talawas blog

Chuyên mục:

Bill Moyers – Quá trình leo thang chiến tranh ở Việt Nam của Tổng thống Johnson (phần 2)

20/12/2009 | 12:21 chiều | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Phạm Văn

Chuyên mục: Chiến tranh Việt Nam, Lịch sử, Thế giới, Tư liệu
Thẻ:

Phạm Văn dịch

Bill Moyers: Các hy vọng của Tổng thống tìm một loại ‘New Deal’[1] cho Nam Việt bị ngăn trở vì tham nhũng và sự bất tài của chính quyền ở đó, mà một lần nữa chính quyền đó lại trên bờ vực thẳm sắp đổ, ngay cả khi kẻ thù – Việt cộng – đang tăng cường khả năng kiểm soát ngày càng rộng tại nông thôn. Thế bí đang đến dần, và Tổng thống lại một lần nữa quay sang người cố vấn giàu kinh nghiệm cũ của ông ở Thượng viện, Dick Russell.

Lyndon B. Johnson: Tôi phải đương đầu với – tôi không tin dân chúng Mỹ muốn tôi bỏ chạy. Nếu tôi thua, tôi nghĩ họ sẽ nói tôi đã thua, tôi đã rút về. Đồng thời, tôi không muốn đưa chúng ta vào một cuộc chiến tranh. Và tôi lúng túng khủng khiếp. Tôi không thể – tôi không biết thế nào.

Richard Russell: Chúng ta giống như con bò khốn nạn vướng trên hàng rào ở bên Việt Nam.

Lyndon B. Johnson: Đúng vậy, và Lào nữa. Và tôi có một bản nghiên cứu vừa được các chuyên gia thảo xong, tôi muốn một tối nào anh đến rồi uống rượu và xem, xem hai chỗ đó quan trọng ra sao, liệu Mã Lai có nhất thiết đi đứt và Ấn Độ có đi đứt, và uy tín của chúng ta sẽ thiệt hại bao nhiêu nếu chúng ta cứ rút ra và để một vài hội nghị thất bại hay chi đó.

Richard Russell: Tôi biết hết mấy lập luận đó.

Bill Moyers: Tổng thống kể với Russell về lời khuyên ông nhận được từ anh chàng láng giềng chủ trang trại ở Texas của ông, A. W. Moursund.

Lyndon B. Johnson: Nhưng họ nói. Ồ, gã A. W. Moursund nói với tôi tối hôm qua, khốn kiếp, không có gì làm anh tiêu tùng nhanh bằng rút ra, cuốn gói rồi chuồn, rằng người Mỹ muốn, theo ý  Chúa, uy tín và sức mạnh. Và họ không muốn – tôi nói, ừ, nhưng tôi cũng không muốn – tôi không muốn giết mấy người này. Anh ta nói, Tôi đếch cần biết. Anh ta nói, tôi không muốn giết họ ở Đại Hàn, nhưng nói, nếu anh không vì Mỹ mà dũng cảm thì không có gì làm cho một anh chàng ở Johnson City – hay Georgia hay bất kỳ chỗ nào – họ sẽ tha thứ anh mọi việc trừ yếu đuối.

Richard Russell: Ồ những lời nói đó đáng nghĩ lắm. Có nhiều thứ phải nghĩ trong đó lắm.

Lyndon B. Johnson: Goldwater và cả đám họ làm ầm ĩ lên rằng phải đánh tiếp, phải leo thang. Phải tăng quân rồi bỏ bom tụi nó […]

Richard Russell: Như thế sẽ cần nửa triệu người. Họ sẽ sa lầy ở đó mười năm. Và ồ quỉ thần ơi.

Lyndon B. Johnson: Chúng ta vẫn chưa dọn sạch xong cuộc chiến Triều Tiên.

Richard Russell: Chưa, chưa sạch đâu. Chúng ta còn ở ngay chỗ khởi đầu […] Tôi không bao giờ muốn bị rối rắm thêm dưới đó. Tôi không đồng ý với đám đầu óc nói là chuyện này có giá trị chiến lược và kinh tế lớn ghê gớm và chúng ta sẽ mất hết ở Đông Nam, ở Á châu nếu chúng ta mất Việt Nam. Tôi không nghĩ điều đó đúng. Nhưng tôi nghĩ như một vấn đề thực tế, chúng ta đã ở đó và tôi không biết làm cách quái quỉ nào anh có thể bảo với dân chúng Mỹ là anh rút ra. Không có cách nào làm như vậy. Họ sẽ nghĩ anh vừa mới bị đòn, anh bị tiêu tùng, anh sợ. Và như thế là tai hoạ.

Lyndon B. Johnson: Tôi nghĩ tôi phải nói là, chúng ta – tôi không lôi anh vào đây, nhưng chúng ta ở đây vì hiệp định và danh dự quốc gia. Và nếu hiệp định này không tốt, chẳng có cái nào tốt. Vì vậy chúng ta – chúng ta ở đó. Và vì ở đó, chúng ta phải cư xử như đàn ông. Đó là điều thứ nhất. Thứ nhì, ngay trong cuộc cách mạng của mình, mình muốn có tự do, và tự nhiên mình nhìn cùng các dân tộc khác, bằng niềm cảm thông với các dân tộc khác, họ muốn tự do, và nếu anh để họ yên và cho họ tự do, chúng ta sẽ rút ra ngày mai. Đó là điều thứ nhì. Điều thứ ba, tôi nghĩ, chúng ta phải cố tìm một đề nghị nào đó, một cách nào đó, như Eisenhower đã tìm ra ở Đại Hàn, là chúng ta có thể -

Richard Russell: Tôi sẽ không loại bỏ Liên hiệp quốc hay thoả ước nào, vì tôi nghĩ nếu anh tìm được một thứ thoả ước rốt ráo nào đó, dân chúng sẽ hiểu.

Barry Goldwater: Hôm qua là Đại Hàn. Tối nay là Việt Nam. Đừng giấu giếm chuyện này. Đừng cố dúi chuyện này vào xó nhà. Chúng ta có chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng Tổng thống – là Tổng tư lệnh Quân đội của chúng ta, không chịu nói – từ khước nói, xin phép các bạn, liệu mục tiêu ở đó có phải là chiến thắng hay không. Và Bộ trưởng Quốc phòng của ông ta tiếp tục đánh lừa và loan tin sai cho dân chúng Mỹ, và trò đó xảy ra đủ rồi.

Bill Moyers: Bài diễn văn nhận sự đề cử của đảng Cộng hoà để ra tranh chức tổng thống của Barry Goldwater chỉ hai tuần trước khi xảy ra một biến chuyển sâu sắc. Trong khi hộ tống biệt kích Nam Việt quấy rối miền Bắc, một chiến thuyền của Mỹ, USS Maddox, bị các tàu tuần tiễu của Bắc Việt bắn trong Vịnh Bắc bộ.

Lyndon B. Johnson: Bây giờ tôi ước gì, à, anh khuyên tôi là chúng ta nên nói cái gì […] Tôi vừa mới nói chuyện với một tay nhà băng New York, tôi vừa mới nói chuyện với một anh chàng ở Texas, họ đều cảm thấy rằng Hải quân đã đáp ứng tuyệt vời và điều đó tốt. Nhưng họ muốn chắc như đinh đóng cột là tôi không rút ra rồi chạy, và họ muốn chắc như đinh đóng cột là chúng ta cứng rắn. Cả nước đều muốn như vậy, vì Goldwater đang làm ầm ĩ lên về cái cách ông ta sẽ đưa người ta lên tận cung trăng, và họ nói chúng ta không nên làm bất kỳ điều gì mà lợi ích quốc gia không cần. Nhưng chắc chắn chúng ta nên để lại ấn tượng là nếu mày bắn tụi tao, mày sẽ bị đập.

Robert McNamara: A, tôi nghĩ ngài muốn […] ban chỉ thị cho các chỉ huy trưởng tiêu diệt bất kỳ lực lượng nào tấn công lực lượng của chúng ta trong hải phận quốc tế.

Bill Moyers: Vẫn do dự, vẫn tìm con đường trung dung, Tổng thống quyết định không trả đũa. Thay vào đó, ông gửi một thông điệp ngoại giao tới Hà Nội cảnh cáo “hậu quả nghiêm trọng” nếu còn tấn công nữa.

Và ngày hôm sau, hoặc ông được báo cáo như vậy, chiếc Maddox và một chiến thuyền thứ hai, chiếc Turner Joy, bị tấn công nữa.

Các báo cáo ban đầu lộn xộn, và các vụ tấn công không được xác minh, nhưng khi Bộ tổng tham mưu đề nghị đánh trả đũa, lần này Tổng thống đồng ý. Ông biết Sài Gòn đang trông chờ một dấu hiệu mạnh mẽ của ông, ông sợ Hà Nội sẽ khai thác dấu hiệu yếu đuối, và ông không muốn cho các đối thủ đảng Cộng hoà một vận may chính trị ngẫu nhiên nào. Các ký giả vây lấy Toà Bạch ốc đợi câu trả lời, Tổng thống lên truyền hình lúc nửa đêm.

Lyndon B. Johnson: Đồng bào thân mến –

Bill Moyers: Ông loan báo rằng chiến đấu cơ của Mỹ, lần đầu tiên, đã tấn công các cơ sở hải quân và kho xăng ở Bắc Việt.

Lyndon B. Johnson: Hành động đáp trả của chúng ta lúc này sẽ giới hạn và thích đáng. Người Mỹ chúng ta biết, mặc dù nhiều người khác có vẻ quên, sự rủi ro khi xung đột lan rộng. Chúng ta vẫn tìm cách không để chiến tranh lan thêm ra.

Bill Moyers: Khi các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy 85% công chúng ủng hộ quyết định của ông, Tổng thống đưa nhanh một nghị quyết qua Quốc hội cho ông tự do dùng quân sự để quân đội Mỹ khỏi bị tấn công thêm.

Các chính trị gia lúc trước đã nói riêng với ông mối hoài nghi nghiêm trọng của họ về việc tham chiến ở Đông Nam Á, bây giờ họ hoan nghênh.

Ký giả: Thưa Nghị sĩ, ông có nghĩ quyết định của Quốc hội sau khi biểu quyết sẽ gây ấn tượng đủ rõ cho những người cộng sản hiểu là chúng ta nghiêm túc về vấn đề đó không?

J. William Fulbright: Tôi không có chút hoài nghi nào. Tôi chắc chắn sẽ như vậy.

Richard Russell: Tôi nghĩ chúng ta phải trả đũa một cách mạnh mẽ và hiệu quả. Mỗi lần lá cờ Mỹ hay quân đội của  chúng ta bị bắn. Nhất là trong hải phận quốc tế.

Bill Moyers: Những thông tin, được xếp vào loại mật một thời gian dài, cuối cùng xác minh rằng các tàu Mỹ không bị tấn công lần thứ nhì, nhưng phản công theo bóng radar trong đêm tối. Chính Tổng thống cũng nghi ngờ chuyện gì xảy ra thật sự. Nhưng với nghị quyết Vịnh Bắc bộ bây giờ ông tự do leo thang chiến tranh.

Ngày 3 tháng 11 năm 1964, Lyndon Baines Johnson thắng áp đảo Barry Goldwater – được 61% phiếu dân bầu với số chênh lệch hơn 16 triệu lá phiếu – cho đảng ông một đa số áp đảo trong cả hai viện quốc hội. Rốt cuộc ông là Tổng thống bằng chính khả năng của ông.

Lyndon B. Johnson: Tôi, Lyndon Baines Johnson, long trọng tuyên thệ…

Bill Moyers: Nhưng ông không được hưởng lâu giây phút đó. Một cú đảo chính quân sự nữa ở Nam Việt. Và quân miền Bắc xâm nhập thêm vào Nam, bây giờ với vũ khí Trung Quốc và Liên Xô. Chỉ một tuần sau lễ nhậm chức, Tổng thống nhận một báo cáo từ bộ trưởng quốc phòng và cố vấn an ninh quốc gia, chúng ta đã đến ngã ba đường – họ nói – “Đã tới lúc đi đến những lựa chọn khó khăn hơn”. Họ khuyến cáo tăng thêm quân.

Muốn có thêm tin tức và thời giờ, Tổng thống cử Bundy qua Việt Nam để có đánh giá riêng. Trong khi ông ta ở bên đó, du kích Việt cộng tấn công một doanh trại ở Pleiku, giết tám lính Mỹ và làm bị thương một số khác.

LBJ ra lệnh dội bom lập tức một vài mục tiêu ở Bắc Việt, và Bundy đánh giá tổn thất ở Pleiku.

Người giới thiệu: Trước khi về, ông Bundy bay tới Bệnh viện 8 dã chiến để thăm những người bị thương trong vụ du kích tấn công. 108 người bị thương, trong đó 79 bị thương nặng.

Bill Moyers: Bundy sửng sốt vì máu và thương tích, và trên đường về ông viết cho Tổng thống rằng “Nếu Mỹ không có hành động nào mới thì thất bại có vẻ không thể tránh khỏi”. Ngày 10 tháng Hai, ông gọi báo thêm tin xấu cho Tổng thống.

McGeorge Bundy: Thưa Tổng thống, chúng ta vừa bị một vụ đánh bom nữa, như ông chắc đã nghe.

Lyndon B. Johnson: Chưa.

McGeorge Bundy: Một doanh trại trong thị trấn tên là Bin Dia, và chúng ta chưa có… không,  Qui Nhơn là tên thị trấn. Chúng ta chưa có báo cáo tổn thất, ngoại trừ 21 người bị thương. Nhưng cả toà nhà sụp đổ, vì vậy có khả năng là sẽ có thêm […] Chúng ta chắc nên rất thận trọng, đây là doanh trại Mỹ, cần gắn liền yếu tố Việt vào vụ này, để mình đừng lâm vào tình huống là chỉ có người da trắng mới được trả thù […]

Lyndon B. Johnson: Tôi sẽ nói Wheeler (Tổng tham mưu trưởng quân đội, 1964 – 1970) bảo với nhóm của ông ta đưa ra khuyến cáo tốt nhất của họ, và cứu xét mọi khía cạnh. Không khích động hay đại ngôn, nhưng hãy tiến hành –

McGeorge Bundy: Một cách bình tĩnh.

Lyndon B. Johnson: Một cách bình tĩnh và triệt để và tức khắc và thích đáng.

McGeorge Bundy: Đúng.

Bill Moyers: Các cố vấn cao cấp của Johnson đồng thanh khuyến cáo Tổng thống cho phép dội bom liên tục Bắc Việt. Hy vọng những vụ tấn công như vậy có thể kết thúc nhanh xung đột, và tránh phải đưa thêm quân vào một cuộc chiến tranh thực địa, ông đồng ý chiến dịch sét rền, đánh Bắc Việt trong ba tháng tới. Ông vừa mới ban xong lệnh thì chính quyền Sài Gòn lại đổ, và quân khủng bố Việt cộng đánh bom toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn.

Người giới thiệu: Tất cả nằm trong một chiến dịch khủng bố có kế hoạch và liên tục nhằm chống lại người Mỹ và thường dân Nam Việt.

Bill Moyers: Dường như chẳng có gì hiệu quả. Ngay sau đó, Tổng thống phê chuẩn thêm hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến tới Việt Nam, nhưng khi các viên chức cao cấp của ông họp ở Hawaii vào tháng Tư, họ kết luận không thể chỉ dội bom và yêu cầu thêm chín tiểu đoàn nữa. McNamara giải thích.

Robert McNamara: Tôi nghĩ tất cả chúng tôi có thể đồng ý rằng chúng ta phải làm nhiều hơn để chiến thắng ở miền Nam. Tôi nghĩ việc đưa quân Mỹ tham dự sẽ được các phe nhóm khác nhau đồng ý […]

Lyndon B. Johnson: Họ đánh giá tình hình ở đó ra sao? Họ nghĩ gì về mấy phát biểu về việc Trung Quốc nhảy vào? […]

Robert McNamara: Không ai trong chúng tôi cảm thấy Trung Quốc sẽ nhảy vào, trong thời gian gần. Họ lạc quan một cách hợp lý rằng trong ba tới sáu tháng sắp tới, với quân chiến đấu mới thêm của Mỹ ở đó – và vẫn còn một số bất đồng nhỏ là rốt cuộc nên có bao nhiêu quân ở đó, nhưng không có bất đồng nào về số lượng nên có trong 90 hay 120 ngày sắp tới – họ cảm thấy họ có thể đủ củng cố Nam Việt và tăng cường lực lượng của họ để cho Hà Nội thấy rằng Hà Nội không thể thắng ở miền Nam. Không phải là Nam Việt có thể thắng, nhưng làm rõ cho Hà Nội là Hà Nội không thể thắng. Và đây là một trong các mục tiêu chúng ta đang cố đạt tới […] Mặc dù có một số dấu hiệu thuận lợi này, phía hậu cảnh là Việt cộng tăng cường rất lớn trong mấy tháng qua và sự tập trung sức mạnh của Việt cộng ở miền trung có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào và gây rắc rối nghiêm trọng cho chúng ta. Và họ rất sợ tổn thất thảm khốc ở Biên Hoà hay Đà Nẵng hay một trong mấy nơi này. Và để tránh chuyện đó, bây giờ họ đồng ý rằng nên đưa một số quân chiến đấu của Mỹ vào […]

Lyndon B. Johnson: Chúng ta có đề phòng mọi thứ nên làm để khỏi gặp bất kỳ thảm hoạ ngoài dự kiến nào chưa, à –

Robert McNamara: Tôi nghĩ vậy. Đây là một trong những vấn đề chúng tôi đã thảo luận rất lâu hôm nay. Để tránh thảm hoạ có thể xảy ra ở Biên Hoà, nơi chúng ta tập trung rất nhiều thiết bị và quân Mỹ và cả ở Đà Nẵng, tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều đề nghị với tổng thống […] đưa một lữ đoàn tới Biên Hoà và thêm vài tiểu đoàn tới các khu vực dọc bờ biển. Điều này, vừa bảo vệ cho chúng ta khỏi gặp thảm hoạ, vừa làm an tâm một số người miền Nam và cho phép một số đơn vị của chúng ta tham dự vào các chiến dịch chống nổi dậy. Và kết quả của mọi việc này là cho Bắc Việt thấy họ không thể thắng ở miền Nam.

Bill Moyers: Ngày 5 tháng 6 năm 1965. Thêm tin xấu. Chính quyền Sài Gòn lại khủng hoảng. Việt cộng mở đợt tấn công mới trong mùa mưa, khiến cho việc bảo vệ các lực lượng trên bộ bằng không quân càng khó hơn. Một điện văn từ đại sứ Mỹ, tướng Maxwell Taylor, nói thẳng “Chắc là cần đưa bộ binh Mỹ ra chiến đấu”. Ông Tổng thống lo lắng gọi cho Bộ trưởng quốc phòng của mình.

Lyndon B. Johnson: Chuyện đánh nhau ra sao?

Robert McNamara: À, chúng ta có một tuần rất đáng tiếc. Tổn thất rất cao. Tôi đoán là số chết, bị thương và mất tích, tổng cộng cao hơn một ngàn nhiều. Chúng ta đã có vài bước lùi, bao gồm một vụ tấn công cấp tiểu đoàn của Việt cộng vào một quận lỵ chỉ cách Sài Gòn mười dặm. Tôi nghĩ chúng ta bắt đầu thấy Việt cộng dùng quân trừ bị mà chúng ta đều biết là có nhưng cho tới lúc này chưa được dùng đến […]

Lyndon B. Johnson: Anh có tính chừng nào thì đưa thêm người vào đó không?

Robert McNamara: Thêm ba tiểu đoàn, tiểu đoàn chiến đấu, được lên kế hoạch đưa vào trong giữa tháng Bảy. Ông đã phê chuẩn rồi. Như vậy tổng cộng là 13 tiểu đoàn chiến đấu. Bây giờ ở đó có mười tiểu đoàn, ba sẽ vào trong vòng 30 đến 45 ngày tới. Cũng có thêm nhân viên hậu cần. Tổng cộng hôm nay là theo – ồ tôi cho rằng 49 hay 50.000 cho tới nay […] Vì vậy tôi phỏng chừng sẽ có khoảng 70.000 ở đó, vào cuối tháng Tám.

Bill Moyers: Tổng thống bị căng thẳng trong vài tuần. Ông dường như chấp nhận leo thang chiến tranh bất đắc dĩ. Ngày 8 tháng Sáu ông gọi cho trưởng khối đa số ở Thượng viện Mansfield, người đã viết để khuyến cáo ông đừng dội bom Hà Nội, thủ đô Bắc Việt. Giọng ông mệt mỏi, lo lắng, và căng thẳng.

Lyndon B. Johnson: Tôi không thấy hoàn cảnh nào để rút ra […] Rusk (Ngoại trưởng, 1961 -1969) không biết tôi đang nghĩ như vậy. McNamara không biết tôi đang nghĩ như vậy. Bundy không. Tôi chưa nói với người nào. Tôi đang nằm trên giường đây. Tôi cố ngủ một giấc ngắn rồi tiếp tục ngày thứ nhì của mình, và tôi không ngủ được. Tôi vừa quyết định gọi cho ông.

Nhưng tôi nghĩ tôi sẽ nói với Quốc hội là Tướng Eisenhower nghĩ chúng ta nên vào đây và làm ở đây điều mà chúng ta thực tế đã làm ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, vân vân […] Tổng thống Kennedy nghĩ chúng ta nên làm chuyện này, và ông ấy gửi những người này vào đây và tôi nghĩ chúng ta nên ở lại đó. Nhưng tất cả viên chức quân sự của tôi bảo tôi và các viên chức kinh tế của tôi rằng chúng ta không thể làm điều này tới mức cam kết chúng ta có hiện nay. Nó phải tăng một cách thiết yếu. Và hậu quả lúc này thật không thể tiên đoán […]

75.000 người của mình sẽ gặp nguy hiểm lớn trừ phi họ có thêm 75.000 nữa. Nhận định của tôi, và tôi chẳng phải là một nhà quân sự, nhưng tôi nghiên cứu mỗi ngày và mỗi đêm và tôi đọc các bản điện báo, tôi nhìn lại những gì đã xảy ra trong hai năm qua, thật ra là bốn năm qua, và nếu họ có 150, họ sẽ phải có 150 nữa. Và khi ấy họ sẽ phải có 150 nữa. Vì vậy, vấn đề lớn lúc đó là, Quốc hội muốn làm gì cho chuyện này, dưới hoàn cảnh này? À, tôi, tôi biết quân đội muốn làm gì. Tôi thực sự biết tôi nghĩ Rusk và McNamara muốn làm gì. Và Bundy. Nhưng tôi không chắc – và tôi nghĩ tôi biết đất nước muốn làm gì lúc này – nhưng tôi không chắc sáu tháng sau họ còn muốn làm chuyện đó […]

Nhưng, trừ phi ông có thể canh chừng việc ông đang làm, ông không thể làm bất kỳ cái gì. Chúng ta không thể xây phi trường, Chúa ơi, càng không thể xây đường dây điện nông thôn (REA, Rural Electrification Administration). Và cần nhiều người để canh chừng cho chúng ta lúc xây phi trường hơn là người xây phi trường. Và tương tự cũng vậy, chúng ta có thể dùng hàng trăm triệu vào các dự án kinh tế nếu chúng ta có thể xây dựng nó […]

Michael Mansfield: Ừ, nhưng một số người hình như nghĩ là mình cứ xây  cho Việt cộng tiếp quản.

Lyndon B. Johnson: Ôi dào, rất có thể. Rất có thể. Nhưng tôi thà, tôi có cảm tưởng qua cách Bill Fulbright nói, tôi không biết tôi cảm nhận có đúng không, là ý kiến của Quốc hội là chúng ta nên làm chuyện đó nhiều hơn và chuyện đó có thể là giải pháp tốt hơn bom đạn […] Ông có nghĩ là chúng ta nên đưa đi cả đám quân lính mà không tranh luận?

Michael Mansfield: Không, thưa ông. Tôi nghĩ là, à, chúng ta bây giờ đã có quá nhiều ở đó rồi. Và à, chúng ta đang dội bom miền Bắc mà không đem lại kết quả đáng kể nào cho chúng ta thấy ở miền Nam […]

Lyndon B. Johnson: Nhưng với yêu cầu xin thêm người của ông ta thì chúng ta làm gì? Bộ chúng ta không phải, giả thử các con số mà tôi có thể thấy là đúng, phải chăng chúng ta không nên nói với Quốc hội, về chuyện này quí vị muốn làm gì?

Michael Mansfield: Ồ, tôi không thích làm kẻ nói điều này vì, như ông đã nói lúc nãy, là 75.000, rồi 150.000, rồi 300.000. Ông ngừng lại ở đâu?

Lyndon B. Johnson: Chúng ta không ngừng.

Michael Mansfield: Ông ngừng lại ở đâu?

Lyndon B. Johnson: Chúng ta không thể ngừng. Tôi muốn nói, nếu ông, tôi thấy có vẻ, tôi không thấy chỗ nào, đối với tôi, nó hình thành như thế này, Mike – ông hoặc là, ông hoặc là rút ra hoặc là bước vô. […] Tôi nghĩ chúng ta đã thử hết, hết các cách trung dung. Và chúng ta nghĩ họ đang thắng. Nào, nếu chúng ta nghĩ họ đang thắng, ông có thể tưởng tượng họ nghĩ gì.

Michael Mansfield: Ừ, họ biết họ đang thắng.

Lyndon B. Johnson: Và nếu họ biết, ông có thể thấy họ không nôn nóng tìm giải pháp nào cho nó.

Michael Mansfield: Đúng vậy.

Lyndon B. Johnson: Chúng ta hình như đã thử mọi cách chúng ta biết. Tôi đã ở đây hơn một năm từ khi họ thúc giục chúng ta dội bom, trước khi tôi vượt qua giới tuyến. Tôi đã tránh xa các mục tiêu kỹ nghệ của họ và thường dân của họ…

Michael Mansfield: Ừ, nhưng Hà Nội và Hải Phòng bị lột sạch, và đã nhiều tháng rồi. Và ông dội bom họ, ông chẳng đạt được gì. Ông chỉ làm tăng thêm sự oán ghét. Ông làm cho mấy người này gắn chặt với nhau thêm vì họ liên hệ máu mủ, bất kỳ từ Bắc hay Nam.

Lyndon B. Johnson: Tôi nghĩ điều đó đúng. Và tôi nghĩ ông đã làm gần hết mọi cách ông có thể làm, ngoại trừ biến nó thành cuộc chiến tranh hoàn toàn của người da trắng.

Michael Mansfield: Nếu ông làm như vậy, khi đó ông cũng có thể chào tạm biệt toàn bộ Á châu và phần lớn thế giới.

Lyndon B. Johnson: Ồ, tôi nghĩ có thể lắm, tôi nghĩ điều đó đúng. Vì vậy, mình sẽ đi đâu?

Michael Mansfield: Ôi dào, ông không nên tiến tới […] Ông không rút ra. Ông cố làm cái gì để củng cố vị trí của ông ở Nam Việt. Và chuyện đó có thể cần thêm quân. Chắc chắn sẽ cần thêm người Việt Nam, tôi nghĩ, khi –

Lyndon B. Johnson: Họ đang lấy thêm đầu này, Mike, nhưng họ chạy ra đầu kia. Họ đào ngũ như đàn ruồi.

Bill Moyers: Chỉ huy trưởng quân Mỹ tại Việt Nam, Tướng William Westmoreland, điện cho Hoa Thịnh Đốn. Ông ta muốn 41.000 quân chiến đấu ngay lập tức và sau đó thêm 52.000 nữa. Và ông ta thêm, ông ta sẽ cần “thậm chí lực lượng lớn hơn nữa” để “đưa chiến tranh tới quân địch”. McNamara nói “Chúng ta  kẹt vào đám bùng nhùng như địa ngục”.

Lyndon B. Johnson: Rốt cuộc là vấn đề các con số […]

Robert McNamara: Đúng vậy […] Westmoreland đề nghị thêm mười tiểu đoàn ngoài con số 13 mà ông đã phê chuẩn, như vậy lực lượng khoảng 45.000 người. Tôi đề nghị năm tiểu đoàn với lực lượng khoảng 25.000 người. Vì vậy, chúng ta đang nói về […] khác biệt 20.000 người. Nhưng họ đều là lính chiến đấu. Và theo ý tôi sự rủi ro rất khác. Thật vậy đây là sự khác biệt và là vấn đề khó tranh cãi với các Tham mưu trưởng, vì trong đầu tôi, tôi có một giới hạn cam kết rất rõ trong đầu. Và tôi không nghĩ các Tham mưu trưởng có. Thật ra, tôi biết họ không có.

Lyndon B. Johnson: Anh có nghĩ đây chỉ là bước leo thang kế tiếp của họ?

Robert McNamara: Vâng. Ồ, họ hy vọng họ không phải đi xa hơn. Nhưng Westmoreland phác thảo trong điện văn của ông ta bước kế tiếp. Và ông ta không nói đó là bước cuối cùng.

Lyndon B. Johnson: Ồ, tôi không nghĩ có ai biết.

Robert McNamara: Tôi không nghĩ có ai biết, đúng vậy. Nhưng tôi có chiều hướng nghĩ là trừ phi chúng ta thực sự muốn đi tới một cuộc tổng chiến tranh thực địa có khả năng xảy ra, chúng ta phải hãm bớt lại ở đây và cố ngưng lại, ở một điểm nào đó, cam kết quân trên bộ […]

Lyndon B. Johnson: Anh có biết chúng ta sẽ đi xa tới đâu không?

Robert McNamara: Không.

Lyndon B. Johnson: Bộ tổng tham mưu có biết không? Người nào biết? […] Bây giờ, chúng ta không nói là đưa những người này vào sẽ thắng, nhưng chúng ta nói nếu anh không đưa họ vào, anh sẽ mất phần lớn cái anh đang có. Bây giờ chúng tôi không muốn hứa, các ông muốn, nhưng đây là hành động trì hoãn với hy vọng là qua mùa mưa họ sẽ đổi ý và thời gian sẽ cho biết. Thay vì nóng vội, chúng ta đang cố thận trọng. Bây giờ đó không phải là điều chúng ta đang cố làm hay sao? Không, không một kẻ khốn khiếp nào nghĩ 50.000 hay 100.000 hay 150.000 sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh đó. Và chúng ta không rút ra. Nhưng chúng ta đang cố giữ cái mình đã có.

Bill Moyers: Giữ cái mình đã có cho thấy là việc khó. Ngày 18 tháng Sáu, Nam Việt lập chính phủ thứ mười trong vòng 20 tháng. Vài ngày sau Việt cộng pháo kích tiêu hủy ba máy bay Mỹ ở Đà Nẵng. Tổng thống Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng McNamara thấy rằng họ sẽ cần thêm bộ binh. Họ sẽ lấy ở đâu ra? Hãy nghe.

Lyndon B. Johnson: Giả thử chúng ta làm mọi thứ có thể làm, trong hết khả năng của mình, chúng ta có thể thật sự bảo đảm là chúng ta thắng hay không? Tôi muốn nói, giả thử chúng ta có tất cả oanh tạc cơ lớn và tất cả bom đạn mạnh và mọi thứ khác, liệu ba tên Việt cộng có thể vào rồi quậy chúng ta tanh banh rồi cứ tiếp tục mãi chuyện này, và không bao giờ thật sự chấm dứt nó hay không? Đó là một chuyện tôi muốn xét. Chuyện thứ hai tôi muốn anh xem đến […] liệu chúng ta có thể thật sự có được tất cả sự ủng hộ hay sự ủng hộ đầy đủ, dư thừa, mà không cần Quốc hội ủy nhiệm thêm, để thành công, để chiến đấu thành công? […] Tôi không biết liệu những người đó có bao giờ nghĩ, khi họ tính toán: Một, liệu chúng ta có thể thắng với thứ huấn luyện, thứ sức mạnh mà chúng ta có. À, và hai, tôi không biết họ có tính toán là liệu chúng ta có thể có sự ủng hộ thống nhất ở quốc nội…

Robert McNamara: Tôi nghĩ, thưa Tổng thống, có hai cách suy nghĩ về việc đó. Thứ nhất, nếu chúng ta làm như báo cáo tôi đề nghị, gửi đông người qua đó, chúng ta nên gọi quân trừ bị. Ông có thẩm quyền làm việc ấy mà không cần thêm luật. Nhưng tôi không nghĩ rằng ông muốn dùng quyền đó. Hầu như chắc chắn, nếu chúng ta gọi quân trừ bị, ông sẽ muốn xin Quốc hội để có thêm thẩm quyền. Đây sẽ là cách để kéo thêm sự ủng hộ. Nào ông sẽ nói, “Ôi dào, phải, nhưng nó cũng có thể dẫn tới mở rộng tranh cãi và những câu tuyên bố gây chia rẽ”. Tôi nghĩ chúng ta có thể tránh. Tôi thật sự nghĩ nếu chúng ta phải gặp đám Clark[2] và đám McGovern[3] và đám Church rồi bảo họ, “Này, đây là tình hình của mình. Chúng ta không thể thắng bằng mức cam kết hiện nay. Chúng ta phải tăng thêm nếu muốn thắng, trong nghĩa giới hạn mà mình xác định đây, trong cách giới hạn mà mình định nghĩa ‘chiến thắng’, đòi hỏi có thêm quân. Cùng với cách này, chúng ta dấn vào hoặc tiếp tục đề xướng giải pháp chính trị để tìm kiếm ước muốn đàm phán một dàn xếp hợp lý ở đây. Và chúng tôi yêu cầu sự ủng hộ của quí vị trong tình huống này”. Tôi nghĩ ông sẽ được họ ủng hộ trong tình huống đó. Và đó là cách để ông vừa có thẩm quyền gọi quân trừ bị vừa buộc họ vào toàn bộ kế hoạch.

Lyndon B. Johnson: Bây giờ chuyện đó nghe có lý.

Bill Moyers: Ngày 28 tháng 7 năm 1965.

Lyndon B. Johnson: Tôi đã hỏi ông Chỉ huy trưởng, tướng Westmoreland, là ông ấy cần thêm gì để đương đầu với hành động gây hấn đang gia tăng này. Ông ấy đã trình với tôi và yêu cầu của ông ấy sẽ được thoả mãn.

Hôm nay tôi đã ra lệnh cho Sư đoàn Không kỵ và một số lực lượng khác qua Việt Nam, việc này sẽ nâng cao sức chiến đấu của chúng ta từ 75.000 lên 125.000 người hầu như tức khắc. Lực lượng bổ sung sẽ cần thêm sau, và sẽ được gửi đi theo yêu cầu. Điều này sẽ cần gia tăng lực lượng chiến đấu tại ngũ của chúng ta bằng cách nâng cao số quân dịch hàng tháng trong một thời gian từ 17.000 lên 35.000 mỗi tháng, và chúng ta cần đẩy mạnh vận động tình nguyện đăng lính.

Bill Moyers: Tới cuối năm có 184.000 quân ở Việt Nam, dù đã có tới 90.000 lính Nam Việt đào ngũ. Trước khi chấm dứt, năm 1975, có 2 triệu rưỡi lính Mỹ đã phục vụ ở Việt Nam.

Lyndon B. Johnson: Tôi thấy không dễ gửi tinh hoa tuổi trẻ của chúng ta, những thanh niên giỏi nhất của chúng ta, ra mặt trận. Tôi đã thưa với các bạn hôm nay về các sư đoàn và lực lượng và nhiều tiểu đoàn và đơn vị. Nhưng tôi biết tất cả họ, từng người. Tôi đã thấy họ trên hàng ngàn đường phố, hàng trăm thị trấn, ở từng tiểu bang của liên bang này – làm việc và cười đùa và xây dựng, và tràn đầy hy vọng cùng sự sống. Tôi nghĩ tôi cũng biết, những bà mẹ của họ khóc ra sao và gia đình họ buồn ra sao. Đây là nhiệm vụ dằn vặt nhất và đau đớn nhất của Tổng thống của các bạn.

Bill Moyers: Giờ đây trong một thế giới khác, ở một thời điểm khác, và với một tổng thống khác, chúng ta đối diện với viễn ảnh một cuộc chiến tranh khác đang lan rộng. Nhưng một lần nữa chúng ta đang chiến đấu trong các tỉnh thành xa xôi chống lại một kẻ thù có thể làm chúng ta chảy máu từ từ và đợi chúng ta rút ra, vì họ sẽ tiếp tục ở đó khi chúng ta rút đi.

Một lần nữa, chúng ta kẹt giữa những phe phái xung đột trong một quốc gia mà các thế lực ngoại bang khác trước chúng ta đã thất bại. Một lần nữa, mỗi bước lùi lại đòi thêm quân lính, mặc dù không ai có thể nói họ sẽ ở đó bao lâu hay chiến thắng nghĩa là gì. Một lần nữa, chính quyền mà chúng ta đang cố giúp lại tham nhũng và bất tài một cách vô vọng.

Và một lần nữa, một vị Tổng thống đang thúc đẩy việc đổi thay then chốt tại quốc nội, bị áp lực đừng tỏ ra run rẩy, phải cứng rắn, chứng tỏ ông ta có gan, bằng cách gửi thanh niên đi xa nhà bảy ngàn dặm để chiến đấu và chết, trong khi chính đất nước của họ đang tan rã.

Và một lần nữa, lời kêu gọi mở rộng chiến tranh ồn ào nhất lại do những người sẽ không phải chiến đấu, những người sẽ an toàn trên giường ngủ của họ trong khi chiến tranh tiếp tục nghiến tới. Và một lần nữa, một nhóm nhỏ cố vấn tranh luận con đường hành động, nhưng một người sẽ quyết định.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết điều gì sẽ xảy ra nếu Lyndon Johnson đã khước từ mở rộng chiến tranh. Chúng ta biết điều gì đã xảy ra vì ông đã ưng thuận.

Chương trình đến đây là hết. Tôi là Bill Moyers. Hẹn gặp lại quí vị kỳ sau.

Bản tiếng Việt © 2009 Phạm Văn

Bản tiếng Việt © 2009 talawas blog


[1] Chương trình tái thiết kinh tế Mỹ của Tổng thống Roosevelt trong thập niên 1930.

[2] Có thể là Joseph S. Clark, nghị sĩ Dân chủ, thành viên Ủy ban Ngoại giao Thượng viện, chống mở rộng chiến tranh ở Việt Nam.

[3] Nghị sĩ Dân chủ, từ 1963 đã chống mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, nhưng bỏ phiếu thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc bộ 1964, thua Nixon trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1972.

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Bill Moyers – Quá trình leo thang chiến tranh ở Việt Nam của Tổng thống Johnson (phần 2)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả