talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Nụ cười đời tỵ nạn (2)

17/12/2009 | 2:37 sáng | 3 phản hồi

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Chuyên mục: Đời sống
Thẻ: > >

(Xem kỳ 1)

Một chiều thứ Sáu, tan lớp học, trên đường về, tôi rẽ vào Chinese Mini-Supermarket gần trung tâm quận, chủ Hong Kong, cô bán hàng, người Việt gốc Hoa, dân Chợ Lớn, mua hàng nhiều lần, nên quen. Vừa gật đầu chào, cô hỏi liền:

“Nghe tin chú có nhà, phải không?”

Cô ta gọi tôi bằng chú.

“Sao biết?”

“Thấy chị L. kể.”

Một gã người Việt, trạc tuổi tứ tuần, râu ria lởm chởm, mũ tầu phở, tóc gần chấm vai, quần áo lôi thôi, nhếch nhác, đứng gần đấy, tự nhiên quay lại, nhìn tôi, giọng nửa Bắc, nửa Nam, hỏi trống không:

“Nhà ông mấy buồng?”

Tôi không trả lời, cầm giỏ đi lấy bún khô, phở khô, chai mắm, một số đồ lặt vặt. Coi như điếc. Cửa hàng vắng, chỉ có cô L., tôi và gã. Chọn xong đồ, ra trả tiền, vừa bấm máy tính, cô L., vừa hỏi:

“Nhà chú mấy buồng?”

“Bốn buồng.”

Tay người Việt, phõ ngay:

“Nhà ông mấy người?”

Tôi không trả lời. Cô bán hàng, trả lời thay:

“Nhà chú ấy 5 người.”

Giọng cáu kỉnh, cay cú, chửi thề:

“Mẹ nó, nhà tôi 6 người, có 3 buồng. Nhà ông 5 người, những 4 buồng.”

Gã nhìn thẳng vào tôi, nét mặt cau có, hỏi, giọng khó chịu:

“Nhà ông thuộc hội[1] nào?”

Tôi thủng thẳng, trả lời cộc lốc:

“Làm sao biết được.”

“Nhà ông ở phố nào, số nhà bao nhiêu?”

Tôi chửi thầm, mẹ cha cái thằng mất dạy, mày là thằng đéo nào, hỏi như tra khảo không bằng. Short circuit, (đồ chập dây). Nét mặt tỉnh bơ:

“Tên phố dài, tôi tiếng Anh kém, không nhớ.”

“Đi xe bus số mấy.”

“Anh hỏi làm gì?”

“Muốn đến chơi.”

Mẹ kiếp. “Xí xin”, (đồ dở hơi). Ai mời mày. Ai chơi với mày. Tôi không trả lời.

Cô bán hàng nhanh miệng, nói nhỏ:

“Chú ấy trong ban điều hành cộng đồng mình đấy.”

Cười khẩy, khinh. Tôi xách túi hàng ra cửa, đi thẳng. Mặc xác cái cộng đồng, cả chức Ban điều hành hữu danh vô thực của mày. Xí-xin!

Theo thống kê không chính thức, trước năm 1975, người Việt ở Vương quốc Anh rất ít, trên dưới 250 người, đa số du học sinh, cán bộ nhân viên Đại sứ Việt Nam Cộng hoà (12 Victoria Road, London, nay là tòa đại sứ của Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), thương gia, cán bộ và nhân viên Ban Việt ngữ (Vietnamese Section) của đài B.B.C (Bush House, London), có 5 (?) người, làm việc theo hợp đồng ngắn và dài hạn.

Từ năm 1977 (1976?), người tỵ nạn Việt Nam được tàu hàng Anh cứu trên biển, định cư tại Anh, hàng năm phải đến Sở Di trú (Lunar House, Croydon, London), trình báo, gia hạn. Tất cả chưa được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị.

Sau Hội nghị về người tỵ nạn Việt Nam của Liên hiệp quốc, tháng 7-1979, Vương quốc Anh, Đảng Bảo thủ (Conservative/Tory Party) cầm quyền, bà Margaret Thatcher làm thủ tướng, chấp nhận 20 ngàn tỵ nạn Việt Nam định cư. Từ đây chúng tôi mới được hưởng quy chế tỵ nạn Liên hiệp quốc.

Cuối năm 1979, số người Việt Nam ồ ạt nhập cư vào Vương quốc Anh, gây xáo trộn không nhỏ đến cuộc sống của người dân bản xứ. Năm 1982, dân khu Catford, London, đi biểu tình rầm rộ, phản đối chính phủ cho dân tỵ nạn Việt Nam nhập cư.

Để người Việt hội nhập nhanh, ngoài việc xé lẻ, sắp xếp mỗi khu vực từ 5 đến 6 gia đình, hàng ngày, đài truyền hình BBC 2, có chương trình Speak For Yourself 30 phút, dạy Anh ngữ. Chương trình bắt đầu từ năm 1981 (?), kéo dài gần 2 năm, tốn tiền bạc, thời gian, nhưng kém hiệu quả. Theo tôi, nguyên nhân chính như sau:

1. Người hướng dẫn chương trình là một diễn viên hài, David Niven (?) người Hoa, trong series film Pink Panther, do United Artist sản xuất 1966. Là diễn viên tài năng, film ông gây ấn tượng, tạo tiếng cười, chúng tôi mến ông. Chính vì lẽ ấy, cứ thấy ông xuất hiện trên chương trình dạy học, chúng tôi cười, nhớ những cảnh (scenes) ngộ nghĩnh của ông trong film. Trong con mắt chúng tôi, ông là diễn viên hài đáng mến, nhưng ông không đủ uy tín làm thày dạy Anh ngữ.

2. Không biết ông định cư ở U.K từ bao giờ, cách phát âm của ông không chuẩn so với người bản xứ, chất giọng (accent) đặc trưng của người nước ngoài nói tiếng Anh. Có lẽ, ông đã lớn tuổi mới học Anh ngữ. Người có tuổi, học ngoại ngữ, phát âm khó chuẩn. Tiếng Anh của ông, tuy không trọ trẹ như mấy ông người Hoa Quảng Ninh, Hải Phòng, Chợ Lớn nói tiếng Việt, đồng bào gọi “Tồng pào”, Luân Đôn thành “Luôn-Luôn”, nhưng so sánh giữa ông và các phát thanh viên chương trình thời sự của BBC 1 và 2 hay I.T.N, chúng tôi không thể chấp nhận ông là thày dạy Anh ngữ. Nếu ở Việt Nam, Trung Quốc, ông có thể làm thày giáo giỏi, định cư tại Vương quốc Anh, thủy tổ Anh ngữ, tại sao chúng tôi lại học ông thày người Hoa phát âm không chuẩn? Vô lý!

3. Người tỵ nạn miền Bắc đa số người Hoa, có tuổi, tiếp thu chậm, lười học, tâm lý kiếm tiền càng nhanh càng tốt. Trong khi không biết tiếng Anh, họ vẫn kiếm ra tiền ở các nhà hàng, tiệm đồ khô người Hong Kong.

Những nguyên nhân trên khiến chương trình Speak For Yourself của BBC 2 kém hiệu quả nếu như không muốn nói, thất bại.

Sau vài năm, số người kém Anh ngữ rất đông, trong khi đó các trại tỵ nạn đóng cửa. Để giúp người Việt kém Anh ngữ, Ủy ban về Người tỵ nạn Anh (British Refugee Council, B.R.C) khuyến khích thành lập Cộng đồng tỵ nạn Việt Nam tại các quận, huyện… (Vietnamese Refugee Community in…).

Chuyện thành lập cộng đồng tỵ nạn thật cần thiết, nhưng chỉ có thể thực hiện nơi người tỵ nạn sống tập trung, như các thành phố London, Birmingham, Leed… chứ những khu hẻo lánh rất khó. Không có tổ chức cộng đồng, chuyện bức xúc giữa người tỵ nạn với người địa phương không biết dựa vào đâu, làm cách nào để giải quyết.

West Lothian có nhiều khu, mỗi khu vài gia đình người Việt, dân xứ Scotland không ưa người xứ England, huống chi người nước ngoài. Đến nay, họ vẫn đòi độc lập, mặc dù lãnh đạo Công Đảng đang cầm quyền hầu hết là người Scot. Khu Broxburn và Up Hall cách Livingston gần 7 miles, mỗi khu có chừng 5, 6 gia đình. Họ dân Móng Cái, Trà Cổ, sống trong khu chung cư 4 tầng với người Scot. Trẻ con khu vực này rất hư, chẳng kém gì khu Knightsridge, thường xuyên chọc phá, dân tỵ nạn tức lắm. Nhìn qua cửa sổ, toàn bọn ngao ngao, trên dưới 10 tuổi, không có công viên, không có chỗ chơi, chúng lấy chúng tôi làm trò giải khuây.

Vợ chồng anh Q., bên Broxburn kể, một hôm mua được con gà già còn sống, của trại chăn nuôi gần đấy, chị Q. vẫy mấy đứa thường quậy phá sang cho kẹo, đưa vào bếp xem gà trong lồng. Anh Q., lấy cái thớt to, con dao phay chặt thịt, làm hiệu, “chúng bay còn đập cửa nhà tao thì, như thế này….” Vợ anh đang ôm gà, đột nhiên cầm đầu gà kéo căng, kê vào thớt, anh chồng vung dao, phập một cái, đầu gà lìa khỏi cổ, máu phọt, bắt tung toé. Cả bọn mặt cắt không còn hột máu, chạy một mạch về nhà. Từ đó, hết trò chọc phá.

Khu UpHall, có hai gia đình, vườn thật rộng, hơn trăm mét vuông. Cả hai gia đình lĩnh trợ cấp, không có việc, ngồi mãi cũng chán, xoay ra trồng rau cải thiện. Xuất thân từ cánh đồng màu Hải Hưng, cô Ph., tưới nước bón phân, bắt sâu nhổ cỏ, bài bản đúng theo truyền thống Việt Nam. Anh chồng kiếm cánh cửa hỏng, vây lại cuối vườn, đào một hố sâu. Một nhà cầu nông thôn Việt Nam thứ thiệt. Hàng ngày phân 3 đứa con + nước tiểu đổ xuống đấy, lấy đất lấp tạm, hy vọng sẽ có nguồn phân bắc, chăm bón vườn rau xanh tốt. Sau vài tháng, hàng xóm phát hiện, bẩm báo. Gia đình Ph. gặp rắc rối to. May không bị phạt tiền hay tù, chỉ bị cảnh cáo, cấm tái diễn.

Thành ngữ Việt Nam có câu: Thứ nhất quận công, thứ nhì ị đồng. Huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (cũ) nay thuộc Hà Nội, có tục ị đồng từ thời nào không rõ, nhưng ị đồng ở đây, không thể thứ nhì được, bởi “sợ lắm”, ị không được.

Năm 1953, gia đình tôi chuyển lên Sơn Tây (BVĐTN 9), hồi ấy tôi còn nhỏ nên thường xuyên theo bạn tham gia ị đồng, mặc dù gia đình tôi có nhà cầu đàng hoàng.

Cánh đồng làng dù đã gặt hay lúa còn mơn mởn đang thì con gái, hễ thấy bóng ai đi ra đồng, ngồi thụp xuống, y như rằng, gần đấy có người đàn bà, khăn che kín mặt, hở độc hai con mắt, chống chiếc đòn gánh… đứng chờ. Xí phần! Còn bé vô tư, tôi ị vẫn “như thường lệ”, chẳng thấy ngượng. Lớn lên một chút xấu hổ, hãi lắm, ị không ra, bởi nhìn quanh hai đầu bờ ruộng, bao giờ cũng có, ít thì một, nhiều hai hay ba, trông như nữ tướng, mặt bịt kín, hở mỗi đôi mắt, y như nữ võ sĩ đạo Ninja, đăm đăm nhìn, tay cầm đòn gánh chống xuống ruộng, bên cạnh đôi quang sọt, đứng chờ mình ị.

Cuối năm 1978, có anh bạn T. làm ở thị xã, quê Quốc Oai mời về chơi. Chúng tôi đi đường thủy, ca-nô xình xịch xuôi sông Đà, đến ngã ba Việt trì, sông Đà, sông Lô, sông Thao hợp dòng thành sông Cả (sông Hồng), đỏ phù sa cuồn cuộn đổ về xuôi, chảy qua huyện Quốc Oai. Phong cảnh hữu tình, dòng sông uốn lượn giữa những lũy tre làng. Gần 5 giờ chiều, ca-nô cập bến Vạn, phố huyện thay đổi quá nhiều, nhà ngói san sát, đông vui.

Khoảng 9 giờ đêm, trước khi đi ngủ, anh bạn T., cầm chiếc thuổng dựng đầu hồi, bảo: “Đêm, nếu ‘nhỡ’, bác ra cuối vườn, nhé.”

Thì ra sau 25 năm, ¼ thế kỷ, quay lại mảnh đất này, cảnh vật biết bao đổi thay, riêng ị đồng vẫn vậy. Sáng hôm sau, chúng tôi đạp xe dọc phố huyện, hai bên cánh đồng trơ gốc rạ, đây đó, vẫn cảnh, “trông ra bờ ruộng trắng phau phau”, mông của các quận công đang khoe sắc giữa gốc rạ vàng. Cách không xa, vẫn người đàn bà bịt mặt, chống đòn gánh đứng đợi.

Năm 2004, vợ chồng tôi đến thăm T., nhắc lại chuyện xưa, hỏi, cả làng vẫn làm quận công đây chứ. Cười thật tươi, T., bảo, vẫn vậy. Bây giờ dân phủ Quốc Oai thành người thủ đô, đất Tràng An thanh lịch, tục ị đồng có đổi thay hay vẫn giữ như bao đời nay.

Không biết nông thôn xứ Trung kỳ, Nam kỳ có bao nhiêu kiểu nhà cầu, riêng Bắc kỳ có rất nhiều kiểu và cách đi cầu kỳ lạ lắm. Xin kể một vài kiểu.

Người tỉnh Hà Nam được mệnh danh “dân cầu tõm”, đất miền này trũng, hễ mưa là ngập lụt, nơi đây người dân không làm nhà cầu, họ ị xuống ao. Họ nại, “tam tiện”: khỏi phải đào lỗ tốn đất, nuôi cá và… xong, có nước mà rửa. Kiểu cầu tõm bắc ngay trên ao làng hay ao nhà. Bờ ao bên kia, phụ nữ vô tư giặt chiếu, quần áo, bên này cầu ao, “quận công” tự nhiên “thả” xuống, cá tranh nhau, tòm tõm nổi cả sóng. Chỉ sợ, nhỡ bà nào cô nào ngửng đầu nghé sang thì… thôi rồi. Nhưng cả làng quen lệ, việc ai, nấy làm, chẳng ai ngó ai, nên cũng đỡ sợ. Sau này người ta đan phên quây quanh, che cho đỡ ngượng.

Miền quê Nam Định, có vùng đi cầu vào chuồng heo. Hai chân vừa bước lên, chưa kịp ngồi, tay phải bám thật chặt cột chuồng, không chắc có khi ngã ngửa. Đàn heo biết ý, ỉn ỉn chạy xung quanh, chờ dưới. Có lần, mồm mũi lợn vàng hoe, xấu hổ, đành múc dăm gầu nước giếng dội cho heo, phi tang dấu vết.

Trước tết 1968, tôi lên thăm vợ chồng bà chị ở nông trường chè Phú Thọ. Thấy nhăn nhó, biết ý, ông anh rể, dẫn ra đồi sau nhà, đưa cho chiếc gậy dài, bảo, cậu phải để ý bọn lợn gà, chó đấy. Thấy người đi lên đồi, lũ gà, lợn và con chó to xù đã theo sau hộ tống. Ngồi xổm làm quận công, tay túm quần, tay cầm gậy quơ quơ, mồm thét đuổi, ấy thế, đội quân gà lợn chó coi khinh, chúng vẫn a-la-sô tấn công bốn phía. Giải quyết xong, cũng là lúc mệt nhoài. Hỏi, sao anh chị không làm một nhà cầu cho tử tế, bà chị gái cười trừ, nhà ai cũng vậy, lâu quen rồi. Anh rể bảo, cậu mày lính mới, nó bắt nạt thôi, vụt thật mạnh, một con đau, con khác biết điều ngay.

Sống miền rừng núi, trời nóng, tắm suối phải cảnh giác. Dòng nước trong vắt, bọt trắng xóa từ trên chảy về, tự nhiên thấy có vật gì vàng vàng, lập lờ, nửa nổi nửa chìm, phải nhanh chân tránh cho xa, kẻo dính “của quý” của mấy vị quận công trên đầu nguồn. Làm Quận công ngồi xổm giữa rừng có mà vắt sơi tái. Gặp ngày mưa phùn đi rừng, khỏi phải nói, vắt vô thiên ủng. Suối là nơi lý tưởng của bà con dân tộc đi rừng, lên nương, lên rẫy làm quận công.

Thời kỳ sơ tán trong rừng, bệnh viện tôi đào hố làm nhà cầu. Mưa xuống, vắt ngửi thấy hơi người, tấn công quyết liệt. Trước khi đi, bao giờ cũng thủ 2 que dài chừng 40 cm làm vũ khí, tả xung hữu đột, hơn cả Triệu Tử Long với lũ vắt rừng. Mùa mưa, chúng tôi ai cũng mắc bệnh táo bón. Sau này, khôn hơn, rắc vôi bột xung quanh, vắt chịu thua, không vượt qua được “tường lửa”.

Mấy tuần sau, kể chuyện vụ cửa hàng, cô chú Th., bảo, tay Z., đấy, dân Bắc di cư, hễ gặp, câu trước câu sau là xỏ xiên, đểu có hạng. Trước kia, tôi không hiểu tại sao một số người tỵ nạn phía Nam rất ghét người tỵ nạn miền Bắc, nhất là dân “Nam 54”, theo đạo Ki-tô giáo, mãi sau này tôi mới hiểu. Đó là Hội chứng Hậu chấn thương tâm lý (Post Traumatic Stress Disorder Syndrome) mà y học đề cập. Chú Th., nói tiếp, quê nó ở huyện N. T., tỉnh Nam Định.

Mấy xã huyện N.T, tỉnh Nam Định, tôi lạ gì, dân nghèo lắm. Ngày mùa, ăn ngày có một bữa thôi à, thương lắm. Không biết tháng Ba ngày Tám giáp hạt, họ có đủ gạo ngày 1 bữa không.

Từ năm 1958, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà áp dụng theo đường lối giáo dục của Trung Quốc, “Vừa hồng vừa chuyên”, hàng năm học sinh cấp 3, sinh viên phải xuống lao động nông thôn 2 tuần gặt lúa, lao động công ích.

Năm 1962, lớp tôi xuống xã N.T, huyện N.T tỉnh Nam Định giúp dân gặt mùa. Tôi và M. được phân công “ba cùng” với gia đình ông bà H. Nhà chỉ có hai bác, xấp xỉ ngũ tuần, gia đình neo đơn, nhà tranh vách đất, một gian hai chái, bên trái là kho thóc, bên phải buồng ngủ, gian giữa kê tấm phản, trên bàn thờ gia tiên. Sau khi nộp gạo, tiền theo tiêu chuẩn, sửa soạn xong, chúng tôi được nhường chiếc phản gian giữa làm nơi nghỉ.

Tờ mờ sáng hôm sau, gà gáy rộn làng trên xóm dưới, chúng tôi được bác trai đánh thức. Rửa mặt xong, vẫn còn ngái ngủ đã thấy mâm cơm bày giữa sân. Nồi cơm gạo mới, thơm ngát, trên mâm gỗ bày ba món: rau muống luộc, cà muối và mắm cua đồng giã dối, muối xổi, càng cua, chân cua màu đen đen hung hung đỏ, còn giơ cả 4 vó trong chiếc bát đàn. Cả đời tôi, đây là bữa cơm sáng ăn sớm nhất. Hai thằng cố nhét chỉ được một vực, đứng lên, bà bảo, các cháu ăn no mới ra đồng được chứ. Biết thế, nhưng không thể nào ăn no lúc hơn 5 giờ sáng được.

Làm quần quật từ sáng sớm, vừa gặt vừa chuyển lúa về kho hợp tác, mệt bở hơi tai, gần 11 giờ trưa chúng tôi mới được nghỉ. Tất cả ngồi dưới gốc đa bên đình làng. Hai cô gái quẩy bữa trưa cho bọn thợ gặt. Hí hửng tưởng cơm, hóa ra rổ khoai lang và thùng nước chè xanh, dăm cái bát đàn sứt miệng, hai cái điếu cày. Mỗi “thợ gặt” chúng tôi được ba củ khoai giãi, gần bằng cổ tay trẻ con. Ắn xong, bụng vẫn lép kẹp. Tôi và M. lăn ra quay ngay dưới gốc đa làm một giấc. Gần 2 giờ chiều, thợ gặt chúng tôi tiếp tục, đến 5 giờ. Sau khi chuyển hết lúa vào kho, ra ao làng rửa ráy, tắm giặt, hý hửng đói thế này chắc ăn được nhiều, bù cho bữa sáng.Vừa đi vừa hy vọng chủ nhà đang đợi chúng tôi về ăn. Nhưng không, bếp lạnh tanh, kiềng trên bếp không nồi, không lửa, hai ông bà đang quét sân, dọn dẹp, đánh rơm. Chúng tôi không hiểu thế nào, đi tìm bạn cùng tổ xem binh tình ra sao. Gặp nhau, đứa nào đứa ấy, nhìn nhau lắc đầu, cười mà mồm méo xệch đến mang tai, nhà nào cũng thế, họ không ăn bữa tối. Cả tổ rủ nhau ra đầu làng tìm quán mua quà. Ai ngờ, cả xã chẳng có quán nào. Thôi chết cha rồi, tối nay chắc nhịn. Ngủ sao được, sáng có lưng cơm, trưa 3 củ khoai ranh, bụng sôi ùng ục, biểu tình chống phá.

Đúng thật, dân mấy xã huyện Nam Trực này ngày ăn có một bữa, kể cả đang mùa gặt, bữa trưa ăn dăm củ khoai, đêm không phải làm, dạ dày phải nghỉ. Đúng câu ca dao: Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ. Bà con bao đời quen ăn ngày một bữa, chúng tôi dân tứ xứ, ăn hai bữa đã quen, lại đang tuổi ăn tuổi lớn, làm sao chịu nổi. Không hàng quán, hai tuần kéo dài, có mà giơ xương sườn, ốm to.

Tổ tôi 12 đứa, 8 nam 4 nữ, vừa đi vừa tính kế, ngó nghiêng xem có thứ gì mua được nhét vào dạ dày đang réo. Vườn nhà ai cũng đầy cây giong giềng, thằng T., quê Ý Yên bảo, củ giong giềng luộc ăn ngon lắm.

Thời bấy giờ, trước khi chúng tôi đi lao động nông thôn, ban giám hiệu, đảng ủy, đoàn thanh niên nhà trường, bao giờ cũng nhắc nhở, nghiêm cấm tán tỉnh, yêu đương, ai vi phạm, nhẹ cảnh cáo ghi lý lịch, nặng đuổi học. Chúng tôi rất sợ, chấp hành nghiêm chỉnh. Nhưng trường hợp này ngoại lệ, tổ tôi hội ý chớp nhoáng, cho phép “tiếp cận” trai gái trong làng, cứu đói.

Con gái làng thấy thanh niên Hà Nội đã cảm tình, huống chi nay mai làm bác sĩ, không chỉ chúng tôi, chính các cô cũng rất chủ động “tiếp cận”, cha mẹ họ hàng ủng hộ tích cực.

Ngõ bên, có 2 cô tuổi 17, 18, vườn đầy giong giềng, chiều hôm sau, mỗi thằng sang một nhà, vờ đi dạo qua ngõ, đứng ngắm vườn, mẹ cô Th. trông thấy tôi, đon đả mời:

“Mời cậu vào nhà chơi uống chén nước.”

Mừng rơn, không cần mời câu thứ hai, tôi đi vào. Ngồi xuống phản kê giữa nhà, bà mẹ gọi to:

“Th., ơi, đem ấm nước chè tươi lên đây.”

Bụng cồn cào, tôi chỉ dám nhấp một tí nước chè, uống vô có mà chết. Th, ngồi ngay bên mẹ, tiếp chuyện. Tôi giả đò, hỏi:

“Vườn nhà ta trồng hoa gì mà đẹp thế?”

“Hoa gì đâu, cây giong giềng đấy mà.”

“Thế ạ. Hoa đẹp quá.”

Vẫn giả ngây giả ngô, bảo:

“Giong giềng là cây gì hả bác.”

“À, cây trồng lấy củ nuôi lợn ấy mà.”

“Củ to không hả bác?”

Bà mẹ, bảo con gái:

“Xuống bếp cầm mấy củ cho anh xem. Trai thành phố có khác, chả biết gì dân quê chúng tôi.”

Cầm củ giong giềng trong tay, không biết làm cách nào “tán” Th, luộc cho một củ. Mân mê, giả vờ như chưa thấy bao giờ, tôi hỏi nhỏ Th.:

“Củ này Th., ăn sống được không?”

“Phải nấu chín chứ.”

Hình như biết ý, Th., nói với mẹ:

“U ơi, con luộc dăm củ nhé.”

Sướng mê người, gãi đúng chỗ ngứa, nhưng còn làm phách:

“Ấy chết, ai làm thế.”

Mẹ Th., cười:

“Ừ, lấy nồi 5 mà luộc.”

Tối ấy tôi được bữa no.

Từ ấy, trước khi ngủ, hai thằng đều được dăm củ nhét dạ dày. Tối nào cũng vậy, nấu cám lợn, Th, cũng bớt 2 củ, vùi xuống bếp than, giấu kín, tối đem ra đãi tôi. Giong giềng nướng, thơm, ngon lắm, dạ dày tôi ấm hẳn, hết biểu tình, đêm ngủ ngon lành. Thằng M. cũng được cô Bưởi tặng giong giềng vùi bếp. Nó sang hơn tôi, được 3 củ, nhưng nộp cho cái H. tổ phó môt củ, áo rách ít đùm áo rách nhiều, cho đỡ đói lòng.

Bao nhiêu năm, tôi vẫn không quên kỷ niệm hai tuần làm “thợ gặt” xã Nam Tân, Nam Trực, nơi dân ngày ăn có một bữa. Không biết ngày nay, họ đã đủ gạo, ngày 2 bữa rau muống, cà nén, mắm cua đồng hay chưa, khi lượng xuất cảnh gạo Việt Nam đạt 5 triệu tấn/năm.

(Còn nữa)

© 2009 Lâm Hoàng Mạnh

© 2009 talawas blog


[1] London có rất nhiều hội nhà cửa (Housing Associations) cho thuê nhà.

Phản hồi

3 phản hồi (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Nụ cười đời tỵ nạn (2)”)

  1. Phùng Tường Vân nói:

    CẢM KHOAI THI

    “Từ ấy, trước khi ngủ, hai thằng đều được vài củ nhét dạ dày. Tối nào cũng vậy, nấu cám lợn, Th, cũng bớt 2 củ, vùi xuống bếp than, giấu kín, tối đem ra đãi tôi.”

    TỪ ẤY chỉ mong tìm xó bếp
    Đời thêm hai củ đủ lên hương
    Hồn tôi vương những rơm cùng rạ
    Thương tưởng làm sao, chốn địa đàng !

    Hoàng Cát viết truyện Táo Ông Lành mà chết lên chết xuống, còn “Cảm Khoai Thi” này của tôi mà được khai minh vào thời buổi ấy chắc chắn là bị “trảm giam hậu”. Phải hôn bác Mạnh ?

  2. vantruong nói:

    Đọc chuyện bác Lâm Hoàng Mạnh kể mà cái đầu méo mó của tôi lại cứ tưởng tượng thấy ra Thượng Tướng Nồng-Cứt-Xốt đương cởi quần (chứ không cỡi lừa) múa Đả Cẩu Bổng đuổi heo chó gà mà phát (phì) cười.
    Chuyện “trảm kê” mà xảy ra bên Pháp thế nào cũng bị người đẹp (một thời) Brigitte Bardot xuống hỏi giấy (vos papiers SVP) liền.
    Chuyện “cầu tõm” nghe kể ở đâu tôi quên mất, một bà đầm vợ một ông Việt kiều gốc trong Nam có bỏ công quyên tiền xây thêm nhà xí cho hàng xóm ông chồng, và cho ý với chồng thâu tiền mấy ai muốn đi xem bà đầm đánh đu “cầu tõm”, lấy tiền đó đi xây nhà vệ sinh cho đúng tiêu chuẩn Thổ Nhĩ Kỳ.
    Cám ơn chuyện kể có hướng tếu của bác.

  3. Phùng Tường Vân nói:

    “U ơi, con luộc dăm củ nhé.”
    Sướng mê người, gãi đúng chỗ ngứa, nhưng còn giả bộ làm phách:
    “Ấy chết, ai làm thế.”
    Mẹ Th., cười:
    “Ừ, lấy nồi 5 mà luộc.”

    Đọc ông, khoái nhất là gặp lại những từ mà lâu rồi tưởng như đã khuất lấp cùng với quê hương xa mù mịt, “nồi năm” chẳng hạn!

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả