talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Đình Đăng – Sài Gòn / 2008

17/02/2010 | 1:27 sáng | 80 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Đình Đăng

Chuyên mục: Chiến tranh Việt Nam, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

Ne perdons rien du passé. Ce n’est qu’avec le passé qu’on fait l’avenir.

(Đừng đánh mất gì của quá khứ. Chỉ với quá khứ mà ta làm nên tương lai.)

Anatole France (1844 – 1924)

Năm nào cũng vậy, ông bạn nhiếp ảnh gia Osami Arikata của tôi thường đón xuân bằng một triển lãm ảnh, tổ chức tại một trong các galleries bé tí xíu của Tokyo. Những người được mời đến dự khai mạc là các bạn bè rất thân của ông, tất cả chỉ độ 5 – 7 người. Ông Osami có mối quan tâm đặc biệt tới Việt Nam bắt đầu từ cách đây hơn 40 năm, khi ông nhìn thấy tấm ảnh của Eddie Adam chụp tướng Nguyễn Ngọc Loan chĩa súng lục bắt vào đầu một tù binh Việt Cộng bị bắt trong trận Tết Mậu Thân 1968. Ông nói tấm ảnh đó đã làm ông bị “sốc”. Tới nay ông Osami đã đi Việt Nam hàng chục lần, chụp hàng ngàn tấm ảnh. Triển lãm lần này của ông có tên “Sài Gòn/2008”.

Toàn bộ 22 bức ảnh bày trong triển lãm (từ 11 đến 17/1/2010) tại mini gallery “Place M” ở Shinjuku lần này đều là ảnh đen trắng, và đều là ảnh chụp cùng một bức tường của một toà nhà lớn xây từ thời Pháp nằm cạnh bùng binh chợ Bến Thành. Trong một bức ảnh, bức tường toà nhà chạy dài theo luật viễn cận tuyến tính, với một người khách du lịch lưng đeo ba lô, tay xách túi đang đứng tiểu tiện vào chân tường phía xa (Ảnh 1). Trong một bức khác, một người phụ nữ tàn tật đang chống nạng đi men theo chân tường (Ảnh 2). Hai người khách du lịch ngoại quốc vừa đi vừa cắm cúi đọc sổ tay hướng dẫn du lịch, nhưng không hề để ý đến toà nhà họ đang đi ngang qua (Ảnh 3). Một bức nữa có hình một thanh niên ngồi xệp tựa vào chân tường toà nhà, mặt trông đờ đẫn như đang “phê” thuốc (Ảnh 4). Một bức chụp cảnh ban đêm với những bóng đen ma quái như từ quá khứ hiện về in lên bức tường (Ảnh 5).

Osami Arikata, Sài Gòn / 2008

Osami Arikata, Sài Gòn / 2008

Osami Arikata, Sài Gòn / 2008

Osami Arikata, Sài Gòn / 2008

Osami Arikata, Sài Gòn / 2008

Ông Osami đã đứng suốt một ngày trước toà nhà đó đó để chụp những bức ảnh này. Bức tường toà nhà đó có gì mà hấp dẫn ông đến vậy? Nếu nhìn kỹ các bức ảnh của ông thì thấy trên bức tường nhà vẫn còn hằn những lỗ đạn. “Đây chính là chỗ này 45 năm về trước,” ông Osami vừa nói vừa đưa cho tôi xem cuốn tuần báo ảnh Asahi Graph đã ố vàng, số ra ngày 10/3/1965, đăng ảnh của nhiếp ảnh gia Akimoto Keiichi. Ảnh chụp cảnh một nhóm quân cảnh Sài Gòn đang hành quyết một thanh niên bị bịt mắt và bị trói vào một chiếc cột cắm trên vỉa hè ngay trước bức tường toà nhà nói trên (Ảnh 6).

Akimoto Keiichi, Sài Gòn: Hành quyết đêm 29/1/1965 (Nguồn: Asahi Graph 10/3/1965)

Akimoto Keiichi, Sài Gòn: Cột hành quyết đêm 29/1/1965 (Nguồn: Asahi Graph 10/3/1965)

Một bức khác chụp cái cột hành quyết với một bãi máu dưới đất (Ảnh 7). Đó là một tên cướp chăng? Tôi liên tưởng tới một bức ảnh trên báo Sài Gòn Giải Phóng 10 năm sau đó chụp hai bộ đội Bắc Việt đang giương súng AK xử tử một thanh niên mắt cũng bị bịt và hai tay cánh dang ra, bị trói vào hai cái sào bắt chéo nhau, cắm vội giữa phố Sài Gòn. Chú thích bức ảnh đó đề: “Một tên cướp bị trừng trị.” Còn trong tuần báo ảnh Asahi Graph năm 1965 thì có cả một phóng sự kèm theo các bức ảnh của Akimoto Keiichi. Người bị hành quyết trong ảnh là một sinh viên 20 tuổi theo Việt Cộng. Cậu ta đã bị bắt với một trái lựu đạn giắt trong người. Cậu bị quân cảnh Sài Gòn xử bắn tại chỗ vào đêm 29/1/1965. Biệt động Việt Cộng sau đó đã đánh bom trả đũa một hotel của quân đội Mỹ tại Quy Nhơn, khiến 64 lính Mỹ và 2 biệt động đặc công thiệt mạng. “Thì ra là như vậy. Tôi hoàn toàn không được biết về sự kiện này trước đây,” tôi nói. Ông Osami thêm vào: “Tôi đã hỏi nhiều người Việt Nam quanh đấy về lịch sử bức tường toà nhà này, nhưng cũng chẳng ai biết cả.

Tokyo 9/2/2010

© 2010 Nguyễn Đình Đăng

© 2010 talawas

Phản hồi

80 phản hồi (bài “Nguyễn Đình Đăng – Sài Gòn / 2008”)

  1. Hưng Quốc nói:

    “Tôi chỉ không rõ lắm chủ ý của tác giả”, ý của tác giả chỉ là đơn giản giới thiệu tác phẩm của Osami Arikata và nói lên phần nào bộ mặt của cuộc chiến, thế thôi. Nếu cần thì ông cứ hỏi trực tiếp ông N.Đ.Đ, (ông cũng có nói là quen) riêng tôi thì thấy không cần phải giải thích gì cả . Ông lại nhìn lên thành stereotype Bắc-Nam, hay là “bói ra ma, quét nhà ra rác”, đọc bài nào cũng nhìn ở góc nhìn đó?

    “Đây là một hạn chế lịch sử nên được vượt qua, bằng cách tìm hiểu sự thật về miền Nam”

    Tôi đồng ý ở điểm này, nhưng ông đã dùng cái nhìn hạn hẹp của mình thế nên chính ông cũng chưa vượt qua được. Ngay cả về ông Đỗ Kh.ông cũng cố tình mang cái lăng kính đó vào.

    Ở phản hồi trước ông cho rằng:

    “nhiều trí thức miền Bắc khác, tôi e rằng vẫn còn khoảng cách rất xa với người trong Nam (ngoại trừ ông Đỗ Kh).”

    Ngoại trừ đích danh ông Đỗ Kh. (Ông Đỗ Kh. nổi tiếng thế)

    Phản hồi sau:

    “Đỗ Kh là người tiêu biểu vẫn còn chỉ trích VN Cộng Hoà hiện nay.”

    Giờ thì ông chuyển cá nhân ông Đỗ Kh. thành “người tiêu biểu”, ông có suy diễn quá nhanh lần nữa? Vả lại VNCH là gì mà sao không người Nam nào được chỉ trích?

  2. Ông Lê Anh Dũng:

    Hy vọng ông không có ý đồng nhất cái lề phải trong nước với cái lề phải hải ngoại. Vì một bên cuỡng chế bằng bạo lực, còn một bên là tự nguyện.

    Cái lề phải hải ngoại nó đối nghịch hoàn toàn với cái lề phải trong nước. Như vậy nếu anh đi trên lề trái ở hải ngoại, có nghĩa là anh đang đi cùng hướng với lề phải trong nước. Điều này hợp logic chứ?

    Lý lịch đi lính miền Nam theo tôi không biện hộ được cho việc người đó có chỉ trích VNCH hay không. Ông Nguyễn Cao Kỳ là tướng miền Nam, nhưng bây giờ có ai nịnh bợ CS bằng ông ấy? Cái lý lịch lính của Đỗ Kh, theo tôi đã được ông Đỗ Kh khôn ngoan sử dụng để chỉ trích VNCH hiệu quả hơn mà thôi, và bằng cách đó, gián tiếp biện hộ cho những điều tồi tệ trong nước hiện nay. Ví dụ nếu có người lên tiếng về vấn đề tham nhũng của CS, Do Kh có bài về tham nhũng VNCH. Có người nói về kiểm duyệt CS, Do Kh có bài về kiểm duyệt miền Nam, v.v… Thành tích chống “Mỹ ngụy” của ông Đo Kh dày đặt trên talawas mà ông LADũng không thấy, tôi hơi ngạc nhiên.

  3. Lê Anh Dũng nói:

    “Đỗ Kh là người tiêu biểu vẫn còn chỉ trích VN Cộng Hoà hiện nay”, tôi không nghĩ Đỗ Kh. là người chỉ trích VNCH, đừng nói tới tiêu biểu.

    Tôi đã so gươm một lần với Đỗ Kh. trên Diễn Đàn 2001-2008 nhân vụ tướng Phạm Văn Phú. Nhưng cũng cần nhắc lại về Đỗ Kh. công tử lãng mạn “tiêu biểu” thời Việt Nam chưa có Vi-xi công tử.

    Tuổi đôi tám, Đỗ Kh. công tử rời mẫu quốc bay về miền Nam nắng loá “đi quân dịch là yêu nòi giống”, đầu quân làm binh nhì sư đoàn 25; trong khi con tổng thống đã dzui học Thụy Sĩ từ trước cả tuổi quân dịch cho chắc ăn, khỏi xầm xì (cùng thời kỳ, con bí thư thứ nhất Lê Duẩn, con bộ trưởng quốc phòng Võ Nguyên Giáp cũng ở Liên xô; truyền thống học Thụy Sĩ được kế thừa bởi con đương kim thừa tướng Dũng, nhưng con Nguyễn tổng thống không có tài bằng con Nguyễn thừa tướng, tổng thống Thiệu cũng thua xa thừa tướng Dũng về mục quản lý tiền bạc, nên chưa bao giờ con tổng thống quản trị trên 100 triệu đô la). Chỉ riêng quả bay về xứ “đi quân dịch” của Đỗ Kh. công tử đã làm con tim tôi rướm máu, vì khi đó tôi đang cặm cụi học tiếng Anh ở hội Việt Mỹ, mơ một ngày dzui-học, để có ngày về nước làm cha thiên hạ.

    Không mặc cảm cộng với khuynh hướng đi lề trái trên lề phải hải ngoại (tôi ngờ Đỗ Kh. còn thích phía trái của nhiều loại lề khác nữa) góp phần làm ngòi bút Đỗ Kh. có mùi chỉ trích VNCH. Mùi đó nhưng không hẳn là vị đó.

    Phan Nhiên Hạo cũng là một tay kiếm tương đương Đỗ Kh., có thể tạm gọi là kiếm thủ đi bên phải của lề phải hải ngoại. Một lần nữa, mùi đó nhưng không hẳn là vị đó.

  4. Giác Văn nói:

    Tác giả biện minh cho bài viết là nhắc lại quá khứ để “xây tương lai trên quá khứ”, nhưng phần xây tương lai bằng cách nào thì không thấy đâu cả, chỉ thấy toàn cảnh chết chóc máu me của một thời nội chiến u mê của người Việt mình.
    Thực chất bài nầy tung lên mạng vào ngày Tết để người Việt hai bên lại cấu xé nhau, tao đúng mày sai, mày còn tàn ác hơn tao, v.v… và v.v… Để làm gì? Để mãi gấu ó nhau mà quên đi cũng vào thời gian nầy 31 năm về trước (19-2-1979) đã có hàng ngàn, hàng vạn vũng máu như trong hình của người dân Việt đã đổ xuống ở sáu tỉnh biên giới phía Bắc do bọn bành trướng Bắc Kinh gây ra. Nếu cái quá khứ nầy không được nhắc đến, không xây tương lai trên đó thì cái vòng nô lệ cho Tàu sẽ không xa.
    Cái bẫy nầy được dựng lên mỗi năm vào dịp Tết, nhớ năm ngoái là vụ triển lãm VAALA gì đó.
    Mỗi người nên tự chế để đừng bị sập bẫy.

  5. Ông Hưng Quốc:

    1) Khi dùng các cụm từ “Tôi chỉ không rõ lắm chủ ý của tác giả” và “Phải chăng”, tôi có ý mong Nguyễn Đình Đăng nói thêm về bài viết của mình. Và đó cũng là cách diễn đạt cho được nhẹ nhàng, vì thật ra giữa tôi và Nguyễn Đình Đăng có liên lạc quen biết. Chứ thật ra, tôi nghĩ cái ý cho rằng Nam-Bắc đều tàn bạo như nhau trong chiến tranh là khá rõ trong bài của tác giả. Người đọc có thể tự nhận thấy.

    Cái nhìn có tính định kiến (stereotype) của người Bắc đối với miền Nam Cộng Hoà, theo tôi là một sự thật, vì thiếu thông tin, và vì ảnh hưởng vô thức của tuyên truyền kéo dài. Ngay cả vài nhà văn cấp tiến miền Bắc đến nay vẫn còn viết về lính “ngụy” như những kẻ “ăn thịt người”. Ông có thể xem thêm dẫn chứng về vấn đề này trong bài viết sau của Phùng Nguyễn: http://damau.org/archives/8438

    Đây là một hạn chế lịch sử nên được vượt qua, bằng cách tìm hiểu sự thật về miền Nam (công việc này không dễ dàng, vì lịch sử đã được viết lại bởi những kẻ chiến thắng, trong khi sách báo tài liệu nước ngoài thì phần lớn phản chiến, thiên tả).

    2) Miền Nam trước đây có nhiều người đối lập, chỉ trích chính quyền, nhưng hiện nay ở hải ngoại không còn mấy người làm chuyện đó. Đỗ Kh là người tiêu biểu vẫn còn chỉ trích VN Cộng Hoà hiện nay. Nếu tôi không mở ngoặc về trường hợp của Đỗ Kh, có thể chính ông Hưng Quốc sẽ đưa ông Đỗ Kh ra để vặn lại tôi rằng chuyện chỉ trích miền Nam cũng có thể được làm một cách rất tích cực bởi chính người miền Nam, chứ đâu phải chỉ do người ngoài Bắc thiếu thông tin(!).

  6. Hưng Quốc nói:

    Ông Phan Nhiên Hạo nghi ngờ :

    “Tôi chỉ không rõ lắm chủ ý của tác giả Nguyễn Đình Đăng trong bài này là gì.”

    Rồi bắt đầu đoán:

    “Phải chăng ông muốn kín đáo chỉ ra rằng miền Nam Cộng Hòa cũng chẳng tốt đẹp hơn gì hơn Cộng Sản, “cá mè một lứa”, hai bên đều tàn bạo như nhau.”

    Kết luận 1:

    Nếu vậy, điều này cho thấy sự hiểu biết về miền Nam của những người lớn lên ở miền Bắc, ngay cả những trí thức khoa bảng, hết sức hạn hẹp, nếu không muốn nói là vẫn còn mang cái nhìn của người đã bị tuyên truyền quá nhiều”

    Kết luận 2:

    “Tôi tôn trọng những baì viết của Nguyễn Đình Đăng. Nhưng cái nhìn của ông về chế độ miền Nam trước 1975, giống như nhiều trí thức miền Bắc khác, tôi e rằng vẫn còn khoảng cách rất xa với người trong Nam”

    Phải nói rằng tiến triển suy luận từ một chỗ “không rõ lắm” của ông PNH nhanh quá, hơn cả phép nội suy, chóng hết cả mặt. Ai cũng biết cái lòng quân tử nó rất dài và xa nên khó đo lòng tiểu nhân, nên ông cứ thong thả mà đo thôi. Hay ông thử uống thuốc Vitamin Đảng xem có thêm “sáng mắt sáng lòng” ra không?

    Lại còn “ngoại trừ ông Đỗ Kh.”, cả miền Nam có nhõn ông Đỗ hay sao?

  7. Bắc Phong nói:

    vũng máu đọng dưới trụ hành quyết
    gợi biết bao ký ức thê lương
    mong có ngày xã hội nhân bản
    hết cảnh người đem bắn pháp trường

  8. Lê Anh Dũng nói:

    Có lẽ nhận định sau của tôi có phần qủa đoán. Chú của tác gỉa Ng. Đình Đăng không phát biểu sai, ông chỉ phát biểu rất thành thực từ vị trí và cách nhìn của ông ta. Ở đâu, và lúc nào cũng có một số người đứng ngoài, đứng trên những thăng trầm của đất nước, khi có biến thì họ biến rất sớm, rất xa. Vì ở trên, ở ngoài họ vẫn có thể thành thực có những nhận định tào lao, phất phơ về những điều họ biết lơ mơ.

    Một trường hợp đáng để ý hơn là trường hợp của Nguyễn Hưng Quốc. Tạm bỏ qua những đóng góp có thẩm quyền về văn học của ông, và để ý tới nhận định chính trị mới nhất của ông trong bài “Cộng đồng hải ngoại như một lực lượng đối lập”:

    - Cộng đồng hải ngoại như một giỏ cua, mạnh con nào, con nấy bò, sẽ vĩnh viễn và mãi maĩ không bao giờ là một lực lượng. Hoang tưởng này không bao giờ trở thành hiện thực, trừ hiện thực văn học.

    - Tiếc là link Diễn đàn 2001-2008 của talawas hiện không vào được, để tìm lại bài của Hoàng Ngọc Tuấn nói về Nguyễn Hưng Quốc khi ông Quốc không được nhập cảnh VN, hầu có thể dẫn chứng cho chính xác. Theo ông Tuấn, ông Quốc không có phát biểu hay hoạt động về chính trị nhưng bị cấm nhập cảnh. Từ nhận định của ông Tuấn về ông Quốc tới phát biểu gần nhất của ông Quốc “vai trò chính của cộng đồng người Việt ở hải ngoại, theo tôi, chính là vai trò đối lập. Đối lập không cần giới hạn. Đối lập, ngay cả đối lập cực đoan nhất, cũng là một cách thức xây dựng cần thiết. Nói cách khác: đối lập là yêu nước” là một trời và zéro vực.

    Theo tôi, phát biểu trên của ông Quốc cũng là một hệ luận của định lý “họ vẫn có thể thành thực có những nhận định tào lao, phất phơ về những điều họ biết lơ mơ”, nhưng có giá trị tích cực của nhiệt kế: Khi những nhà trí thức có vợ đẹp, nhà đẹp, vị trí xã hội đẹp như Lê Công Định; một chỗ đứng đẹp trong văn học sử như Nguyễn Hưng Quốc; một tuổi có thể an nhàn thưởng thức con cháu như Nguyễn Huệ Chi … lại lựa một vị thế khác, loạng quạng và tài tử, thì Việt Nam đã mấp mé ở giới hạn mỏi.

  9. Vũ Quang Khải nói:

    “Cháu không biết chính phủ ông Thiệu bỏ tù bất cứ ai có liên hệ với cộng sản à?”, chú nói.

    Chú của ông NĐĐăng nói vậy là sai. Không phải “bất cứ ai” có liên hệ với CS cũng đều bị ông Thiệu bỏ tù.

    Trịnh Công Sơn có liên hệ với CS nhưng chưa từng ở một ngày tù nào trước 75 cả, mà lại còn được ngồi xe chung, ăn nhậu chung với tướng tá thời ông Thiệu.

    Nếu lập danh sách những người có liên hệ với CS thời ấy mà vẫn sống phây phây thì danh sách sẽ rất dài.

  10. @ Phan Nhiên Hạo
    —————

    PNH viết: “…(trong một bài viết mới đây, NĐĐ cũng cho rằng chính quyền miền Nam bắt bỏ tù những người có thân nhân ở miền Bắc, và vài người đọc đã nhẹ nhàng “chỉnh” tác giả về điều này)” (sic)

    Bài viết mà PNH nhắc tới là bài “Ông Nomura” (http://www.talawas.org/?p=15970).
    Tôi e rằng PNH chưa đọc kỹ bài này bởi đoạn văn PNH bàn tới có nguyên văn như sau:

    (trích nguyên văn):

    Năm 1989, khi tôi gặp chú tôi lần đầu tiên tại Paris, chú tôi kể ông đã sợ hãi như thế nào khi nhận được thư bố tôi do ông Nomura chuyển:

    “Cháu không biết chính phủ ông Thiệu bỏ tù bất cứ ai có liên hệ với cộng sản à?”, chú nói.

    “Chính phủ ông Hồ cũng vậy, chú ạ. Họ lôi đi trại cải tạo tất cả những ai từng cộng tác với ‘địch’”, tôi nói.[10]

    “Thế mà làm sao bố cháu lại quen được ông Nomura, để gửi được thư cho chú, thì kể bố cháu cũng … tài thật!”, chú tỏ vẻ thán phục. Tôi im lặng.

    (hết trích)

    Như vậy câu “Cháu không biết chính phủ ông Thiệu bỏ tù bất cứ ai có liên hệ với cộng sản à?” là do chú tôi nói cho tôi nghe. Tôi chưa từng sống một ngày nào tại Sài Gòn hay miền Nam Việt Nam cho đến trước năm 1982. Vậy làm sao tôi có thể biết để rồi “cho rằng chính quyền miền Nam bắt bỏ tù những người có thân nhân ở miền Bắc” như PNH khẳng định?

    Ngoài ra, về từ vựng “có liên hệ” không đồng nghĩa với “có thân nhân”. Người ta có thể có liên hệ với nhau nhưng không phải là thân nhân của nhau, như tôi có liên hệ với các bạn tôi chẳng hạn. Ngược lại, người ta cũng có thể là thân nhân của nhau nhưng không hề liên hệ với nhau (như những thân nhân sống ớ miền Bắc và miền Nam VN trong thời kỳ chiến tranh VN, hoặc là những người họ hàng không thèm nhìn mặt nhau vì xích mích trong gia đình chẳng hạn)

  11. Trong chiến tranh Việt Nam ở Nhật cũng có những kẻ phản chiến, thiên tả, nên chuyện Nhật có những bài báo khai thác những hình ảnh không đẹp của xã hội thời chiến miền Nam không có gì đáng ngạc nhiên (dĩ nhiên họ không thể làm điều tương tự đối với miền Bắc). Tôi chỉ không rõ lắm chủ ý của tác giả Nguyễn Đình Đăng trong bài này là gì. Phải chăng ông muốn kín đáo chỉ ra rằng miền Nam Cộng Hòa cũng chẳng tốt đẹp hơn gì hơn Cộng Sản, “cá mè một lứa”, hai bên đều tàn bạo như nhau. Nếu vậy, điều này cho thấy sự hiểu biết về miền Nam của những người lớn lên ở miền Bắc, ngay cả những trí thức khoa bảng, hết sức hạn hẹp, nếu không muốn nói là vẫn còn mang cái nhìn của người đã bị tuyên truyền quá nhiều (trong một bài viết mới đây, NĐĐ cũng cho rằng chính quyền miền Nam bắt bỏ tù những người có thân nhân ở miền Bắc, và vài người đọc đã nhẹ nhàng “chỉnh” tác giả về điều này).

    Tôi tôn trọng những baì viết của Nguyễn Đình Đăng. Nhưng cái nhìn của ông về chế độ miền Nam trước 1975, giống như nhiều trí thức miền Bắc khác, tôi e rằng vẫn còn khoảng cách rất xa với người trong Nam (ngoại trừ ông Đỗ Kh).

  12. H2gcon nói:

    Người dân miền Nam trước 75 bị VC giựt mìn, pháo kích, ném lựu đạn, v.v… chết và bị thương hàng ngàn người. Vụ đánh bom hotel Mỹ ở QN cũng chỉ là một hành động khủng bố như hàng trăm hàng nghìn vụ khác chứ chẳng phải trả đũa gì hết. Còn thanh niên miền Nam bị bắn giữa phố SG năm 75 vì tội ăn cướp mới đúng là chết oan!

  13. Khiêm nói:

    Một phương cách độc đáo để gợi lại một mảnh ký ức trong bức tranh khảm lịch sử.
    Không chỉ giữa ban ngày, mà còn trong bóng tối nữa.
    Những tay trùm thâm trầm, quỷ quyệt làm gì ở miền Bắc giới nghiêm 24/24 không ai hay biết. Những tay nhà binh lôm côm làm bậy ở miền Nam giới nghiêm 8/24 rất dễ bị lật tẩy.
    Sài Gòn 2008 vẫn còn những bóng ma trong đêm tối.
    Có lẽ tác giả bộ ảnh đang thắc mắc chẳng lẽ bóng tối này không có những bí mật nào.

  14. Phùng Tường Vân nói:

    Những vũng máu của lịch sử .

    Trong nhiều ươn yếu bất lực của Miền Nam (VNCH) trong trận chiến tự vệ , cái ươn yếu tệ hại nhất là không bảo vệ được hình ảnh của mình trước đám ký giả, phóng viên đầy ác cảm với chế độ bởi vậy cho nên những tấm ảnh cực kỳ tệ hại như “Tướng Loan bắn người” và những hình ảnh tương tự như ở đây vẫn còn gây nơi người xem những xung động thật bất lợi và bị đối phương triệt để khai thác đánh thức những thù hận một phía thật bất công, đó chính là cái oan trái của miền Nam.
    Những vũng máu dưới chân cột ấy làm đau lòng tất cả mọi người, nhưng hỡi ôi có đến hàng triệu những vũng máu như vậy đổ ra trải dài suốt chiều dài lịch sử trên 50 năm nay và trải dọc suốt chiều cong của đất nước ta, truy tìm đến tận cùng thì cái nguyên nhân trước sau cũng không ra ngoài sự can thiệp của chủ nghĩa cộng sản trên số phần của dân tộc; những vũng máu của lịch sử ấy ám ảnh chúng ta nhưng những di họa của chế độ cộng sản lại vẫn còn đang là đám mây đen mù mịt khủng khiếp trùm phủ trên sự tồn vong của đất nước, điều ấy tưởng đã rõ ràng lắm.

  15. Thù hận tiếp nối thù hận, trả đũa bằng thù hận thì chỉ có thể gặt hái được thù hận to lớn hơn, đắng cay hơn.

    Hồi mình còn rất nhỏ, vô cớ giết chết một con thạch sùng, bố mình đã mắng mình là tàn ác. Đọc bài cảm thấy buồn quá. Nhưng cổ nhân đã có câu: “Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”. Hãy gieo xuống đất 1 hạt ớt, cái bạn được hưởng trong tương lai, chắc chắn là một rừng… cay nghiệt.

    Hơn năm thập niên trước, cũng những người trẻ Việt Nam vượt Trường sơn, băng hạ Lào dưới những thảm bom của pháo đài bay B52, cùng tiến về phương Nam trong niềm tin giải phóng người anh em đang bị kềm kẹp bởi “ngụy quyền”. Máu người Việt đã chảy thành sông, xương dân Việt đã chất thành núi cho một Việt Nam thống nhất (?) và rồi để cùng “được” nghèo đói như nhau. Hôm nay sau hơn 30 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, họ đã tạo được những thành tựu gì, nếu không là sinh ra một thiểu số ác quyền… và niềm hy vọng lớn của tuổi trẻ Việt Nam trong nước là được xuất khẩu lao động, hay làm dâu thiên hạ. Một đất nước mà ở đó vượt thoát khỏi quê hương lại là khát vọng ngàn đời, thử hỏi tương lai dân tộc này sẽ về đâu?

    Lần chuyển loại bảo hiểm người nghèo, chậm cấp sổ mới phải đóng 500 nghìn/lần chạy thận nhân tạo, có người thanh niên nghèo 30 tuổi bỏ chạy 3 buổi liên tục, cấp cứu không cứu được thế là chết lúc mới 30 tuổi. 1 triệu 500 ngàn đồng là cứu được một mạng người. Tết, bệnh viện nghỉ mùng 1 đến mùng 5, thông báo ai chạy thận nhân tạo trong mấy ngày đó (có ai có thể không?) phải đóng 500 nghìn/1lần, hôm nay đến phòng chạy thấy vắng 1 nửa. 500 nghìn thôi, những ai phải vật vã trong 5 ngày Tết? Có thảm kịch nào lặp lại như chàng thanh niên kia? Ps: Những người phải chạy thận nhân tạo thường là những người bệnh đã tán gia bại sản vì chạy chữa, nhưng không thể sống nếu không chạy máy 2 ngày một lần. Tất cả mạng sống của họ đều trông chờ vào bảo hiểm y tế???!!!!

1 2 3 ... 6
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả