sư Khải! Nhào dô! Chuyện nhỏ!

  3. vantruong says:

    Xin nhà nước vĩ đại bao la và các nhà trí thức cao cả yêu nhà nước để ý chiếu cố giải quyết giúp cho chuyện này:

    http://www.vietnamnet.vn/bandocviet/theodauthu/200912/Voi-dan-con-khong-duoc-huong-chi-mot-anh-hung-882320/

    Cám ơn lắm lắm.

  4. Hoàng Linh Vương says:

    Thưa bác Tưởng Năng Tiến,

    Chính ở cái gọi là „thái độ sống“ này nên mới có chuyện „về hùa“ hay „về nguồn“.

    Xã hội chúng ta phân biệt rất rõ ràng giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân.

    Người quân tử ở ngoài xã hội được cho là người tốt vì biết tôn trọng và hy sinh cho người chung quanh, được gọi là có lương tâm. Trong thể chế, có lương tâm được thể hiện qua sự bình đẳng là dân chủ, biết chấp nhận phân chia quyền lực (mục đích để tránh lạm quyền), và tôn trọng tự do của người khác như đi đứng, ăn nói… v…v…
    Kẻ tiểu nhân ngược lại bị xã hội coi là kẻ xấu vì không tôn trọng người chung quanh, không hy sinh cho ai,chỉ biết vơ vào và củng cố cho chính bản thân mình bất chấp thiên hạ chết sống thể nào, bị gọi là bất lương. Trong thể chế, sự bất lương được thể hiện qua độc tài, thâu tóm quyền lực, không tôn trọng tự do của người khác, có thái độ hà hiếp nhân tình, lộng ngôn, độc đảng.

    Tới đây bác có đồng ý với tôi không?

    Và bác có đồng ý với tôi rằng chúng ta rất muốn xã hội có nhiều người quân tử hơn kẻ tiểu nhân không?

    Và chúng ta cũng vì mọi người chung quanh – cũng cả vì mình nữa- có muốn Đất Nước được những người có máu quân tử cầm cân nẩy mực không?

    Thiệt là… quá muốn!

    Vâng! „về hùa“ hay „về nguồn“ nó bắt đầu từ đây bác ạ!

    Bác đang ở trong nước phải biết và hiểu rất rõ chuyện gì đang xảy ra với mọi người Việt Nam chung quanh.

    Vì thế, cái „thái độ sống thường thấy“ (chữ cuả bác) của những kẻ này có nên được mang ra mà nhắc nhở không?

    Thiệt là… quá đã!

    Nhắc cho nhau bây giờ để mà phân biệt tốt xấu, nhắc cho đời con đời cháu thấy mà tránh xa chứ bác.

    Lại còn phải „nặng lời“ hơn với hạng người mũ ni che tai này, biệt rất rõ là thế nhưng vẫn „về hùa“ . Đối với thành phần này, riêng cụm từ „ kẻ tiểu nhân“ chưa đủ nghĩa, nó còn phải được ghép thêm „vô liêm sỉ“ nữa thì may ra mới tròn nghĩa bác ạ!

    Chúng ta phải tôn trọng sự khác biệt, nhưng đòi đè đầu cưỡi cổ dân tình để được nhong nhong thì không ổn rồi bác ạ. Bổn phận của người gõ máy (cầm bút) là phải gõ, gõ đúng cho ra đúng và sai cho ra sai! Phải thế không bác?

    Xin tặng bác bài:

    CON QUỐC CUỐC

    CÓ QUÊ MÀ CHẲNG THẤY HƯƠNG
    CÓ TỔ MÀ QUỐC CHẲNG THƯƠNG ĐỒNG BÀO
    NGÀY ĐÊM QUỐC CUỐC QUỐC NHÀO
    ĐẤT THỜI QUỐC BỚI NƯỚC TRÀO QUỐC BE
    LÚC NÀO QUỐC CŨNG LE TE
    SÔNG KÈ NÚI ĐẬP KẾT BÈ KHOANH Ô
    NHỜ AI CỨU QUỐC MỘT VỒ
    QUỐC VỀ CÙNG CHỖ BỜ HỒ NĂM XƯA.

    Hoàng Linh Vương

    * Đang đinh post bài phản hồi này thì vô tình tôi gặp trên màn hình trang chính talawas dòng chữ dưới đây: Vì có cùng một ý nên tôi xin được copy đính kèm cho tiện việc sổ sách:

    „SỰ IM LẶNG CỦA NGƯỜI CÓ LƯƠNG TÂM LÀ TẤT CẢ NHỮNG GÌ MỘT CHÍNH THỂ CHUYÊN CHẾ CẦN ĐỂ DUY TRÌ QUYỀN LỰC“ – Thomas Jefferson (1743-1826).

  5. Hoà Nguyễn says:

    Giáo sư Vũ Đức Vượng tuyên bố: “Nhiều người than phiền, khó chịu về thủ tục hải quan và những cử chỉ thiếu thân thiện ở sân bay. Nhưng họ quên mất một điều rằng chẳng có sân bay nào lại đông vui người thân ra đón như mỗi khi họ trở về VN.”

    Cái thảm hại của các ông trí thức được mời về lần này là họ cố hết sức tìm cho được một vài câu nói làm vui lòng chủ nhà, vậy mà nhiều khi nói không thấy đạt. Ông Vượng, ở Mỹ sống cũng không xa ông Liêm, đã nói như trên. Ông Liêm cho là nhờ xe hụ còi dẫn đường, v.v… nên ông thấy hạnh phúc và từ nay ông hết sợ công an, hết sợ tổ quốc, nhưng dường như thế không phải lời tán tụng hay. Còn ông Vượng cho sự khó chịu do thủ tục hải quan phiền phức được che lấp hay đền bù bằng cái vui vì đông người thân ra đón là nhận xét có thể không ổn. Khi quay lại Mỹ, nhiều người cũng được gia đình, bạn bè đến sân bay chờ đón, chỉ khác là gặp nhau không mừng lắm vì hai bên xa cách nhau chỉ mới vài tuần hay vài tháng, nhưng họ đứng chờ ở chỗ rộng rãi, có mái che, có máy lạnh (hay được sưởi ấm nếu là mùa đông). Ông Vượng “quên mất một điều rằng chẳng có sân bay nào” do thủ tục hải quan phiền phức, người thân phải đứng chờ, và có khi chờ rất lâu, ngoài nắng (hay mưa), thường trong cơn nóng trên 90 độ F (nếu về Sài Gòn). Về lý luận, nỗi vui gặp lại người thân xa nhau lâu năm không liên quan với chuyện “than phiền, khó chịu và thiếu thân thiện ở sân bay”. Người trong nước có thể không hài lòng với câu nói tốt chưa khéo lắm của ông Vượng, và có thể yêu cầu ông nói lại để nghe được hơn.

    Cũng trong bài viết về ông Vượng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phú Bình kể rằng nhạc sĩ Phạm Duy đã nói: “Thật tuyệt vời. Đất nước đã đổi thay thế nào thì cùng lúc một viên tướng (ông Nguyễn Cao Kỳ), một nhà sư (thiền sư Thích Nhất Hạnh) và một nhạc sĩ lại cùng trở về…” Đây có thể là một lỗi nặng của ký giả bài viết này (không nói là của ông Thứ Trưởng) khi “quên mất một điều rằng” thiền sư Nhất Hạnh nay chỉ là Nguyễn Lang nào đó, không còn được đất nước VN hoan nghênh, đáng lẽ không được nhắc tới tên, và nên biết rằng còn lâu lắm mới hòng được cho phép về.

  6. Phùng Tường Vân says:

    “Học lực: Hơn người”!

    “Anh Tưởng Năng Tiến làm bản “tự khai” là người chưa bao giờ đi học, mà viết bài hay và lý luận sắc bén như vậy thì còn trí thức hơn cả một số người mang áo trí thức. (Quang San)

    Vậy thì anh Tiến, nếu có một bản kê khai, tự khai, trích ngang, trích dọc… nào đòi hỏi anh khai học lực tôi đề nghị anh cứ khai (mẹ) nó là:

    Học lực: Hơn người.

  7. QuangSan says:

    Anh Tưởng Năng Tiến làm bản “tự khai” là người chưa bao giờ đi học, mà viết bài hay và lý luận sắc bén như vậy thì còn trí thức hơn cả một số người mang áo trí thức.

    Tôi xin thưa thêm, ở đất nước văn minh “đỉnh cao trí tuệ”, những nhà trí thức anh dũng như Andrei Sakharov, trước kia đã bị thủ tiêu, đày ải mút mùa lệ thủy cả rồi, thế hệ kế đó thấy vậy rét quá ngậm miệng kiếm cơm, Đảng dùng miếng ăn làm dụng cụ thắt họng sự phản kháng. Giới trẻ gần đây thì lùa vào nhà tù vì tội yêu nước không đúng lề, hay dám “phạm húy” Tự Do Dân Chủ như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định…

    Còn lại là học trò của nhà văn Nguyễn Tuân: “được như thế này là vì tôi biết sợ”.

    Những nhà trí thức ở nước ngoài loại ưa nhận bằng khen, huy chương tòng teng tỏng tẽng như Ông Triết gia Hú Còi Nguyễn Hữu Liêm, Ông uốn lưỡi dẻo quẹo Trần Thanh Vân, Ông sân bay vui nhộn Vũ Đức Vượng… đâu có hề quan tâm chi đến chuyện Giáo Sư Trần Đức Thảo và bao nhiêu người âm thầm khác, họ thích học đạo Nguyễn Tuân để ăn phở.

    Thưa anh Tiến, trong lý lịch tôi có ghi: biết đọc, lại mắc bịnh ghiền đọc, ráng viết ra vài hàng mộc mạc “dư ri” gọi là chia sẻ. Mong thông cảm. OK.

  8. Phung Nghi says:

    Bài của khứa Thường Dân Tưởng Năng Tiến này lúc nào cũng có gốc có ngọn không chê vào đâu được! Vì bài của khứa đầy ngạnh móc câu, khùa nèo, chỉa hai chỉa ba tùm lum hà, mà chưa kể là có khi tẩm trong dấm chua với ớt hiểm nữa, nên đọc bài của khứa xong là thấy thấm đòn tới mấy ngày. Có bài là phải bỏ ăn bỏ ngủ mang mang như người mất hồn; có bài là ruột thúi rầu hết biết còn nước mắt thì khỏi phải bàn tới; có bài thì cười bò lăn bò càng, đi ra đi vào cười tủm cười tỉm vợ cứ tưởng hôm nay cha sấp nhỏ lọt được vào mắt xanh của cô nàng xinh xinh nào đâu đó rồi; có bài thì tức anh ách, cái gan nó lộn ngược lên đầu giá mà có mấy thằng chó má mà khứa chưởi cạnh chưởi khóe trước mặt mình thì mình xông ra mà ăn sống nuốt tươi bọn chúng ngay! Khứa Tưởng Năng Tiến này thiệt tình! Lúc nào cũng làm cho người ta được cái cảm giác sau một chầu nhậu xỉn về nhà được vợ vừa miệng thì chưởi đồ đoản hậu nhậu gì mà nhậu cho cố ba cái đồ đắng chát cháy ruột cháy gan mà tham lam nốc vào cho nhiều, tay vừa giã đậu xanh hay vắt chanh lấy nước làm thuốc giải rượu cho mình! Thiệt nhiều lúc muốn chết phắt đi cho xong mà không chết được mới chết cha mình chớ!

    Khứa Thường Dân Tưởng Năng Tiến này, thiệt hết biết! Chừng nào rảnh rỗi hú cho mình một tiếng rồi rủ nhau về bến Bình Minh bên sông Cái Lớn ở Gò Quao, Kiên Giang kiếm mớ cá chốt đem khìa mặn, kiếm vài con sẻ đem ru ti bày thêm rổ rau húng quế trộn với khóm cắt lát với dưa chuột mà nhậu lai rai vài xị cho đỡ cái sự đời, nghe cha! Nhớ nghe cha nội!

  9. Tri Ngộ says:

    Ông Tưởng Năng Tiến này không đi học mà viết thiệt là hay, thiệt là rõ ràng khúc chiết. Và cách ông viết cũng có nhiều ngụ ý mỉa mai không thua gì những người được đi học. Nếu ông Tưởng Năng Tiến mà được đi học nữa thì chắc ông còn viết hay đến bực nào. Nhưng tôi nghĩ trong câu ông viết trong bài chủ chắc có một lỗi đánh máy: chắc ông muốn nói là ông chưa bao giờ đi dạy học, thì nghe có lý hơn trong cái nghĩa của câu ông viết.

    Tôi thì cũng đã được dịp về thăm Việt Nam và tôi cũng đã sống qua cái cảnh bị (“được”) công an hải quan “đì” bắt chụp hình và điền đơn xin visa nhập cảnh mặc dù visa này nằm chình ình trong thông hành. Lỗi tại tôi nhất định không nhét tấm giấy xanh vào thông hành. Tôi vẫn nhớ mãi những gương mặt lạnh như tiền này của những anh cán bộ hải quan da ngăm ngăm đen và môi thâm xì. Tôi cũng đã sống rất hạnh phúc những giây phút được người thân đón tiếp, từ họ hàng ngoài Bắc đến trong Nam. Tôi cũng được hưởng những ngày êm đềm bên cạnh những người thân và được ăn những món ăn quê hương ngon và thuần tuý nhất.

    Nhưng sau khi những giây phút ấy qua đi, cảnh sống thực tế hằng ngày và những khó khăn trong việc di chuyển trong thành phố làm tôi ngạt thở. Có những lúc tôi thèm khát một bãi cỏ xanh, một công viên với những hàng cây rợp lá và có không gian bát ngát như bên trời Tây. Công viên Lê Văn Tám mà tôi thường đi bộ mỗi tối với gia đình không (còn) là một công viên theo đúng tiêu chuẩn của nó. Phân nửa công viên được dùng làm bãi đậu xe gắn máy và xe đạp. Còn lại phân nửa thì có nhiều chỗ đi qua phải bịt mũi vì mùi ô uế xông lên nồng nặc, còn những chỗ còn lại chúng tôi đi nhưng không thoải mái lắm vì chỗ còn lại tranh tối tranh sáng đó có cả mấy chục cặp nam nữ rất trẻ đang ôm nhau xà nẹo hôn hít điển hình của một xã hội vật chất đầy tha hoá. Trong những buổi gặp gỡ bạn bè gia đình người quen, không ai (dám) đả động đến vấn đề chính trị hoặc lên tiếng chỉ trích bất cứ chương trình nào của chính phủ hay than vãn về những vấn đề khó khăn thường nhật. Có một hôm tôi đi thăm một thằng bạn học cũ, ngày xưa nhà nó nghèo rớt mùng tơi, sau 75 nó làm ăn ra (bác sĩ ngụy) và cả gia đình ở trong một cái vila đồ sộ nguy nga tráng lệ. Hôm đó tôi ngạc nhiên vì số người thật đông và dài đứng ngồi lũ lượt đợi ở ngoài đường trước nhà nó. Trời nắng chang chang mà trong đó có những bà cụ già. Hỏi ra mới biết đây là những bệnh nhân xếp hàng đợi phiên khám bệnh. Tôi mới hỏi nó tại sao không cho các cụ già vào trong sân nhà đợi vì có tàng cây cao mát mà bắt các cụ đợi dã man như vậy. Bạn tôi trả lời là phải làm như vầy để cho họ thấy sự khó khăn để biết quý tài chữa trị của hắn và đồng thời cho mọi người khác đi ngang biết hắn là bác sĩ giỏi. Tuy nhiên vì nể bạn từ xa về, hôm đó hắn cho các cụ lớn tuổi vào đợi trong sân. Đây chỉ là một ví dụ nhỏ trên trăm ngàn khó khăn và bất công của xã hội VN. Con cá lớn ăn con cá bé. Tranh nhau sống. Công an phường thì cứ một hai hôm lại ghé thăm gia đình tôi. Chị tôi lại phải “trám” ít quà để mọi người được tự nhiên đi đứng thong dong mà không bị dòm ngó. Hầu hết thì ai nấy cũng chỉ lo sống (tranh thủ) và không dám hé môi về những bất bình của cuộc sống. Thủ tục “đầu tiên” được sử dụng triệt để và giải quyết được hầu hết rất nhiều vấn đề. Tham nhũng là luật sống, là cách sống tự nhiên của người Việt sau 75. Tình người hầu như không còn đậm đà như trước năm 1975. Ai cũng nhớn nhác lo ra. Những người làm việc “đúng chỗ” (như hải quan) thì tiền vào như nước (con một người bạn tôi làm hải quan tậu một lúc ba căn nhà to ở ngay Hà Nội). Anh nghèo thì cứ nghèo rũ rượi. Tất cả những vụ đánh tư sản hay đánh tiểu tư bản ngày xưa đã gây ra rất nhiều khổ đau, nay nhìn lại xã hội hiện tại mới thấy những vụ đánh đó là những hy sinh không cần thiết và vô nghĩa.

  10. Đinh Tấn Lực says:

    Đã đành và đồng ý với K’Tiến là phải tôn trọng sự khác biệt. Tức là phải thấy ra cái khác biệt trước đã, để biết đường mà tôn trọng.

    Mà coi kỹ ra thì cũng chẳng khác gì nhiều lắm đâu, anh Tiến à, giữa chuyện về hùa hay về nguồn. Có chăng là cái liêm cái sỉ (cần báo động/la lớn/hụ còi cho bà con tránh đường) đó, ở xứ này, nói chẳng phải khoe, chúng tôi đong bằng sọt đấy! Dân làng Cổ Nhuế chúng tôi đây, dù có khác địa bàn/lãnh thổ khai thác hàng họ, hay khác nhau cái khẩu trang bịt mũi, thì xưa giờ cũng vẫn tôn trọng nhau hà rầm đó chứ!

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả