talawas blog

Chuyên mục:

Hoàng Vũ Thuật – Cô đơn thuộc phạm trù cái Đẹp (2)

18/12/2009 | 2:02 chiều | 2 phản hồi

Tác giả: Hoàng Vũ Thuật

Chuyên mục: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

Nguyễn Đức Tùng thực hiện

Nguyễn Đức Tùng: Tại sao anh làm thơ? Anh viết cho ai?

Hoàng Vũ Thuật: Đến bây giờ tôi cũng không lý giải nổi tại sao mình lại làm thơ? Tôi nhớ hồi cải cách ruộng đất, gia đình tôi bị quy địa chủ, anh tôi theo học ở thị xã Đồng Hới phải bỏ học, chị tôi cũng vậy. Hơn hai tuổi tôi đã phải mồ côi cha. Cha tôi người học rộng, mất năm 1947. Mẹ tôi bảo, con phải đi học, không thì gia đình mình không cất nổi đầu lên đâu. Tôi lơ mơ hiểu. Nhưng muốn đi học, tôi phải tìm đến thầy giáo ở khác xã và phải ra đi từ bốn giờ sáng, về lúc phải bảy tám giờ tối, nếu không lũ trẻ cùng lứa biết được, sẽ xé hết sách vở. Chúng nó bảo mày là con cái địa chủ. Địa chủ hết thời, nông dân vạn đại, mày không được học hành hơn bọn tao nghe không.

Nguyễn Đức Tùng: Thời thơ ấu khốc liệt chắc chắn sẽ ghi lại trong mỗi người những dấu ấn lạ lùng của nó.

Do nghề nghiệp chuyên môn, tôi hằng quan sát và thấy rằng đối với người có nhân cách yếu đuối, đó là sự khuất phục trước các tổn thương quá khứ, đối với người rất mạnh mẽ, đó là sự chống trả. Nhưng thường thì có cả hai, vì tôi tin rằng mỗi chúng ta, gần như không có một ngoại lệ nào, đều cùng một lúc vừa yếu đuối lại vừa mạnh mẽ.

Nhưng dĩ nhiên, nhân cách ấy còn tùy thuộc vào hoàn cảnh mà biến đổi mỗi ngày, chứ không hoàn toàn cố định. Một môi trường xã hội lành mạnh sẽ tạo ra nhiều nhân cách lành mạnh hơn. Và ngược lại.

Hoàng Vũ Thuật: Tôi vốn đứa trẻ nhút nhát với những chuyện ma quỷ. Để xóa đi nỗi sợ, tôi vừa đi vừa nói huyên thuyên, mắt nhìn lên vòm trời, không dám ngoái lại phía sau. Chao ôi, chỉ còn những ngôi sao làm bạn với mình, những ngôi sao thật đáng yêu, nó không thô bạo và hung hãn như những đứa trẻ kia. Ám ảnh về tuổi thơ cùng với những bài hát ru của mẹ lúc ốm đau, lời dạy dỗ của mẹ tôi khi lười nhác, trốn học, lang thang trên những cồn cát trắng đến rợn người, đã khảm vào tâm trí, thôi thúc tôi viết những câu thơ rất buồn. Hình như với tôi câu thơ vui cũng được chưng cất từ nước mắt.

Nếu hỏi tôi làm thơ để làm gì, và, anh viết cho ai? Tôi sẽ trả lời dứt khoát, viết để giải tỏa những ẩn ức luôn đeo đẳng mình, viết cho mình. Tôi quan niệm rằng, thơ là dấu ấn cá nhân. Dấu ấn từng cá nhân làm nên dấu ấn xã hội. Một xã hội tốt đẹp hay không, hãy nhìn vào từng cá thể ấy. Tôi cự tuyệt với những thứ thơ chung chung, những thứ thơ lấy đề tài, chủ đề làm thước đo cho nghệ thuật. Vì thế, các nhà thơ đích thực họ luôn cô đơn trước đám đông, thậm chí bị khích báng, lên án hoặc chỉ trích.

Nguyễn Đức Tùng: Như thế nào?

Hoàng Vũ Thuật: Một số tập thơ tôi ra đời hay bị chỉ trích. Tập Thế giới bàn tay trái, dư luận cho rằng tại sao không là thế giới bàn tay phải? Bút chiến trên báo Quảng Bình và tạp chí Sông Hương, Nhật Lệ, Nhà Văn, Văn Nghệ kéo dài hai năm liền sau khi tập thơ Đám mây lơ lửng của tôi ra đời không bao lâu, dù nó được vào chung khảo cho giải thưởng hằng năm của Hội Nhà văn, năm 2001. Năm 2003, tôi cho tái bản Đám mây lơ lửng cùng phần “Dư luận”, gồm 17 bài để ghi nhớ sự kiện ấy. Năm 2004, Hội Nhà văn mới trao tặng thưởng cho tập Tháp nghiêng của tôi. Tiến sĩ Đỗ Lai Thúy viết về nó có cái đầu đề rất thú vị – một vĩ thanh cho tập thơ trước “Tháp nghiêng và nỗi ám ảnh bởi Đám mây lơ lửng”.

Nguyễn Đức Tùng: Chiến tranh đã ghi dấu ấn trong thơ anh ra sao?

Hoàng Vũ Thuật: Thế hệ chúng tôi không ai không viết về chiến tranh. Chiến tranh để lại bao nhiêu đau thương cho đất nước, cho dân tộc. Anh Nguyễn Đức Tùng cũng đã viết về nó rất day dứt trong bài bàn về văn học miền Nam trước năm 75. Chiến tranh gõ cửa từng ngôi nhà, từng mảnh vườn, từng con đường. Chiến tranh đã làm bao người mẹ mỏi mòn con mắt, bạc tóc chờ chồng chờ con. Không viết về chiến tranh là có lỗi với dân tộc, với đất nước. Nhưng viết về chiến tranh sao đây để tác phẩm không là sản phẩm đơn tuyến, một chiều, mặt khác làm đúng thiên chức của văn học? Bởi vậy nhiều tác phẩm đến với độc giả đã gây nên tranh cãi nhiều chiều, như tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Đêm thánh nhân của Nguyễn Đình Chính chẳng hạn.

Tôi vốn yêu nhạc Trịnh Công Sơn, những bài Đại bác ru đêm, Đàn bò vào thành phố… cho tôi một cái nhìn sâu vào chiến tranh. Bài Mùa xuân đầu tiên của nhạc sĩ Văn Cao viết năm 1976, rất xúc động. Ông đã ràng rịt vết thương lòng người sau chiến tranh bằng thứ ngôn ngữ âm nhạc đầy thuyết phục. Có điều người ta chậm nhận ra thang thuốc thần đó, cho nên mười năm sau bài hát mới được cất lên, sau khi bôn ba ở nước ngoài rồi mới quay trở về Việt Nam. Giờ đây Mùa xuân đầu tiên là một trong số tác phẩm hay nhất của ông để lại cho nền âm nhạc dân tộc. Đấy là số phận nghệ thuật.

Nguyễn Đức Tùng: Trong một đêm ở Sài Gòn cách đây nhiều năm, ngồi bên người yêu, bây giờ đã mất, tôi nghe ca sĩ hát bài này. Lúc đó lòng tôi tràn ngập bởi một nỗi buồn xen lẫn niềm vui kỳ lạ, một nỗi tiếc thương đất nước bàng hoàng. Tôi tin rằng đó là một trong những bài hay nhất của Văn Cao.

Hoàng Vũ Thuật: Tôi có người anh ruột tên là Hoàng Vũ Thuần hi sinh trên chiến trường miền Trung. Đầu năm nay gia đình đã tìm được hài cốt đưa về an táng, bằng con đường ngoại cảm. Mẹ tôi không còn nữa để đón anh tôi vào nhà, như nỗi niềm quằn quại bao năm của người. Còn bao nhiêu người lính khác đã nằm xuống trên hai miền đất nước?

Năm 1980 trong một chuyến đi, sau mưa bão, bạt ngàn lau trắng đã hối thúc tôi viết nên những câu thơ với lời đề từ “viết cho người anh đã mất”: Người đi đi mãi chưa về / Ngàn lau xào xạc nói gì hỡi lau / Trắng từ xưa tới mai sau / Thời gian không tuổi nên lau không già / Núi ngồi núi đứng gần xa / Núi con núi cháu núi bà núi ông / Qua trảng bom lại trảng bom / Diết da màu trắng không mòn người ơi / Cái màu trắng tựa mây trôi / Bồng bềnh trên đất cuối thời chiến tranh.

Giữa cuộc sống yên bình:

Ở đâu đồng bãi biếc thanh

Ở đâu ngọn khói chiều xanh với chiều

Đâu con đường của tình yêu

Tím màu hoa tím rất nhiều là đâu

Thì trái lại:

Mà đây lau nối mùa lau

Ứa từ sông thấp núi cao chẳng ngừng

Cầm nhành lau trắng rưng rưng

Nhớ con sông lạ cánh rừng chưa quen

(“Lau trắng”)

Có lần nhà thơ Hoàng Hưng đọc bài “Kiếp hoa” của tôi ông bảo, hai câu thơ dưới đây nằm trong số ít những câu thơ hay viết về chiến tranh:

kẻ mộng du dò từng bước một

những bóng ma tự vuốt lấy mặt mình

Tôi bảo tôi không tin như thế. Nhưng tập tục xưa nay của người Việt, khi người chết thì được người sống vuốt mắt cho, đó là nghĩa cử vừa an ủi vừa tiễn biệt. Thực tế ở chiến trường có khi không một ai sống sót để làm cái công việc sau cùng ấy. Rùng rợn và đau đớn thật!

Nguyễn Đức Tùng: Rất đau đớn. Nhưng thưa anh, anh Hoàng Hưng có lẽ đọc không kỹ. Có lẽ nguyên ủy nhà thơ Hoàng Vũ Thuật muốn nói là “những bóng ma tự vuốt mắt mình”. Vuốt mắt cho người chết, tự vuốt hay là vuốt cho nhau, hay lắm. Chứ “vuốt lấy mặt”, thì người đọc tưởng là họ đang đi trong mưa.

Tôi đọc thơ có khó tính lắm không?

Hoàng Vũ Thuật: Không, không sao. Nguyên bản thơ tôi là vuốt mặt. Có thể như anh nói hay hơn thật. Ngoài đời thì nói vuốt mắt, nhưng trong thơ dùng vuốt mặt là chủ ý của tôi. Đó là sự tiếp xúc gần gũi, sự đụng chạm máu thịt thiêng liêng sau cùng của người sống và người đi xa.

Nhớ năm 1973, học ở Trường Viết văn Trẻ, ở Quảng Bá, Hà Nội, tôi đăng kí đi thực tế chiến trường. Vào Quảng Trị nhà thơ Thanh Hải đưa đoàn chúng tôi về làng Nhan Biều, ranh giới của chiến tuyến sông Thạch Hãn. Lính hai bờ sông thi nhau đào công sự. Tôi ngồi chót đuôi một súc gỗ để được nhìn bên kia rõ hơn. Thế là các người lính bờ Nam dừng đào, đứng lên vẫy tay, có lẽ họ muốn tôi bơi qua sông. Ma Văn Kháng trêu tôi, chắc là Hoàng Vũ Thuật có người anh bên đó. Tôi bảo có đấy, cả dân tộc này ai mà chẳng như thế. Nếu tôi không chứng kiến tận mắt bi thương và cũng là bi kịch, thì làm sao viết nổi bài thơ “Ý nghĩ từ đất này”, để in vào Văn Nghệ Quân Đội năm sau, trong đó có đoạn: nhà mẹ bên này sông / chiếc cầu vỏ bom bi bắc qua bờ ao đi vào ngõ / mảnh vườn rộng gió / thổi hai chiều tóc mẹ trắng màu mây.

Viết về chiến tranh chẳng bao giờ ngừng. Bởi bao đời nay nấm mồ chiến tranh đã thành “núi ngồi, núi đứng, núi bà, núi ông, núi con, núi cháu’’ rồi. Từ cổ chí kim, các thức giả, văn hào thi nhân đã viết. Tác phẩm đứng được hay không, là do lương tri người cầm bút. Lương tri hợp với lòng người, nói thay cho lòng người, thì nó tồn tại. Dân tộc nào cũng yêu chuộng hòa bình. Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng, đó cũng là lẽ sống phải không anh Nguyễn Đức Tùng?

Nguyễn Đức Tùng: Trong thơ anh, thấm đẫm tình yêu nồng nàn đối với quê hương. Được biết anh sinh ra ở Lệ Thuỷ và đang sống tại Đồng Hới, Quảng Bình, những địa danh nổi tiếng. Cát trắng biển xanh, người đẹp, đa tình, chung thủy, những không gian văn hoá đặc biệt. Thiên nhiên và con người ở đó đã ảnh hưởng đến thơ Hoàng Vũ Thuật ra sao? Ngày nay cái đẹp tinh thần ấy có còn chăng?

Hoàng Vũ Thuật: Làng tôi nằm giữa hai thế đất, một bên những động cát trắng xóa chạy dài ra tận biển, một bên phá Hạc Hải, cái nghiên mực thiên nhiên nổi tiếng, nơi phát tích câu ca “nhất Đồng Nai, nhì hai huyện” (tức Lệ Thủy, Quảng Ninh bây giờ). Phía tây nam là dải Trường Sơn hùng vĩ, có ngọn Đầu Mâu nhọn như tháp bút. Chiều chiều lúc hoàng hôn xuống, một cảnh tượng ngoạn mục xảy ra. Trong mờ ảo chập chờn, bóng núi ngã xuống mặt phá, ta có cảm giác ngọn bút Đầu Mâu chấm xuống nghiên mực Hạc Hải đang viết lên trời những dòng chữ mây bí ẩn. Tiếc thay, hai mươi năm trở lại đây, trong kế hoạch ngăn mặn, người ta đã làm cho Hạc Hải không còn. Môi trường đầm phá biến mất cùng bao hải sản nước lợ, như tôm, cua, rạm, cá cùng với hàng chục loài chim trời hiếm quý. Biết làm sao, khi những cái đầu không giống nhau, thì còn sinh ra bao nỗi bi thương khác nữa.

Quảng Ninh, Lệ Thủy nơi sinh ra nhiều danh nhân nổi tiếng, trong số đó Dương Văn An, tác giả Ô Châu cận lục, cuốn địa chí đầu tiên ở nước ta, Nguyễn Hữu Cảnh, một nhân vật kiệt xuất, văn võ song toàn, người mở cõi để có một Việt Nam như ngày nay. Rồi, Hoàng Hối Khanh, Hoàng Kế Viêm, cùng bao nhân vật kiệt xuất khác. Ngày nay, nhắc đến Võ Nguyên Giáp, ta đã nghĩ ngay tới tên tuổi mười vị tướng thế giới. Đối lập với Võ Nguyên Giáp, cách làng ông một con hói nhỏ là quê hương của ông Ngô Đình Diệm.

Gia phả Hoàng tộc tôi gốc làng Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Sơn Tây cũ, có ghi: Thủy Tổ Hoàng Cai Sấu Linh Quan, vâng mệnh Bổn triều, Nam di chinh phạt. Sự bình chiếm đắc địa phận lập nên làng Thạch Xá bây giờ.

Nguyễn Đức Tùng: Anh đã từng là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình. Theo anh, ở đó hiện nay, các nhà thơ nào là quan trọng nhất? Anh có mối quan hệ như thế nào đối với các nhà thơ ở địa phương? Nếu có thể, xin cho tôi nghe một vài bài thơ của họ.

Hoàng Vũ Thuật: Quảng Bình quê hương các nhà thơ nổi tiếng thời Thơ Mới: Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư và Nguyễn Xuân Sanh. Thời kháng chiến chống Pháp Xuân Hoàng, Gia Ninh, Nguyễn Anh Tài, là đại biểu tiêu biểu hơn cả. Trước và sau những năm 70, một loạt các tác giả mới trở thành nòng cốt, Trần Nhật Thu, Đông Trình (miền Nam), Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Hải Kỳ, Nguyễn Khắc Thạch, Nguyễn Văn Dinh, Lê Xuân Đố, Phi Tuyết Ba, Ngô Minh, Vĩnh Nguyên, Trần Quang Đạo, Đỗ Hoàng, Lý Hoài Xuân, Nguyễn Hữu Quý, Mai Văn Hoan, Thai Sắc, Văn Lợi… Lớp nhà thơ này tản mác nhiều nơi, trong Nam, ngoài Bắc. Bút pháp hiện thực chi phối và đeo bám dai dẳng công việc sáng tạo của họ, làm nên sự nổi tiếng một thời. Trong số này, Lê Xuân Đố, hiện sống ở Sài Gòn, Trần Quang Đạo, Phi Tuyết Ba và Nguyễn Hữu Quý ở Hà Nội, Nguyễn Khắc Thạch, Ngô Minh, Vĩnh Nguyên ở Huế tìm cách vượt rào, để thay đổi bút pháp quen thuộc.

Nguyễn Đức Tùng: Ví dụ?

Hoàng Vũ Thuật: Đọc những câu thơ: loài chó nồng nhiệt hơn hẳn chúng ta / trời phú đức tính trung thành / ta xúc động và nhiều khi tự ái (“Thơ cho Bim” – Lê Xuân Đố), bên thềm hoang / thiếu phụ / thoát y nằm / ngọn nến cháy / sau vầng trăng khuyết (“Thiền” – Nguyễn Khắc Thạch), cát trắng nhuộm màu bóng tối / cây như bóng người thiền dưới trời khuya (“Khúc biến tấu xương rồng” – Trần Quang Đạo) đã đào sâu vào âm bản các hiện tượng, một kiểu tư duy lật ngược. Cái trật tự bấy lâu về đời sống tinh thần của con người nom ra quá cũ kỉ, không còn phù hợp nữa. Tiếc rằng hiện tượng trên không trở thành phổ biến, và, không phải ai cũng chấp nhận.

Nguyễn Đức Tùng: Xin trở lại với thơ anh. Một dòng thơ, giọng thơ thế sự.

Chân lý đường cong

Cái nhíu mày

Đủ cho người ta đi thụt lùi ra cửa

Khuynh hướng này là một trong những khuynh hướng chính của thơ Hoàng Vũ Thuật, bên cạnh thơ tình và thơ về quê hương đất nước.

Trong thơ anh, có sự giận dữ phẫn nộ của một công dân không?

Hoàng Vũ Thuật: Sao lại không? Nhà thơ là một công dân, nói tiếng nói của công dân, hiểu sâu sắc thân phận của công dân. Nguyễn Long trong bài “Thường dân” đúc kết rất chí lý:

Khi là cây mác cây chông

Khi thành biển cả, khi không là gì

Thay vì vác đơn đi kiện, anh lấy thơ làm văn bản tư tưởng để đấu tranh vì lẽ công bằng, chống lại cái ác, kéo con người về phía thiện. Cứu rỗi thế giới, là chức năng muôn thuở của thơ ca nghệ thuật.

Văn-bản-thơ tôi đã nhiều lần trình bày: vụt qua chiếc xe đen nhoáng vầng trán / sắp nứt đôi vành tai sắp rớt / vụt qua gánh hàng rong đặc sệt mồ hôi / vụt qua tiếng rú điên dại và / giấc mơ khóa chặt / vụt qua cái nạng gỗ vang lên âm thanh / huyệt mộ / vụt qua chiếc xích lô bánh đặc lăn không biết mệt / vụt qua người dắt chó / như chó dăt người (“Tháp”).

Nhưng sự phẫn nộ của thơ khác với biện pháp người đời.

Kinh Thánh có câu: “Một nơi náu ẩn cao trong thì gian truân”.

Nguyễn Đức Tùng: Ảnh hưởng của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đối với thơ và văn xuôi Việt Nam ngày nay ra sao?

Hoàng Vũ Thuật: Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa tạo nên rãnh tư duy một chiều bền lâu, chưa thể xóa hết, mặc dầu phương pháp đó chỉ tồn tại trong văn học sử, hầu như không ai lấy đó để cổ xúy công việc sáng tạo.

Tuy vậy, do yêu cầu của người biên tập, để tuyên truyền, cổ vũ một chủ đề nào đó, thơ thời sự vẫn có chỗ đặt chân. Ở các tỉnh địa phương còn nặng nề hơn. Một số nhà thơ tìm cách dung hòa hai yếu tố làm một, sản sinh ra thứ thơ đầu Ngô mình Sở.

Trong thơ, trữ tình thế sự vốn đã ẩn chứa thời cuộc, thân phận, gương mặt xã hội, tức là đã có tính “thời sự”. Sáng tạo nghiêng hẳn về thời sự sẽ làm cho bài thơ biến thành tư liệu thô thiển, hiện thực đời sống vào thơ như một phép liệt kê. Đó cũng là nỗi buồn của thơ hiện nay.

Nguyễn Đức Tùng: Anh nghĩ gì về chủ nghĩa hậu hiện đại? Và thơ hậu hiện đại ở Việt Nam?

Hoàng Vũ Thuật: Thuật ngữ “Chủ nghĩa hậu hiện đại”, còn mới mẻ với nhiều người cầm bút Việt Nam. Đầu năm 2008, tôi được đọc cuốn Hoàn cảnh hậu hiện đại của Jean-Francois Lyotard, do Ngân Xuyên dịch. Sau đó, một số bài bàn tới vấn đề này, trên talawas và Tiền Vệ, kể cả cuộc tranh luận giữa hai ông Hoàng Ngọc HiếnHoàng Ngọc-Tuấn, cũng chưa thể giúp tôi hiểu sâu hơn các tư tưởng triết học và phê bình lí luận tiên tiến của thế giới, ứng dụng cho văn học Việt Nam. Sự chuyển biến từ hiện đại sang hậu hiện đại làm xuất hiện một tâm thức mới trên nhiều mặt đời sống, chứ không riêng gì văn chương nghệ thuật. Nhưng tôi hiểu rằng, đó là một cuộc cách tân khai phóng, kiến tạo những hình thức mới, đa dạng, không ngừng thay đổi trước guồng quay khách quan của xã hội.

Từ thực tế, tôi nghĩ thơ hậu hiện đại ở Việt Nam chưa thể nhập cuộc thành trào lưu sáng tác. Một số nhà thơ quan tâm đến xu hướng này, nhất là các nhà thơ trẻ, nhưng ranh giới giữa hiện đại và hậu hiện đại chỉ dừng lại ở kĩ thuật chế tác ngôn ngữ, vắt câu, lạ hóa chữ nghĩa, không tạo ra một tâm thức mới. Một số người còn giễu “chưa đậu ông nghè, đã đe hàng tổng”, đã đi hết hiện đại đâu, mà đòi hậu hiện đại. Trong khi đó, theo ông Hoàng Ngọc-Tuấn thuật ngữ “hậu hiện đại” đã xuất hiện từ năm 1870, và thuật ngữ “chủ nghĩa hậu hiện đại” đã làm nhan đề cho một bài viết về tôn giáo có từ năm 1914.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi nghĩ thế này: nếu anh sống hậu hiện đại thì anh viết hậu hiện đại, nếu anh sống cổ điển thì viết cổ điển. Sống thơ như thế nào thì làm thơ như thế ấy. Đây là cuộc sống tâm linh, là đời sống bên trong (inner life) anh ạ.

Tôi thiết nghĩ: muốn đổi mới thơ thì phải đổi mới đời sống tinh thần của anh trước đã. Các nhà thơ có hạng đều biết rằng, một lần tính toán khôn vặt, một lần mất cơ hội về một bài thơ hay.

Hoàng Vũ Thuật: Đúng thế. Anh có thể đi xe đạp, mặc áo màu nâu. Đó là phương tiện, sở thích từng người. Nhưng đời sống bên trong, đặc biệt nhận thức, tư duy, nó quyết định cho hành động, việc làm của anh. Ngược lại, anh đi bằng phương tiện hiện đại, ăn mặc đúng mốt, có khi suy nghĩ lại lỗi thời, bảo thủ, không làm được gì.

Song, viết còn là một quá trình, đòi hỏi nhiều mặt nữa. Viết, một sáng tạo nghệ thuật, có khi tưởng đó là trời cho.

Nguyễn Đức Tùng: Trong thơ của bất cứ nhà thơ nào xưa nay cũng có những câu hay đứng xen kẽ những câu dở hoặc… vừa vừa.

Những con thuyền thúng ngày mai lại trườn về biển cả

Là một câu thật thà, hơi vụng.

Nụ hôn cầu vồng uốn cong trời đất

Là một câu thơ bay bướm, thậm chí hay, nhưng lại ít thuyết phục.

Anh úp mặt vào đời em

Giấu một miền quê đằng đẵng

Cảm động hơn nhưng vẫn không thoát được cái sáo. Hình như nó ngọt ngào quá chăng?

Không vụng dại như:

Và gương mặt hiền thục hiện về

Mùa thu bỏ quên đôi guốc đỏ

Thật ngộ nghĩnh nhưng thuyết phục.

anh đã bước lên không mệt mỏi

bằng đôi chân nối dài

Giản dị, bỏ qua tu từ, văn xuôi, mà vẫn đằm thắm mạnh mẽ. Đầy nhạc tính mới.

Nhớ lần đầu khi đọc hai câu của anh, tôi có phần hồi hộp:

Một bông một bông thôi

Giữa lạ lùng trời đất

Như một bước nhảy con trẻ tới cái đẹp. Điệp ngữ thâm trầm. Và phân vân không biết anh sẽ viết tiếp như thế nào, làm sao để ra khỏi cái luồng chảy tự nhiên – tất nhiên – số phận của nó?

Quả nhiên, anh viết:

Như trái tim nhỏ nhoi

Đọc đến đó thì đoán được anh phải kết thúc như thế nào.

Có một vật gì đang ngáng chân anh chăng? Có lẽ là chữ “như” dễ dãi? Hay một cái gì sâu sắc hơn về thi pháp?

Trong khi ở những bài khác, câu khác, Hoàng Vũ Thuật rất mê đắm, rất khai phá, thoát khỏi sức hút của trái đất.

Trăng bồ liễu

Trăng như cỗ quan tài thủy táng

Hoang dại, viết thẳng từ vô thức.

Hay dữ dội, u uất, bàng bạc:

một ngọn lửa một đêm tối một chiều tà

một vận hạn một thức thời một nguyền rủa

Tu từ dày đặc mà vẫn là một trong những câu hay nhất của thơ ca Việt Nam đương đại. Trên vai chúng, tôi vui mừng nhận ra gương mặt thơ của Hoàng Vũ Thuật tài hoa lộng lẫy.

Thưa anh, anh quan niệm thế nào là thơ hay và thế nào là thơ dở?

Hoàng Vũ Thuật: Có những bài thơ hay, nhưng không có câu thơ hay, vì cấu trúc toàn bài là một hình tượng chỉnh thể bao quát, thống soái. Ngược lại, trong những bài thơ trung bình, hoặc dở cũng có thể tìm được câu thơ hay. Trường hợp bài “Những con thuyền thúng” được cấu trúc theo chỉnh thể, các câu thơ, đoạn thơ tương tác, bổ trợ cho nhau, theo tôi, phải đọc nó trên chỉnh thể.

Trong sáng tạo đôi khi có những vật ngáng chân, như anh nói, là khi cảm xúc chưa chín tới mà anh vội viết cho lấy được, chắc chắn bài thơ sẽ rơi vào cái thế “đẻ non”. Đúng lắm anh Nguyễn Đức Tùng ạ.

Thơ hay như người đẹp ai cũng yêu. Thơ dở như kẻ gàn dở ai cũng muốn lánh.

Nguyễn Đức Tùng: Anh trông đợi điều gì ở nền thơ Việt Nam, ở nền văn học Việt Nam hiện nay? Điều gì làm anh thất vọng? Điều gì làm anh lạc quan?

Hoàng Vũ Thuật: Phẩm tính dân tộc trong mỗi người bao giờ cũng mong muốn dân tộc mình rạng rỡ lên. Tôi cũng vậy, tôi luôn mong sao nền văn học Việt Nam hội nhập được với văn học thế giới với niềm tự hào, không hỗ thẹn chút nào. Tôi đã có một bài viết “Tự do sáng tạo và xu thế hội nhập” đăng trên Văn Nghệ, Hội Nhà văn và Tiền Vệ, bàn tới vấn đề này. Một số tác phẩm văn học những năm đổi mới của Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Hoàng Minh Tường, Bùi Ngọc Tấn… về văn xuôi, của Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khoa Điềm, Việt Phương, Hoàng Hưng, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Ý Nhi, Nguyễn Trọng Tạo… về thơ, cho tôi cái nhìn hi vọng.

Nhưng tôi cho rằng đổi mới trong văn học nước ta chưa đi đến cùng. Tính trì trệ bảo thủ ở số đông nhà văn là lực cản chính họ. Tự do sáng tạo chưa thành dòng chảy cảm xúc trong mỗi người. Hình như cái dây ràng buộc “quan phương sáng tạo” một thời còn làm cho nhà văn dè dặt, e ngại. Điều này tạo ra những khoảng trống trong nhận thức, tư duy lí luận, ắt sẽ làm nên khoảng trống trong văn học.

Vậy, khó đặt văn học Việt Nam lên mặt phẳng toàn cầu để lạc quan.

Nguyễn Đức Tùng: Những người quan tâm thực sự, từ bên trong, từ đáy lòng, không thể lạc quan được về văn học Việt Nam. Theo tôi, sinh ra từ một lịch sử chia cắt, hầu hết các nhà thơ Việt Nam đều tự mình giới hạn vào cái góc sân cô lập của mình, một nhóm bạn bè riêng, một vùng ngôn ngữ riêng và một chuẩn tắc văn hoá riêng của mình.

Tuy nhiên cũng có những cố gắng nổi bật của một số nhà thơ và nhà phê bình hiện nay tìm cách thay đổi tình hình, đúng không anh? Họ đang cần phải làm gì hơn thế nữa?

Hoàng Vũ Thuật: Có chứ, các nhà thơ trẻ trên bước đường tìm kiếm họ đã phác cho mình một lối đi. Cho dù thành công và thất bại song hành, nhưng thể hiện một nổ lực quả cảm. Một số nhà thơ thế hệ chúng tôi như đã nói, cũng đang trăn trở, lắng nghe, tiếp cận cái mới để sản phẩm của mình không chững lại. Gần đây, các nhà thơ tên tuổi dường như đã định vị, cũng cho in những bài mới, mà chất giọng khác trước nhiều. Hình thức câu thơ thay đổi, nhịp vần cũng không cứng nhắc. Đấy cũng là một tín hiệu đáng mừng.

Tôi yêu các nhà phê bình đến với cái mới, trân trọng cái mới, kích thích cái mới, làm cho cái mới luôn rộng đường dư luận. Trong tình hình hiện nay, đó là những người dũng cảm.

Đó cũng là không khí của một nền văn học quẫy động, một nền văn học sung sức và phát triển mà chúng ta ước muốn.

Nguyễn Đức Tùng: Xin trân trọng cám ơn anh Hoàng Vũ Thuật.

Nguồn: Thơ đến từ đâu, trang 419 – 449. Nxb Lao Động, 2009. Bản điện tử đăng lần đầu trên talawas blog với sự đồng ý của các tác giả.

Phản hồi

2 phản hồi (bài “Hoàng Vũ Thuật – Cô đơn thuộc phạm trù cái Đẹp (2)”)

  1. Vũ Quang Khải nói:

    Trương Đức: “Rất mừng là đoạn trên không bị “đục” mất đi, vẫn được in…”
    http://www.talawas.org/?p=15462&cpage=1#comment-9784

    Đoạn ấy còn lại trong bài của Hoàng Vũ Thuật. Đó là sự may mắn (?) cho Hoàng Vũ Thuật. Nhưng điều đáng thất vọng là có lẽ chính vì thế mà Hoàng Vũ Thuật đã cố gắng biện bạch cho hành động kiểm duyệt của ban biên tập, và trách móc những nạn nhân bị kiểm duyệt và những người lên tiếng phê phán sự kiểm duyệt đối với cuốn sách này. Xin đọc lại ý kiến của Hoàng Vũ Thuật:

    http://www.talawas.org/?p=15134&cpage=1#comment-9488

  2. Trương Đức nói:

    Tuy vậy, do yêu cầu của người biên tập, để tuyên truyền, cổ vũ một chủ đề nào đó, thơ thời sự vẫn có chỗ đặt chân. Ở các tỉnh địa phương còn nặng nề hơn. Một số nhà thơ tìm cách dung hòa hai yếu tố làm một, sản sinh ra thứ thơ đầu Ngô mình Sở.

    Trong thơ, trữ tình thế sự vốn đã ẩn chứa thời cuộc, thân phận, gương mặt xã hội, tức là đã có tính “thời sự”… Đó cũng là nỗi buồn của thơ hiện nay.”(Hoàng Vũ Thuật)

    Một bài phỏng vấn rất hay. Rất mừng là đoạn trên không bị “đục” mất đi, vẫn được in. Nhưng mà tôi vẫn không hiểu được là tại sao bài thơ “Cái chết của một khứa lão” của nhà thơ Nguyễn Viện lại bị “ruồng bỏ”, không cho in. Bài thơ này cũng có tính “thời sự” đấy chứ. Đây, các bác xem này:

    “…Cô gái điếm banh lồn ở ngã tư khi đèn đỏ…”(Nguyễn Viện)

    Theo tôi, quá “thời sự”, và cũng quá “cô đơn”, và như vậy, quá “Đẹp”!

    Đúng là, trong văn học Việt Nam, ngoài “Nỗi buồn chiến tranh” ra, còn có “Nỗi buồn của thơ” nữa!

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả