talawas blog

Chuyên mục:

Song Xuyên – Mối tình Mỹ-Việt

19/12/2009 | 3:13 sáng | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Song Xuyên

Chuyên mục: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: >

Sài Gòn, ngày… tháng… năm…

Emily Nguyễn T. con gái yêu quý của ba,

Sau khi ba mẹ đưa con đi thăm quê quán của con trở về Mỹ, mẹ thư cho ba là con băn khoăn hỏi mẹ: “Dịp nào mà ba mẹ gặp con từ một nơi quê mùa, xa xôi như thế để nhận làm con nuôi?” Tuy mẹ có nói cho con rồi, nhưng ba muốn kể thêm. Sở dĩ ba viết thư cho con bằng tiếng Việt vì ba muốn cùng con trau dồi thứ tiếng ba thích mà mẹ con đã công khó chỉ dạy cho cha con mình.

Emily ôi, đó chẳng qua là cơ duyên!

Học xong High School (trung học), ba nhận được lệnh nhập ngũ. Một số bạn cùng lứa tuổi với ba không thi hành, họ đốt thẻ trưng binh quân dịch, bãi khóa biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam. Riêng ba thì không thể làm như thế, vì ông nội của con, một cựu chiến binh từng tham dự Thế chiến II và Chiến tranh Triều Tiên, luôn luôn nghiêm khắc bảo ba rằng: “Nếu con không sát cánh chiến đấu cùng dân tộc nào trên thế giới đang bị cộng sản xâm lăng thì một ngày kia con phải chiến đấu với chúng trên đất Mỹ và có thể tệ hại hơn, cả non sông xinh đẹp này bị áp đặt dưới ách cai trị bởi chủ nghĩa phi nhân ấy…

Sau mấy tháng tập luyện quân sự, ba được bổ sung đến một Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến đang tham chiến tại Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ an ninh Quốc lộ 1 từ Huế đến đèo Hải Vân cho hãng thầu RMK sửa đường, xây cầu, đồng thời đơn vị cũng làm công tác Dân sự vụ như khoan giếng nước, xây trường học và bệnh xá cho dân, thỉnh thoảng phối hợp với quân đội Việt Nam Cộng hòa hành quân bình định trong vùng. Chừng một năm sau là đến Tết Mậu thân. Ông Hồ Chí Minh tuyên bố trên đài Hà Nội, quân đội của ông sẽ ngưng bắn trong 15 ngày để đồng bào hai miền vui Tết truyền thống của dân tộc và ông kêu gọi đối phương cùng tỏ thiện chí thi hành. Nhưng giữa đêm giao thừa, cộng sản đã đồng loạt tấn công tất cả các thành phố và thị trấn của Miền Nam, tàn khốc nhất là tại Huế. Cả thành phố gần như bị VC chiếm, đơn vị của ba được điều động đến tiếp ứng ở phía nam thành phố để đánh bật chúng ra. Khi địch ở trong các cao ốc, có công sự kháng cự mà mình phải đánh chiếm lại thì khó vô cùng, vì thế đồng đội của ba bị tử thương khá nhiều. Việc tái chiếm Hoàng thành do quân đội VNCH đảm trách còn gay go hơn. Hai bên giành nhau từng thước đất, từng ngôi nhà… Trận chiến ác liệt kéo dài hơn ba tuần lễ. Vì tổn thất nặng nề và vì thiếu đạn dược nên địch buộc phải rút lui theo hai ngả, hướng tây để lên núi và hướng đông nam về Phú Thứ, Phú Vang… sau khi đã tàn sát và bắt đi vô số thường dân vô tội.

Lữ đoàn của ba được lệnh truy kích, chặn đường rút lui của địch từ hướng đông nam để tiêu diệt trước khi chúng tháo chạy lên rừng. Di chuyển bằng tàu theo giòng sông Hương đến cửa Tư Hiền để nghi binh, tối trời hãm thanh, tắt đèn quay lại chạy trong bóng tối đến quá nửa đêm mới đổ bộ lên địa điểm phục kích thuộc quận Phú Thứ, bố trí xong trận địa… Ba quá mệt mỏi vì hơn ba tuần chiến đấu căng thẳng, mất ăn, mất ngủ, không tắm rửa, không nghỉ ngơi, nên khi dựa lưng vào hố cá nhân vừa đào xong là ba lên cơn sốt mê man và thiếp đi từ lúc nào không biết. Đến khi tỉnh lại thì trời đã chiều, mưa lâm râm, gió quất vào mặt lạnh buốt. Nhìn quanh vắng vẻ, hết hồn, ba nhảy ra khỏi hố, len lỏi qua các lùm cây tìm đồng đội mà chẳng thấy ai. Ba chĩa súng lên trời bắn hai phát. Thông thường, nếu có quân bạn, sẽ được đáp trả lại ba tiếng, đó là tín hiệu nhận nhau. Nhưng ba tuyệt nhiên không nghe động tĩnh gì. Ba cố bình tĩnh chui vào một bụi rậm để định hướng thoát thân. Ba nghĩ nên đi về hướng tây là vùng kiểm soát của ta, chờ đêm tối băng qua làng mạc đồng ruộng đến gần thành phố mới được an toàn.

Ba vừa dò dẫm bước đi được chưa đầy trăm thước thì bảy, tám tên du kích Việt cộng từ trong bụi rậm bất ngờ xông ra, vật ba ngã xuống, đấm đá túi bụi. Chúng lột tất áo quần giày mũ ba, trói hai cánh tay ba ra sau lưng, dộng ba xuống cái hố cá nhân ba vừa nhảy lên lúc nãy, rồi lấp cát lại chỉ chừa cái đầu. Trời mưa lạnh mà phải thay nhau canh giữ ba như thế vất vả cho chúng lắm chăng, nên đến nửa đêm, chúng lại xới cát kéo ba lên, buộc thêm dây nơi cổ, dẫn ba băng qua làng xuống một xóm mé bờ sông mà trong bản đồ hành quân ba biết đó là Chợ Mới Quảng Xuyên. Chúng đưa ba vào một ngôi nhà cạnh nhà lồng chợ đã đổ nát, có nền gạch thật cao, trói chân tay vào cột nhà. Ba ngồi như một con gấu. Một thằng nghịch ngợm bật lửa đốt tóc ba cho cả bọn cười vui thích thú. Bất ngờ có một người đàn bà từ nhà bếp chạy lên đánh vào tay nó làm cho hộp quẹt tung đi. Bà vừa giận dữ quát tháo, vừa dập tắt những mảng tóc đang cháy. Mới đầu ba tưởng bà là cấp chỉ huy, sau này mới biết bà là mẹ của tên đội trưởng. Thấy ba bị đánh quá, nóng lòng sợ ba chết tội nghiệp nên bà nói gạt với chúng, để ba sống mà trao trả tù binh “Một tù Mỹ đổi một thúng đôla với ba chiếc máy cày.” Chúng tưởng thật nên không đánh nữa. Bà bảo trả lại áo cho ba, nhưng mấy đứa đã lấy tảng lờ bỏ đi, chỉ còn vài tên ở lại canh giữ. Thấy ba rét run, bà đắp lên người ba một cái áo và cho ba uống nước nóng, ăn khoai lang… Chính cái món nầy làm ba tiêu chảy bừa ra giữa nền nhà. Thấy dơ bẩn chúng bèn cởi trói, ra dấu cho ba ra ngồi gần mé nước để làm việc ấy. Ngoài trời đang mưa nên bà già ấn lên đầu ba chiếc nón lá, đau bụng thì lết ra, xong rồi lại lết vô; ra vô – vô ra hai ba lần. Lần sau cùng ba có ý định chạy trốn, thà bị bắn chết còn hơn để chúng hành hạ khổ thân. Trời mờ tối, thằng du kích cầm AK ngồi ở ngưỡng cửa canh chừng, không ra ngoài vì sợ mưa ướt. Nó tin rằng ba đi không nổi thì làm sao mà chạy trốn được. Ba đặt chiếc nón lá lên cành cây mà ba mò kiếm được để đánh lừa nó, làm như thể mình đang ngồi, rồi nhẹ nhàng bò ra bờ sông chui xuống nước bơi đi. Còn bao nhiêu sức lực trong người ba dồn xuống đôi tay đôi chân. Ba bơi được khá xa mà chúng chưa hay biết. Sau đó thật lâu chừng cả giờ mới nghe súng nổ, mõ đánh và nhìn vô làng thấy những ánh đuốc đi tìm. Chúng ngỡ là ba chạy lên rú, vùng cây cối rậm rạp đằng sau làng, có đâu ngờ ba lại đâm mình xuống nước. Kiệt sức, ba bám vào đám sáo làm cá cắm ở giữa sông.

Khi tỉnh lại, ba thấy mình đang nằm trong phòng cấp cứu của một bệnh viện dã chiến Hoa Kỳ, mũi miệng nối với bình dưỡng khí, hai tay dính lòng thòng những ống dây nước biển, thuốc hồi sức. Mấy giờ sau họ chuyển ba ra Hạm đội 7 ngoài biển điều trị, rồi đưa đi an dưỡng ở căn cứ Okinawa bên Nhật, nơi ba gặp ông bà nội đã đến đó trước mấy ngày.

Không nỗi vui nào lớn hơn khi bà nội biết ba trốn thoát từ tay địch trở về. Những ngày gần bà nội, ba kể cho bà nghe tất cả những gì đã xảy ra mà ba phải chịu đựng. Bà nội ôm ba khóc mùi mẫn và xem ba như đứa trẻ nít ngày nào. Cuối cùng bà dặn “mẹ đã giặt, sấy cái áo trận bê bết bùn đất của người lính Việt Nam mang tên ÚT nào đó mà người ta bỏ trong túi quân trang cá nhân của con, nếu đúng cái áo mà người đàn bà đắp cho con lúc bị bắt thì con nên giữ cẩn thận, có dịp con trao lại cho bà ấy để nói lời cảm ơn, nếu không gặp được, con xem nó như một kỷ vật trọn đời.”

Còn ông nội, con biết sao không? Ông thản nhiên xem việc ba đã đào thoát từ tay quân địch trở về không có gì lạ. Đối với ông, người chiến binh, thì chết chóc, thương tích hay bị địch bắt là chuyện thường. Việc quan trọng nhất là có làm tròn nhiệm vụ mà thượng cấp giao phó hay không ! Gần đến ngày trở về Mỹ, ông hỏi ba: “Sau khi bình phục con có muốn trở lại VN chiến đấu cùng đồng đội nữa không?” Ba chưa kịp trả lời thì ông tiếp “Con ơi hãy can đảm lên, cái giá của tự do đôi khi đắt lắm con ạ ! Trong Thế chiến II, ngày 6 tháng 6 năm 1944, khi binh đoàn của ba cùng quân đồng minh đổ bộ lên bờ biển Normandy nước Pháp, chỉ vài giờ đầu mà mấy ngàn người đã ngã gục, nhờ thế nước Pháp và Âu châu mới được giải phóng khỏi tay Đức Quốc xã… Chưa hết, Kim Nhật Thành buồn tình không có chuyện chi để làm, ngày 25 tháng 6 năm 1950, đột nhiên xua quân tràn xuống vĩ tuyến 38 đánh chiếm thủ đô Seoul, quân Nam Hàn cứ thụt lùi, thụt lùi mãi… sắp té xuống biển. Liên hiệp quốc nóng lòng mới đổ bộ xuống hang hùm phía bắc sông Áp lục. Đàn kiến cả triệu con – chí nguyện quân Trung cộng – bu vào, con biết không? Riêng binh đoàn của ba đã phải mất non một nửa thì chúng mới chịu ngồi vào hội nghị Bàn môn điếm để giữ nguyên ranh giới đình chiến như lúc đầu. Nhờ thế mà ngày nay mới có thêm một con Rồng Á châu đó con ạ. Nhưng có điều, phải biết gom lòng-lòng vững chắc sau lưng người cầm súng và đã là đồng minh thì nên sát cánh bên nhau chứ không nên đứng trên bạn mình…” Câu sau cùng ông nội nói nhỏ, thầm thì tựa hồ như đang nói cùng ai.

Ba chưa trở lại VN thì thời hạn quân dịch pháp định đã hết, ba được giải ngũ và tiếp tục vào đại học.

Ra trường, ba đang làm cho hãng Máy bay Boeing ở Everette thì Miền Nam Việt Nam mất, hàng triệu người Việt liều chết vượt biển đi tìm tự do. Bác John bạn ba rủ rê “Sở di trú đang cần người làm việc cùng Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại các trại tị nạn; mình biết chút ít tiếng Việt nên apply cái job này, được đi đây đi đó chắc thích lắm.” Thế là khắp các trại ở Đông Nam Á, từ Thái Lan, Hồng Kông, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai…, nơi nào có người tị nạn VN là nơi ấy có ba và bác ấy. Cũng dịp này ba gặp mẹ, mẹ con cũng là một thuyền nhân ấy mà.

Emily ôi, con có biết ba yêu mẹ con đến thế nào không! Ngoài giờ làm việc, ba thường tình nguyện ở các lớp dạy tiếng Anh cho người tỵ nạn. Mẹ con là một học viên khác thường khiến ba có ấn tượng ngay từ lúc đến lớp lần đầu. Với đôi mắt u ẩn giấu kín nỗi niềm riêng khi gần kề cận, lúc xa vời vợi, thể hiện sức chịu đựng nỗi đau buồn lớn lao, gương mặt mẹ trở nên thánh thiện vô cùng. Ba chinh phục mẹ khó khăn, vất vả lắm. Ngoài những cử chỉ ân cần, săn sóc lộ ra ngoài mà chung quanh ai cũng biết, mỗi bài Home Work trả lại cho mẹ khi thì ba ghi thêm AYE, khi thì ILY. Thế nhưng thời gian hai khóa học tiếng Anh sắp hết mà ba chưa nhận được gì từ phía mẹ cả. Ba thất vọng đau khổ, tự nghĩ lại bản thân. Ba không đẹp trai lắm, nhưng tương đối ngó được, có học, hơn mẹ vài tuổi. Khi có dịp, ba cũng thổ lộ cho mẹ hay là ông bà nội ước ao có một con dâu người Việt. Cho đến một ngày, ngày đó ba nhớ mãi, mẹ con có kết quả thanh lọc được đi định cư tại Hoa Kỳ. Mẹ con báo tin mừng ấy cho ba sau giờ tan học và kín đáo dúi vào tay ba một phong thư rồi vội vã quay về trại. Ba hồi hộp quá, vội đi ra cầu tàu tìm một chỗ để đọc lá thư đầu tiên của người tình đầu tiên.

Ôi chao ôi, ba hoa mắt khi đọc mấy câu đầu mẹ con viết:

Trại tỵ nạn Galang, Phi Luật Tân ngày… tháng… năm…

Kính thưa thầy,

Em là học trò của thầy, mà học trò đối với thầy thì luôn luôn phải đường đường, kính kính…

Hôm mẹ lên máy bay tại phi trường Manila ba cũng có mặt. Mẹ chỉ gửi lại cho ba một nụ cười và mấy cái vẫy tay. Khi đến phi trường SeaTac, ở Seattle, tiểu bang Washington, có cô Janny, em họ của ba và ông bà nội ra đón mẹ. Ba nhờ cô Janny trao thư cho mẹ, mong mẹ đáp lại bằng tiếng Việt để ba học cách viết thư, tôn mẹ là cô giáo. Thư qua thư lại lâu dần, tiếng thầy thầy, em em được thay bằng tiếng anh anh, em em từ lúc nào ba cũng không hay. Khi ba về Mỹ làm lễ cưới thì bà con, bạn bè của ông bà nội ai cũng mừng cho gia đình ta có được một người con dâu xứ Huế xinh đẹp, đảm đang.

Cưới xong, mẹ xin làm việc ở Hội Hồng thập tự Hoa Kỳ tại trại tiếp cư người tỵ nạn. Ba vẫn ở phương vị cũ nên lúc nào ba mẹ cũng được gần bên nhau.

Emily ơi, dường như ba là người Tây ba lô đầu tiên đến Huế, sau ngày hai nước Mỹ-Việt bang giao. Ba lân la với mấy anh xe ôm trước cửa chợ Đông Ba hỏi đường về Chợ Mới Quảng Xuyên để mong gặp bà già quê mùa nơi xa xôi ấy. Cũng là duyên may. Hôm ấy ba gặp một người chạy honda ôm, nguyên là Hạ sĩ quan thông dịch viên trong quân đội miền Nam cũ, thất cơ lỡ vận đang tạm sống nghề này, đã vui vẻ nhận lời. Ba mừng thầm có người giúp thêm tiếng Việt vốn dĩ ít ỏi của mình.

Vùng quê quanh Huế cảnh đẹp và thanh bình, nhưng người dân quê bao năm rồi vẫn héo hon, khắc khổ bì bõm sau con trâu cái cày hay khom lưng cắm từng cây mạ trên đám bùn đen. Chỉ non nửa tiếng đồng hồ, xa xa đã trông thấy cái xóm nhà núp sau lùm tre, khác với ngày xưa ba và đồng đội dò dẫm từng bước, từng bước hãi hùng với mìn chông, với bắn lén của du kích… nên cứ ngỡ đi hoài chẳng tới.

Chiều xuống, chợ đã tan, chỉ còn vài hàng xén bán muộn. Ông xe ôm hỏi đến mấy người mà e quán tính lâu ngày “không biết, không nghe, không thấy” nên ba chỉ nhận được những cái lắc đầu. Sau cùng, một ông già cho ba chút niềm:

- Tôi mới hồi cư ít năm thôi, có lẽ mẹ con bà Nguyễn Thị Chút ở đầu kia chắc biết. Ông qua hỏi thử.

Một người đàn ông cụt chân chống nạng bước ra giữa sân. Ba ngờ ngợ không chắc có phải người du kích năm xưa không, nhưng khi vô nhà gặp bà già thì ba không thể nào lầm được nữa. Bà vồn vã:

- Cái ông Mỹ năm xưa chạy trốn mà còn sống đây hả?

Ba mừng vui thực sự, ôm bà như ôm bà nội:

-  Dạ thưa bà, tôi còn sống và cố tìm về đây cho bằng được gặp bà để nói lời cảm ơn, năm xưa bà cho uống nước nóng, ăn khoai lang… như lời mẹ tôi đã dặn.

Đó là câu tiếng Việt trôi chảy nhất mà ba đã nhẩm thuộc lòng bao lâu rồi, bấy giờ mới có dịp nói ra.

- Ui chui choa, người chi mà trung hậu, kẻ chi mà ác nhơn, trời lạnh rứa mà lột hết áo quần người ta ra… xót ruột quá tôi đưa cho cái áo.

Ba vừa móc trong balô ra vừa nói:

- Tôi vẫn giữ nó đây xin trả lại cho bà.

Bà cảm động nước mắt ứa ra kể lể:

- Thằng Út con trai tôi đây, nó đăng lính Nghĩa quân. Cách mạng vô bắt đi kinh tế mới, phần thì đói, phần thì sốt rét nên theo ôn mệ rồi… vợ nó đi đâu vô trong Nam kỳ lục tỉnh chừ đây không biết còn hay mất… giao đứa nhỏ này từ khi mới nửa tuổi lại cho tôi, con ơi con cực chi mà cực dữ rứa!

Giọng bà như người mẹ đi sau quan tài đưa con ra nghĩa trang khiến đám đông ai cũng bùi ngùi…

Ba nhìn xuống nền đất theo tay chỉ của bà, một bé gái ốm o, bò lê bò la giữa nhà, chốc chốc ngước đôi mắt đen nhánh lên nhìn ba, nhìn người nầy, người nọ hồn nhiên nhoẻn miệng cười. Ôi cái gương mặt dù bám bụi đất lấm lem nhưng không che được nét thông minh, dĩnh ngộ. Người chống nạng, đội trưởng du kích năm xưa đứng tựa bên ngạch cửa rụt rè:

- Bao năm rồi tôi nghĩ mình thật ngu ngốc. Nghe người ta nói màu tóc bạch kim, tôi tưởng là kim loại đốt thử có cháy không, ai ngờ… Nếu mẹ tôi không dập tắt kịp thì đầu ông đã cháy hết rồi. Tôi xin lỗi ông…

Ba cố xua đi những điều kém vui:

- Ta gặp nhau là mừng rồi, hãy cho cái xấu qua đi, còn cái đẹp thì nên nhớ mãi.

Ông già chỉ nhà bà Chút cho ba im lặng chứng kiến từ đầu, giờ như đắc ý:

- Đó là lòng từ bi của Đúc Chí Tôn.

Trước khi từ giã, ba mời mọi người chụp vài tấm hình để làm kỷ niệm buổi gặp gỡ hi hữu này. Ba nhờ ông xe ôm bấm cho ba và bà Chút cùng đứng chung một tấm, cái tấm hình mà nhà mình trịnh trọng treo trên tường đó. Thừa lúc mọi người không để ý, còn bao nhiêu tiền trong túi, e chỉ độ hơn ngàn, ba kín đáo tặng bà và hẹn ngày gặp lại.

Trên đường trở lại Huế, thấy ba im lặng không nói gì, anh xe ôm lấy làm lạ bèn hỏi:

- Bao năm ông mong gặp lại ân nhân, bây giờ đã thỏa nguyện, cớ sao ông có vẻ buồn?

- Tôi không buồn nhưng chua xót nghĩ ngợi về cuộc chiến vừa qua, nó đã gây nên biết bao tai ương cho dân Việt, để rồi kết quả được gì!

- Dân tộc tôi khổ lắm ông ơi.

- Chỉ một gia đình bà Chút thôi mà em thì nghĩa quân anh là du kích, con thì đốt tóc mẹ thì dập tắt… Nghĩ cũng buồn cười.

Đến phòng trọ, ba đi tìm người bạn lấy đỡ ít tiền trả xe ôm rồi mời ông ấy đi ăn để nhờ một việc:

- Nhà tôi là người Việt, sinh trưởng ở thành phố Huế này. Tôi cảm thấy diễm phúc có được một người vợ như nàng. Cha mẹ và họ hàng tôi đều thương quý nàng. Nhưng bất hạnh thay, nàng trải qua thảm cảnh khốc liệt trong chuyến vượt biển ở Vịnh Thái Lan nên không còn được thiên chức như những người phụ nữ khác tạo hóa giao phó… Chúng tôi cưới nhau năm năm rồi mà chưa có một đứa trẻ như bao người mong đợi. Qua khám nghiệm y khoa và do nhà tôi có học nên nàng tự biết rằng, từ tác động tâm lý đã ảnh hưởng… dẫn đến tình trạng này. Biết tôi mến trẻ, nhà tôi giới thiệu nhiều bạn gái của nàng cho tôi, nhưng tôi nhất quyết cự tuyệt. Vừa rồi tôi trông thấy bé gái cháu nội của bà Chút mất cha vắng mẹ, tôi thật sự thương quá là thương, nên nảy ra ý định xin nhận cháu làm con nuôi. Theo ông điều ấy có được không?

Suy nghĩ một lúc, ông ấy đáp:

- Về pháp lý có chi mà không được, nhiều người ngoại quốc đã làm như thế. Cái quan trọng là ở nơi ông, nơi bà xã của ông thôi.

- Tôi nhờ ông ngỏ lời với bà già rồi tìm mẹ đứa trẻ để có sự bằng lòng của bà ấy mới được.

Con biết không, việc nhận con nuôi thành công nhanh chóng ngoài dự tưởng của ba, phần lớn là nhờ bác xe ôm và phần khác nhờ vào sự thiết tha thúc giục của mẹ cùng ông bà nội.

Bấy giờ, mẹ đã nghỉ việc, còn ba đang phục vụ ở Phòng Di trú thuộc Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Bangkok, hàng tuần bay qua Sài Gòn để phỏng vấn các đối tượng theo chương trình ra đi có trật tự, thỉnh thoảng mẹ cùng đi dưới dạng nhân viên công tác Sở Di trú. Ngày đi Huế nhận con nuôi có ông bà nội, ông honda ôm và vài người họ hàng của mẹ.

Không khí gia đình ta từ ngày đó hạnh phúc hẳn lên. Mẹ con vui vẻ yêu đời, bận rộn săn sóc bé, nguôi đi phần nào nỗi mất mát lớn lao mà mẹ đã trải qua; còn ba làm được một việc vô cùng có ý nghĩa: con của chiến hữu, cháu nội của ân nhân nay mình được nuôi dưỡng, bồng bế thì có niềm vui nào lớn hơn!

Đứa bé như mầm tốt vươn lên giữa mảnh đất màu mỡ, kháu khỉnh, tươi mát, thông minh mà được mẹ con săn sóc dạy bảo nữa thì tương lai thật đầy hứa hẹn.

Khi bé đến tuổi mang balô tới trường, ông bà nội ngỏ ý mong được có cháu bên cạnh để vui tuổi già, vừa để ổn định việc học của cháu, vừa để mẹ cháu dần dần thay ông bà quán xuyến trang trại trồng nho và cơ sở sản xuất rượu vang của gia đình mình bên bờ sông Snohomish. Mẹ vui lắm, tựa hồ như ông bà nội đã đọc được ý nghĩ của mình muốn phụng dưỡng phụ mẫu lúc tuổi già như truyền thống người Việt Nam xưa nay vẫn làm thế. Ngoài ra, mẹ cũng mong về sống bên Mỹ để ngày ngày khỏi phải nhìn thấy đám người đã gieo tai họa cho dân tộc mình, cho gia đình mình, sống phè phỡn giữa bao người đang đói khổ (khi Tòa Tổng Lãnh sự ở Sài Gòn sửa chữa xong, gia đình mình phải dời từ Bangkok đến sống và làm việc tại đó).

Ba chưa đến tuổi về hưu, những ngày nghỉ lễ nghỉ phép mới có dịp về thăm. Mấy năm nữa thôi, ba sẽ mãi mãi bên mẹ, bên con.

Emily ơi, chắc con xúc động khi đọc thư này. Những gì ba mẹ đã trải qua, những gì người thân của con bên nhà đang chịu đựng rồi sẽ mất đi, vì cái gì nhiều người không ưa thì sẽ không tồn tại.

Dịp mà ba mẹ gặp con ở một nơi quê mùa, xa xôi ấy… là như thế đó. Nơi ấy cũng là nơi đầu đời ba nếm gian truân và nhận tình người. Ba mẹ đều cho đó là cơ duyên cả; cũng là cơ duyên mà ông cố, ông nội ba bỏ xứ Ái Nhĩ Lan xa xôi đến gieo hạt nho bên bờ Snohomish, để ngày nay mẹ con đang tiếp tục vun gốc tỉa cành, để rượu vang mãi ngào ngạt bay khắp đó đây. Và cũng là cơ duyên cô con gái thông minh, xinh đẹp của ba mẹ há lại không học giỏi để sánh vai cùng người…

Ba của con,

John

TB: Ba bắt chước mẹ thường tái bút, chừa vài ý chi đó để dặn dò thì nay ba cũng: Ngoài mẹ ra, con đừng cho ai đọc thư này. Tiếng Việt của ba còn dở lắm. Với lại, người ta bảo người lính ngoài mặt trận mà mê man bị bỏ quên? Thế tổ trưởng khinh binh, tiểu đội phó, tiểu đội trưởng đâu rồi? Nhưng giá như ba không mê man thì sao có thư này cho con, Emily hí!

Nguồn: Văn hữu, số 5, mùa Hạ, 2009. Bản điện tử đăng lần đầu trên talawas blog.

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Song Xuyên – Mối tình Mỹ-Việt”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả