talawas blog

Chuyên mục:

Bùi Văn Phú – Độc giả đến từ đâu và được đọc những gì?

18/12/2009 | 9:37 chiều | 3 phản hồi

Tác giả: Bùi Văn Phú

Chuyên mục: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: >

Sự kiện cuốn sách Thơ đến từ đâu vừa được xuất bản trong nước đã là đề tài thảo luận, tranh cãi trên diễn đàn này trong những ngày qua.

Thơ đến từ đâu là tập hợp những bài phỏng vấn với hơn 20 nhà thơ trong và ngoài nước do Nguyễn Đức Tùng thực hiện. Bản đầu tiên đã phổ biến trên diễn đàn điện tử talawas bộ cũ 2001-2008.

Đây không phải là quyển sách đầu tiên của Nguyễn Đức Tùng. Trước đó ông đã có tập tùy bút về một nhà thơ hải ngoại, tựa: Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn, 248 trang, do Nhà sách Từ Lực ở Nam California in năm 2007. Ông cũng có nhiều thơ, tùy bút và tiểu luận văn chương đăng trên tienve.org.

Thơ đến từ đâu được in trong nước và Nguyễn Đức Tùng là người làm việc với nhà xuất bản, là cầu nối giữa những nhà thơ đã được ông phỏng vấn với nhà biên tập của cơ quan xuất bản. Dù rằng ông đã cố gắng để đưa nhà thơ và nhà biên tập đến một sự đồng thuận về nội dung trước khi tác phẩm được in, nhưng đã có vài sự việc mà có nhà thơ không được biết trước, để rồi chưng hửng, ngạc nhiên, bực tức khi thấy nội dung quyển sách.

Đến nay, qua những lên tiếng của người trong cuộc như Đỗ Kh. (10.12.2009), Lý Đợi (10.12), Nguyễn Viện (11.12), Thận Nhiên (13.12), Dương Tường (16.12), Nam Dao (17.12) thì thấy rằng trong quyển sách đã có một số chỗ cắt bỏ hay sửa chữa với sự đồng ý của tác giả đóng góp. Tuy nhiên nhà xuất bản rõ ràng đã kiểm duyệt nhiều chỗ mà không có sự đồng ý của tác giả như trường hợp của Nam Dao với phát biểu ngoài luồng chính thống, khi coi cuộc chiến Việt Nam vừa qua là nội chiến. Như nhà nước vẫn kiểm duyệt câu hát của Trịnh Công Sơn: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày”. Còn nhà thơ Thận Nhiên có câu văn bị sửa làm cho ý trở nên nghịch với những gì tác giả muốn trình bày.

Như thế Thơ đến từ đâu đã bị kiểm duyệt, như mọi tác phẩm xuất bản trong nước.

Những bàn luận quanh tập sách là về chế độ kiểm duyệt tại Việt Nam. Cho rằng hiện nay không có kiểm duyệt thì đó là một ngụy biện hoặc thiếu hiểu biết về kiểm duyệt văn hoá thông tin ở Việt Nam. Không có chế độ cộng sản hay độc tài nào mà không có chính sách kiểm duyệt. Năm 2004, nhà văn Phạm Thị Hoài trong lần đến Đại học Berkeley nói chuyện đã đưa ra nhận xét rằng thời hậu đổi mới của văn học Việt Nam chính là “thời kì hoàng kim của tự kiểm duyệt”. Bà nhận định rằng báo Văn hoá Văn nghệ Công an và đặc biệt là phụ san An ninh Thế giới Cuối tháng có thể cho người viết sự tự do mà không cơ quan ngôn luận nào khác dám. Theo tôi, nhận xét trên của một nhà văn từng sống và có tác phẩm xuất bản ở Việt Nam cho thấy những nhà biên tập, tổng biên tập rất sợ công an văn hoá khi làm công tác xuất bản.

Sách xuất bản ở Việt Nam không thể qua mắt công an văn hoá (ảnh: Bùi Văn Phú)

Sách xuất bản ở Việt Nam không thể qua mắt công an văn hoá (ảnh: Bùi Văn Phú)

Tạm đặt qua bên cạnh chuyện kiểm duyệt, câu hỏi cần đặt ra là số độc giả trong nước ngày nay chú ý đến văn học, nghệ thuật có đông không? Hay nói chung số người thích đọc sách có nhiều lắm không để những tác giả hải ngoại muốn tác phẩm của mình được xuất bản tại Việt Nam và chịu điều kiện cho tác phẩm bị gọt dũa dưới lăng kính chính trị.

*

Một người dùng ngòi viết, ngày nay thì dùng phím máy vi tính, để diễn đạt tư tưởng đều mong có cơ hội chia sẻ với nhiều người những sáng tác của mình, càng có nhiều người đọc càng tốt. Trong quá khứ có thể đăng báo hay in sách. Ngày nay việc in ấn không còn là cách duy nhất để truyền đạt những cảm nghĩ về đời sống hay thảo luận văn chương thi phú, bình luận thời sự chính trị. Không gian ảo Internet đang làm công việc phổ biến thông tin văn hoá rộng rãi và nhanh chóng hơn bao giờ hết, kể từ khi cuốn sách đầu tiên là Thánh kinh Gutenberg được xuất bản cách đây hơn 500 năm.

Sau năm 1975, trước khi Internet trở nên phổ cập đã có nhiều nhà xuất bản ra đời trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Sau ngày Việt Nam Cộng hoà bị xoá tên cùng với nền văn chương của nó bị xoá bỏ thì tại hải ngoại nhiều cơ sở phát hành sách như Xuân Thu, Sống Mới, Đại Nam đã in lại mấy trăm tác phẩm được xuất bản tại miền Nam trong thời gian từ 1954 đến 1975. Sự kiện đó chứng minh một điều là dù sách cũ in lại nhưng vẫn có nhiều người hải ngoại tìm đọc. Sau có thêm nhiều nhà xuất bản khác ra đời như An Tiêm, Lá Bối, Văn, Người Việt, Làng Văn, Văn Nghệ, Văn Mới v.v… in nhiều tác phẩm của các tác giả hải ngoại.

Trong số những tác giả có số sách in nhiều phải kể đến nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn. Một trong những tác phẩm đầu tiên của ông xuất bản tại Hoa Kỳ là quyển Những người đàn bà còn ở lại, 362 trang, do Cơ sở Văn hoá Đông Phương xuất bản năm 1986 với số in 5.000 và 100 bản đặc biệt. Giá bán 9 đô-la. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng có những bộ tiểu thuyết được yêu thích và được tái bản nhiều lần. Mùa biển động xuất bản lần đầu ở hải ngoại năm 1984, tái bản lần thứ 6 năm 2001. Ngựa nản chân bon, Nxb Người Việt phát hành năm 1984, đến năm 2003 đã tái bản 4 lần. Bộ tiểu thuyết 4 tập Sông Côn mùa lũ, do An Tiêm xuất bản tại hải ngoại năm 1990, trong nước xuất bản lần đầu năm 1998, đến năm 2005 cũng đã tái bản lần thứ 3. Gần đây nhất có quyển Biến động miền Trung của Liên Thành, in lần đầu vào tháng 5.2008 và đến tháng 9.2009 đã in lần thứ 6.

Với nhiều nhà xuất bản của người Việt và cả do tác giả tự xuất bản, sinh hoạt văn học Việt ở hải ngoại đã đón nhận hàng trăm tác phẩm. Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, phụ trách tạp chí cùng nhà xuất bản Văn ở hải ngoại và là tác giả của hơn chục tác phẩm cho biết mỗi quyển sách thường có số in 1.000, nhưng ít khi có tác phẩm được tái bản.

Ngày nay, với sự phát triển của mạng lưới thông tin toàn cầu, chứ tôi không tin là vì số độc giả tiếng Việt ở nước ngoài giảm đi, nên việc in sách tiếng Việt ở hải ngoại cũng đã giảm đi nhiều so với mười năm trước đây.

Với con số người gốc Việt sống ở hải ngoại là 3 triệu, số người đọc được tiếng Việt còn ít hơn, nhưng với số in như dẫn trên và với nhiều tác phẩm có trong các thư viện đại học và thư viện công cộng thì tỉ lệ người thích đọc sách tiếng Việt ở hải ngoại cao hơn so với trong nước, vì với 86 triệu dân mà mỗi đầu sách trong nước in ra cũng thường là 1 nghìn cuốn. Số liệu trên dựa trên nhiều sách tiếng Việt trong tủ sách gia đình và thư viện Đại học Berkeley mà tôi lựa ra một số tiêu biểu dựa trên thể loại và do những nhà xuất bản khác nhau cùng với những thông tin cần thiết như số trang, số lượng in và giá bán nếu có.

  • Bác Hồ. Nxb Văn hoá Dân tộc 2000. 286 trang. Nhiều tác giả viết về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Giá 26.000 ĐVN. In 500 cuốn.
  • Thần linh đất Việt. Vũ Thanh Sơn. Nxb Văn hoá Dân tộc 2002. 1.025 trang. Giá 130.000 ĐVN. In 500 cuốn.
  • Mừng “Ngày trở về” của nhạc sĩ Phạm Duy. Nguyễn Đắc Xuân. Nxb Thuận Hoá 2006. 75 trang. Giá 20.000 ĐVN. In 500 cuốn.
  • Nhớ. Hồi ức của Phạm Duy. Nxb Trẻ 2005. 282 trang. Phạm Duy viết về những người bạn cũ mà ông đã gặp lại sau khi về Việt Nam. Giá 45.000 ĐVN. In 550 cuốn.
  • Như những ngọn gió. Nguyễn Huy Thiệp. Nxb Văn học 1997. 730 trang. In 500 cuốn. Tái bản năm 1999, bỏ phần kịch và bổ sung một số truyện mới. 621 trang. In 800 cuốn.
  • Truyện ngắn nữ trẻ chọn lọc. 55 truyện của nhiều tác giả như Phan Thị Vàng Anh, Trang Hạ, Nguyễn Phượng Liên, Cẩm Ly, Hải Miên, Lê Ngọc Diệp, Nguyễn Giáng Tiên, Phong Điệp v.v… Nxb Thanh Hoá 1998. 418 trang. Giá 34.500 ĐVN. In 800 cuốn.
  • Truyện ngắn hay 2008. 28 tác giả. Nxb Văn học 2008. 316 trang. Những truyện của Đinh Hoàng Anh, Y Ban, Ma Văn Kháng, Trần Thị Trường, Nguyễn Ngọc Tư v.v… Giá 52.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Truyện ngắn hay 2009. 27 tác giả. Nxb Văn học 2009. 380 trang. Sáng tác của Mai Ninh, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Phan Lưu, Ma Văn Kháng, Trần Thị Trường v.v… Giá 61.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Một góc nhìn của trí thức. Nhiều tác giả. Tập Bốn. Tạp chí Tia sáng và Nxb Trẻ 2004. 477 trang. Những bài viết về phát triển quốc gia của trí thức trong và ngoài nước: Trịnh Xuân Thuận, Đỗ Kiên Cường, Phan Đình Diệu, Nguyễn Đức Hiệp, Hồ Anh Thái, Trần Văn Thọ, Trần Hữu Dũng, Bùi Trọng Liễu, Tương Lai, Nguyên Ngọc. Giá 52.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Việt Nam nhất định phát triển. Minh Đường. Nxb Lao động 2003. 274 trang. In 1.000 cuốn.
  • Chiến đấu trong vòng vây. Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Hữu Mai thể hiện. Nxb Quân đội Nhân dân 2001. 370 trang. In 1.000 cuốn.
  • Chân dung và đối thoại. Trần Đăng Khoa biên soạn. Nxb Thanh niên 1999. 372 trang. Giá 30.000 ĐVN. In lần thứ 9 có chỉnh lí, 1.000 cuốn.
  • Kho tàng giai thoại Việt Nam. Vũ Ngọc Khánh. Nxb Văn hoá Thông tin 2001. 1.421 trang. Giá 145.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Thời xa vắng. Lê Lựu. Nxb Văn hoá Thông tin 2005. 420 trang. Giá 45.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Bóng đè. Đỗ Hoàng Diệu. Nxb Đà Nẵng 2005. 184 trang. Giá 25.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Khi người ta trẻ. Phan Thị Vàng Anh. Nxb Hội Nhà văn 1995. 117 trang. Giá 7.500 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Truyện ngắn Chu Lai. Nxb Văn học 2005. 422 trang. Giá 45.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Lời cám ơn ngọn lửa. Nguyễn Công Khế. Nxb Trẻ 1999. 285 trang. In 1.000 cuốn.
  • Hỏi chuyện đời bà “thứ phi” Mộng Điệp với cựu hoàng Bảo Đại. Nguyễn Đắc Xuân. Nxb Thuận Hoá 2008. 195 trang. Giá 30.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Ấn tượng Võ Văn Kiệt. Nxb Trẻ 2003. 531 trang. Những bài viết của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt. Giá 120.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Hồ Chí Minh một chân dung. David Thomas và Lady Borton. Nxb Thanh niên 2003. 139 trang. Giá 160.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Ngoại giao Việt Nam. Lưu Văn Lợi. Nxb Công an Nhân dân 2004. 823 trang. Giá 95.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Hồi ký song đôi. Tập 2. Huy Cận. Nxb Hội Nhà văn 2003. 364 trang. Giá 47.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Trịnh Công Sơn: ngôn ngữ & những ám ảnh nghệ thuật. Bùi Vĩnh Phúc. Nxb Văn hoá Sài Gòn 2008. 329 trang. Giá 52.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Hồi ký không tên. Lý Quí Chung. Nxb Trẻ 2004. 486 trang. In 1.000 cuốn.
  • Tìm hiểu pháp luật: Luật hành chính Việt Nam. TS. Phạm Hồng Thái và TS. Đinh Văn Mậu. Nxb TP. Hồ Chí Minh 2001. 440 trang. Giá 44.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Bàn về tự do. Nguyễn Văn Trọng dịch On Liberty của John Stuart Mill. Nxb Tri thức 2005. 263 trang. Giá 38.000 ĐVN. In 1.000 cuốn.
  • Đại thắng mùa xuân qua những trang hồi ký. Nxb Quân đội Nhân dân 2005. 795 trang. In 1023 cuốn.
  • Văn hoá, văn nghệ… Nam Việt Nam 1954 – 1975. Trần Trọng Đăng Đàn. Nxb Thông tin Hà Nội 1993. (Tái bản có bổ sung và sửa chữa). Cuốn sách có danh mục hàng trăm tác giả và hàng nghìn tác phẩm xuất bản thời Việt Nam Cộng hoà còn bị cấm lưu hành. 1.045 trang. In 1.120 cuốn.
  • Làm gì cho nông thôn Việt Nam? Chủ biên Phạm Đỗ Chí, Đăng Kim Sơn, Trần Nam Bình, Nguyễn Tiến Triển. Nxb TP. Hồ Chí Minh 2003. 497 trang. Giá 55.000 ĐVN. In 1.500 cuốn.
  • Trần Dần: thơ. Nxb Đà Nẵng 2008. 491 trang. Giá 70.000 ĐVN. In 1.500 cuốn.
  • Thế giới @ Thế hệ 8X. Bùi Dũng. Nxb Trẻ 2005. 238 trang. Những bài viết của giới trẻ và những trao đổi với những người trẻ thành công trong lứa tuổi 30 và 40 như Bộ trưởng Công nghiệp Hoàng Trung Hải, Hiệp sĩ CNTT Nguyễn Tử Quang, nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập, Tổng giám đốc Cà phê Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ, nhà biên kịch Phan Huyền Thư và nhà báo Tạ Bích Loan là phó trưởng ban VTV3. Giá 29.500 ĐVN. In 2.000 cuốn.
  • Đêm trước đổi mới. Nhiều tác giả. Nxb Trẻ 2006. 234 trang. Giá 36.000 ĐVN. In 2.000 cuốn.
  • Lê Vân yêu và sống. Bùi Mai Hạnh và Lê Vân. Nxb Hội Nhà văn 2006. 363 trang. Giá 45.000 ĐVN. In 2.000 cuốn.
  • Tướng Râu kẽm. Hàn Thế Dũng. Nxb Công an Nhân dân 2002. 423 trang. Giá 40.000 ĐVN. In 2.000 cuốn.
  • Chuyện Tướng Độ. Võ Bá Cường. Nxb Quân đội Nhân dân 2007. 318 trang. Giá 42.000 ĐVN. In 2.000 cuốn.
  • Điệp viên hoàn hảo. Nguyễn Phương Đại dịch cuốn Perfect Spy của Larry Berman. Nxb Thông tấn 2007. 481 trang. Giá 90.000 ĐVN. In 2.000 cuốn.
  • Nước Mỹ, nước Mỹ. Phan Việt. Nxb Trẻ 2009. 345 trang. Giá 48.000 ĐVN. In 3.000 cuốn.
  • Cánh đồng bất tận. Nguyễn Ngọc Tư. Nxb Trẻ 2006. 213 trang. Giá 27.000 ĐVN. In 5.000 cuốn.
  • Những tấm ảnh trở về. Bùi Ngọc Hiên. Nxb Phụ nữ 2005. 243 trang. Về phóng viên liệt sĩ Nguyễn Văn Giá mà hình ảnh của 50 khuôn mặt kháng chiến, du kích đã được ông chụp trong thời chiến tranh ở Quảng Ngãi, nơi Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm công tác. Giá 39.000 ĐVN. In 5.000 cuốn.
  • 35 năm và 7 ngày. Cuốn sách về liệt sĩ Nguyễn Văn Giá, người quay phim và chụp hình những bộ đội công tác ở Quảng Ngãi cũng thời với Bác sĩ Đăng Thùy Trâm. Nxb Kim Đồng 2005. 191 trang. Giá 15.000 ĐVN. In 35.000 cuốn.
  • Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Nxb Hội Nhà văn 2005. 322 trang. Giá 43.000 ĐVN. In 40.000 cuốn.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã có lần nói về những nguy hiểm đối với nhà văn trong xã hội Việt Nam: “Khó khăn lắm. Bạn cứ viết đi rồi biết. Đứng trong sự nguy hiểm về tình cảm, về tài chánh và nguy hiểm về chính trị nữa. Tôi sợ nhất hiểm họa tình cảm và tài chánh. Chỉ hai thứ đó cũng đã đủ giết một nhà văn Việt Nam rồi.”

Như thế đủ biết công an văn hoá canh chừng khắt khe đời sống văn học ở Việt Nam để đảm bảo độc giả sẽ không được đọc những gì đi ra ngoài luồng. Trong hoàn cảnh đó, Phạm Thị Hoài đã phải thốt lên rằng: “Ở Việt Nam có được tự do nghĩ không”. Chưa bàn đến tự do viết hay tự do đọc.

© Buivanphu 17.12.2009

Phản hồi

3 phản hồi (bài “Bùi Văn Phú – Độc giả đến từ đâu và được đọc những gì?”)

  1. Nam Phan nói:

    Ông Bùi Văn Phú đưa ra những dữ kiện chính xác để so sánh việc in ấn, (nói rõ ra là lượng độc giả) trong và ngoài nước như thế này thì làm ông Lê Hữu buồn 5 phút (Lê Hữu tác giả “Ngôn ngữ ngậm ngùi” 1 và 2 đăng trong tạp chí văn chương Da Màu ra tháng 10/2009). Sau khi báo động về tình trạng “như lá muà thu” cuả sinh hoạt văn chương hải ngoại, ông ấy “khám” con bệnh rồi “bốc thuốc” đại khái như sau:

    “Ngôn ngữ cũ” (chỉ ngôn ngữ của người Việt miền Nam trước 1975 mang theo trong cuộc di tản) nếu không chịu điều chỉnh, thích nghi với “ngôn ngữ mói” (chỉ ngôn ngữ đang được dùng ở trong nước) thì sớm muộn cũng “tàn” trước thế tất thắng và áp đảo của “ngôn ngữ mới” và 86 triệu độc giả trong nước.

    Để củng cố lập luận trên, ông Lê Hữu dẫn lời “đại gia” Nguyễn Mộng Giác: “tình trạng lão hóa trong sinh hoạt văn học hải ngoại trước hết đến từ tình trạng lão hóa ngôn ngữ”. Và ông còn cho biết một số vị trong “mâm văn, chiếu bút” ngoài này đang “cắn bút” trông vời “hậu phương” bao la với số triệu triệu độc giả. Hoá ra cũng chỉ là… mơ thế thôi!

  2. Trung Nu Hoang nói:

    “Ở Việt Nam có được tự do nghĩ không?”

    Nghe sao mà xót xa! Cứ theo cái đà “không được tự do nghĩ” trong cái xã hội (tự xưng là ưu việt XHCN) này thì chẳng bao lâu con người sẽ trở lại thành con vượn mất, đúng theo quy luật tiến hóa của Darwin nhé!

  3. Đỗ Kh. nói:

    “Trong hoàn cảnh đó, Phạm Thị Hoài đã phải thốt lên rằng: “Ở Việt Nam có được tự do nghĩ không”. Chưa bàn đến tự do viết hay tự do đọc.”

    Một chuyện cũ (từ thời Liên Xô nhưng vẫn còn) vui:

    Nghĩ gì thì đừng có nói đến
    Nói đến thì đừng có viết lên
    Viết lên thì đừng có phổ biến
    Phổ biến thì đừng có ký tên
    Ký tên thì đừng có trách!

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả