talawas blog

Chuyên mục:

Tưởng Năng Tiến – Năm Cọp nói chuyện Cá

18/02/2010 | 6:36 sáng | 13 phản hồi

Tác giả: Tưởng Năng Tiến

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội
Thẻ: >

“Thuyền nhân, cái danh từ có một âm tượng mà mỗi khi chính quyền Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ ngay đến từ đồng ‘đô la’. Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh xẩy ra cho danh từ đó.”

Michelle Tauriac (Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism)

Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá chốt, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.

Cá hồi sinh ở sông nhưng sống phần lớn thời gian sống ở biển. Ðặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa. Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.

Cá hồi Đại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.

Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.

Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời… tha phương cầu thực.

Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” được từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ –  và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới. Mạng lưới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào… hộp!

Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu đem con bỏ chợ, để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp và mang bán.

Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chiếc. Chính phủ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

Từ năm 1978 cho đế năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân trôi sông lạc chợ này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.

Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như  vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi!

Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô la, hay nhiều hơn nữa.

Tuổi Trẻ Online, đọc được vào ngày 7 tháng 1 năm 2010, cho biết: “Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31-12-2009 kiều hối chuyển về đạt 6,283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Riêng tại TP.HCM, kiều hối năm 2009 đạt 3,2 tỉ USD. Như vậy, kiều hối đã không giảm mạnh do suy thoái kinh tế như dự báo trước đó.”

Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự)  vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nước những con nguời cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu sang.

Thiệt khoẻ!

© 2010 Tưởng Năng Tiến

© 2010 talawas

Phản hồi

13 phản hồi (bài “Tưởng Năng Tiến – Năm Cọp nói chuyện Cá”)

  1. Lâm Hoàng Mạnh says:

    Khổ cái thân tôi, năm con Cọp bước sang cái tuổi Cổ Lai Hy ấy thế mà “chả biết gì sứt” lại phải “đa tạ Bắc Phong” vì nhờ B.P mới được đọc “Sổ Tay Thường Dân”.

    Cái anh chàng TNT này cũng lạ, chỗ thâm giao thế mà không đãi được nhau món “Sổ Tay Thường Dân” hàm thụ.

    Cám ơn BP đã tặng cuốn Sổ Tay Thường Dân trên Internet, (đáng lẽ ra) TNT biếu mỗ này mới phải lẽ!

  2. Bắc Phong says:

    Bác nào chưa vào blog của bác Tiến [ http://tuongnangtien.wordpress.com/ ] thì nên vào ngay trước khi blog của bác ấy bị tấn công từ chối dịch vụ. BP.

  3. Phùng Tường Vân says:

    @Lâm Hoàng Mạnh
    Vì ông Lâm có những lời ngợi khen chí tình tác giả bài viết, ông Đoàn Nhã Văn, cho nên cho phép tôi nói thêm đôi hàng về “nhà văn họa sĩ tài hoa ấy”; tình thực chỉ rất tình cờ mà tôi được đọc ông: Nhân ghé thăm một tiệm sách Việt, thoáng thấy tên ông TNT xuất hiện ngay trên bìa sách cùng với một số nhà văn khác, tôi tò mò lật mở xem qua, lại được đọc trong “Thay Lời Tựa”, một câu mà tôi rất tâm đắc như sau : Cám ơn những nhà văn đã hy sinh nhiều thứ trong cuộc sống thường nhật để tạo nên những tác phẩm, mở ra những rung động lớn cho bạn đọc khắp nơi.” (Đoàn Nhã Văn/Thay Lời Tựa “PHÁC THẢO 15 CHÂN DUNG VĂN HỌC”/Tiểu luận – Phê bình/ Nhà Xuất Bản Văn Mới/2007) thế là tôi (ngay tắp lự) thành sở hữu chủ của cuốn sách bắt gặp được một cách tình cờ ấy !Bài viết (dài) “Thử phác họa chân dung…” mà tôi giới thiệu nằm trong tác phẩm đó và vốn là một bài ông Đoàn Nhã Văn trước đã cho chạy trên một (hay vài) mạng khác (chỉ) nhằm giới thiệu “SỔ TAY THƯỜNG DÂN” của ông Tiến vậy.

  4. Lâm Hoàng Mạnh says:

    Đa tạ bác Phùng Tường Vân đã giới thiệu bài “Thử Phác Hoạ Chân Dung Một Thường Dân” của tác giả Đoàn Văn Nhã, (mà) nhờ bác bây giờ tôi mới được đọc.

    Theo tôi, đây là bức ký họa chân dung của một nhà văn-họa sĩ tài hoa, gửi gắm lòng ái mộ của mình đến “bác phó thường dân” TNT. Chỉ dăm nét chấm phá, bác Đ.v.Nhã đã cho người đọc(xem) hiểu rõ tính cách không thường dân của một Thường Dân viết về xã hội (thổ tả) Vn.

    Cám ơn bác P.T.V và bác Đoàn văn Nhã.

  5. Phùng Tường Vân says:

    “Thử phác họa chân dung một thường dân”.
    (Tiếp theo và hết)

    “Từ một người thường dân, đứng bên này biển mà nhìn về bên kia (chứ ông chưa đi hết biển), nghe từng nhịp tim đập với thế thời, ông vui sướng, biết có những nhà yêu nước, bất chấp hiểm nguy, đòi quyền sống, đòi quyền làm người cho những thường dân trong nước. Ông viết về họ như góp thêm những ánh lửa nhỏ cho một ngọn đuốc lớn. Ông viết về họ, như trải lòng mình ra (và như ngã nón chào) những người dám vì người, quên mình. Những dòng chữ của ông vì thế mà lấp lánh. Lấp lánh một tấm lòng.

    Nhiều người cho rằng: trí thức là những kẻ biết đặt câu hỏi “tại sao” trước những điều xảy ra trong cuộc sống. Và hơn thế nữa, “họ” là những người biết đặt câu hỏi ngược lại những điều mà người khác có thể cho là chân lý. Đặt câu hỏi như thế là nhìn vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhằm soi rọi những ẩn khuất của cuộc sống. Tôi chưa từng nghe ông tự nhận mình là trí thức, khoa bảng. Vậy mà, bất cứ số sổ tay nào, ông cũng lật đến cốt lõi của từng vấn đề. Ông đề cập một cách nhẹ nhàng, mà thâm sâu. Ông đào xới, xóc tung từng điểm, ngay cả những điểm hết sức nhạy cảm, một cách không khoan nhượng, mà không hề sắt máu. Ông lộït mặt nạ những con thò lò, vạch mặt những kẻ láu cá một cách thẳng thừng mà lại rất ngoạn mục.

    Có một nét đặt biệt ông thường dùng trong câu văn, là những dấu ngoặc đơn. Với nhiều nhà văn khác, thành phần trong dấu ngoặc đơn thường là thành phần phụ, dùng để giải thích hay thuyết minh một điều gì được nói trước đó. Với ông, không là thế. Mà nhiều khi nó lại là cái cốt lõi của điều ông muốn nói. Nó tạo nên cái nét tinh quái trong chữ nghĩa của ông. Cứ đọc những đoạn trích dẫn để thấy cái đắc địa của những chữ ông bỏ trong ngoặc đơn.

    Và, hơn thế, ông thường đẩy vào trong cái trong cái ngoặc đơn ấy, một từ mà ông (lấy làm) thích thú: “thổ tả”. Cái viện (thổ tả), cái nón cối (thổ tả), loại nhạc (thổ tả), chính sách (thổ tả), thời đại (thổ tả)… Cái gì mà ông thấy chướng tai gai mắt, cái “món hàng” ấy sẽ được xếp vào loại (thổ tả) này ngay. Công bình mà nói, không phải cái (thổ tả) nào cũng đạt được điều ông muốn diễn đạt.

    từ trước tới nay, trong làng văn, báo, khu rừng này dường như chưa có người khai phá. Vì thế, trái núi mang tên ông, Tưởng Năng Tiến, là một trái núi đơn.
    Nguồn: DCVOnline
    ——————————————————————————–

    Còn nữa, thỉnh thoảng ta nghe ông phán một tiếng: Mẹ rượt. Đó là tiếng chửi đổng của miền Nam. Ông phải xổ… nho như thế, vì bực mình khi đọc hay nghe phải những lời nói có cánh nhưng (rất là) ngu, như ông thường nói. Phải xả nó ra, để khỏi phải bực bội. Xong xuôi, lại phải giải thích cho… thằng chả đó nghe. Tánh ông là thế. Chẳng hạn: “Bỏ cái thành kiến mẹ rượt đi mấy Tám”, hay “ Có cái lực lượng mẹ rượt nào mà ngăn trở được loài người tiến lên, cha nội?” v.v…

    Diễn tả nét đẹp, của văn chương cũng như của một người con gái, dễ hơn diễn tả cái duyên ngầm. Để “thấy” cái duyên, lắm lúc cần phải đối diện. Nghe người khác thuật lại, cái duyên đó đã mất đi nhiều phần. Cái duyên trên những trang viết của ông cũng thế. Để thưởng thức, nó đòi hỏi người đọc phải trực tiếp đọc nó. Để thấm!

    Viết về thời sự, chính trị, vạch mặt cái ÁC của thời đại, bằng một giọng văn hóm hỉnh, pha chất hài hước trên từng trang viết, giễu cợt một thời đại thổ tả, cà khịa với những bản mặt táo bón, tếu táo với những ông bạn của dân, mỉa mai những lời “có cánh”, từ trước tới nay, trong làng văn, báo, khu rừng này dường như chưa có người khai phá. Vì thế, trái núi mang tên ông, Tưởng Năng Tiến, là một trái núi đơn.

  6. Phùng Tường Vân says:

    “Thử phác họa chân dung một thường dân” (3)

    “cái quyết định của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Cà Mau, về chuyện “cho xây bia tưởng niệm cây vú sữa miền Nam với Bác Hồ”, là có vẻ hơi nặng phần trình diễn. Tưởng gì chớ mộ bia, và bằng khen thì “những gia đình có công với cách mạng” – Bắc cũng như Nam – đâu có thiếu. Nhà nào mà sau vườn không ngổn ngang bia mộ liệt sĩ, và trên tường không treo (tá lả) cả đống bằng khen thưởng”.
    (Con ở Miền Nam Ra thăm lăng Bác)

    Cái “duyên” ngầm của ông nằm trong nét hài, giễu cợt những thứ mà ông thấy ứa gan. Từ tếu táo ông đi đến cà khịa, khi cần. Nhưng phải nói rõ hơn, ông sẵn sàng cà khịa với những “cái gọi là” viện này, ủy ban kia, “ba người khác”, rồi (lại) ba người khác nữa v.v…. Nhưng đằng sau cái cà khịa tới cùng đó, là một tấm lòng xót xa với những người… thường dân. Đó là những ông lão đưa đò ở miền Trung, những em thơ bị “ba người khác” và đồng bọn giành lấy những phương tiện tối thiểu để đến trường (như chiếc thuyền máy được nước ngoài viện trợ), những đau khổ bị chèn ép của những người dân tộc v.v. Những người mà ông chia sẻ, xót xa chính là những người thấp cổ, bé miệng trong một xã hội mà luật lệ mọc lên một cách (hết sức) vô thứ tự như cây rừng, nên đến khi cần dùng luật, họ lấy luật rừng ra xử. Chẳng hạn việc tòa án xử ông lão chèo đò trên 80 tuổi, trong vụ chìm đó ở bến Chôm Lôm.

    Theo báo chí trong nước tường trình:

    “Chủ tọa Vũ Thanh Liêm hỏi: “Biết mình già yếu, tuổi đã cao nhưng tại sao ông vẫn còn chèo đò. Lúc đó ông có biết đã vi phạm pháp luật vì không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy không?”. Ông Nghĩnh đáp: “Tôi gắn bó với sông Thu Bồn từ nhỏ. Già cả rồi nhưng nghĩ tới hột lúa hột gạo nên phải làm. Cả đời tôi không đi ra khỏi làng, làm sao biết quy định của pháp luật được.”

    Cũng theo báo chí trong nước thì “Cả bản Chôm Lôm như chết lặng trong tiếng khóc thương. Nghĩa trang của bản đã phủ thêm 13 vòng hoa trắng. Nhiều em không thể có nổi tấm ảnh thờ, gia đình phải dùng sách vở, giấy khen để làm di ảnh.”

    Vậy ông bình luận thế nào về vụ này?

    “Ở một nơi mà những cụ già đến tuổi tám mươi vẫn phải làm việc mưu sinh, và những đứa bé suốt thời ấu thơ chưa bao giờ có được cơ hội chụp một tấm hình, mà đòi hỏi ông lái đò phải có giấy phép hành nghề, và khách đi đò phải có phao an toàn là những biện pháp… ”khắc phục” (nghe) rất… viễn vông!”
    (Chuyện từ những chuyến đò ngang)

    Nhưng chưa hết:

    “Giá mà ngày trước Bác (giai) đừng đi linh tinh (tìm đường cứu nước, và chung chạ tùm lum) thì mọi chuyện – không chừng – đã khác, và đã khá. Cứ ở lại quê mình với bác gái, một vợ một chồng – sớm tối có nhau – không có sức vóc làm ruộng thì nuôi gà, nuôi vịt, đan lát quàng qué kiếm thêm (có lẽ) cũng không đến nỗi nào. Được thế thì bây giờ gia tộc cũng đỡ mang tiếng xấu và tỉnh nhà (chắc chắn) đã có một chiếc cầu ngang, qua bến Chôm Lôm. Còn những công dân lão hạng khắp mọi nơi (như ông Võ Nghĩnh) cũng sẽ đều được nằm chết ở nhà mình – thay vì ở nhà… tù, vì tội đưa đò – khi đã quá tuổi tám mươi.”
    (Chuyện từ những chuyến đò ngang)

    Ông viết vậy nên “chúng” ghét là phải.

    Viết STTD, ông viết bằng tâm thế của một người đúng về phía yếu, về phía nạn nhân, về phía của nước mắt, nhưng rõ ràng không phải là nước mắt của “mẹ mìn”. Chọn cho mình một thế đứng như thế là thách thức, là tuyên chiến với cái ÁC. Lựa chọn như vậy, nên ông đau nỗi đau của người dân nghèo xứ thượng, ông nghe đắng chát nỗi niềm của những ông lão chèo đò, ông xót xa cho những em thơ thiếu điều kiện đến trường….

    Cái nghèo đói sao mà cứ đeo đuổi theo họ suốt đời. Sống ở thôn quê, ruộng đồng, sông nước, cái nghèo cứ quấn quýt một bên. Làm sao để khá hơn? Đêm nằm vắt tay lên trán, nghĩ mãi chẳng ra. Nhà nước luôn khuyến khích mọi người triển khai kế hoạch: vườn-ao-chuồng, để góp phần phát triển đất nước. Vườn (thiệt tình mà nói), những người thường dân… thua, vì họ làm gì có đủ đất để mà làm vườn. Đất thuộc về người khác! Còn nuôi, trồng để phát triển? Biết nuôi con gì, biết trồng cây gì để mà “xóa đói giảm nghèo”. Mà có nuôi, có trồng thì cũng phải có tiền. Nghèo quá, ai cho vay. Cái khó bó cái khôn. Cái vòng luẩn quẩn như con gà và cái trứng cứ đeo đuổi họ suốt đời. Phải chi họ có “chút ít” như cán bộ, họ sẽ biết trồng cây gì và nuôi con gì ngay. Có lẽ, cũng bắt chước như “người ta”, họ sẽ trồng cây “xăng” và nuôi con “cave” để lên nhà lầu, để tậu xe hơi.

    Đó là những tiếng cười thầm, chua xót. Đó là những giọt nước mắt khô, lăn dài, trong một thời đại “thổ tả”.
    (còn tiếp một kỳ)

  7. Phùng Tường Vân says:

    “Thử phác họa chân dung một thường dân.”
    (tiếp theo)

    “Ở những điều mà người khác cho là to tát, vĩ đại, sổ tay của ông đơn giản hóa, làm cho nó thực hơn, sống động hơn, và nhất là “đời” hơn. Trong ý nghĩa đó, không ít lần ông mai mỉa những nhân vật lớn, thét ra lửa, bằng chính những bản báo cáo hay những tác phẩm của họ.

    Hãy nhìn thử ông viện sĩ Nguyễn Chơn Trung, trong nước:

    “Sau đây là báo cáo của Viện Sĩ Nguyễn Chơn Trung, Chủ Nhiệm Ủy Ban Người Việt ở Nước Ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh:

    “Năm 2004 cả nước có khoảng 3,3 tỷ USD kiều hối, riêng TP. HCM đạt 1,8 tỷ USD… đó chỉ mới thống kê theo đường “chính ngạch” qua ngân hàng, chưa kể kiều hối về nước bằng những con đường khác nữa. Tiềm năng của Việt kiều rất lớn. Nếu tính xuất khẩu dầu lửa, xuất khẩu gạo của Việt Nam, cả năm phải dùng nguồn lực toàn dân mới đạt gần 2 tỷ dolar. Trong khi đó, với số lượng kiều hối đổ về quê hương, chúng ta có được 3,3 tỷ dollar. Tiềm lực này nếu bị bỏ quên là điều đáng tiếc.”

    Không biết cái viện (thổ tả) nào đã sản xuất ra cái loại viện sĩ, như Nguyễn Chơn Trung. Ông ấy thường hay nói chữ, và nói (rất) ngu. Mấy tỉ Mỹ kim tiền tươi (đổ về ào ạt hàng năm) mà thằng chả kêu bằng “tiềm năng” và “tiềm lực”, Giời Đất ạ!”
    (Hát Xẩm)

    Và đây, một tác phẩm của một nhân vật (hơi) lớn khác.

    “Tác phẩm duy nhất mà tôi thực sự tâm đắc, vào thời điểm đó, là Hổ Chí Minh Toàn Tập – dù tác giả viết nhiều đoạn hơi (bị) dở. Thí dụ như: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển.”

    (Giời ạ, mặt trời chứ bộ mặt trận sao mà đòi lấy lực lượng ra ngăn trở. Tương tự, có cái lực lượng mẹ rượt nào mà ngăn trở được loài người tiến lên, cha nội? Viết như thế mà cũng bày đặt cầm bút).

    Ngoài những lỗi lầm nho nhỏ không đáng kể như thế – về nội dung – phải nói đây là một công trình đồ sộ, rất đáng đồng tiền bát gạo. Sách rất dầy, giấy in rất tốt, giá rất rẻ, và (rất) được những bà hay những cô bán hàng rong ưa chuộng. Họ cần giấy để gói, hoặc để chùi; còn tôi, tôi cần một phần ăn – nhiều hơn số tiền túi mình có thể mua. Do đó, dù có đói thảm thiết tôi cũng chả bao giờ (dại dột) xà ngay xuống mẹt xôi hay mẹt bánh. Tôi luôn chịu khó đi lòng vòng mua sách, rồi mới mang đổi lấy thức ăn – cho đỡ khổ cái dạ dày!”
    (Tô Hoài và Ba người khác)

    Ông đọc nhiều, bám vào thời sự trong nước từng ngày, tinh tế nhìn quanh đời sống. Ông bao quát chuyện “lớn”. Ông đi sâu vào chuyện nhỏ. Chuyện “lớn” ông dí dỏm theo kiểu lớn. Cái nhỏ, ông hài hước theo kiểu nhỏ. Nhưng dù nhỏ hay lớn, mâm nào có ông, mâm đó được nhiều người biết đến.

    Chuyện lớn, như chuyện đi vào văn học sử, ông dũa te tua những kẻ đi quá giang trên chuyến tàu quá tải, một cách mờ ám. Ông bình về những cái tuyên cáo trên những tờ báo lớn trong nước. Ông luận về những lời lẽ “có cánh” của những quan lớn một thời như: Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải v.v., một cách rất có “duyên”, để người đọc thấy được bề mặt khác của những tuyên bố hùng hồn. Ông đi đến gần như tận cùng cái đau của người dân khi hứng chịu những cái ác từ những người không tử tế, từ sau 1975.

    Chuyện nhỏ, ông viết về con chim sẻ, chim ri, củ khoai, củ sắn, cây vú sữa miền Nam, cái bia tưởng niệm, cuốn băng nhạc, đôi dép, cái mũ. Lớn thêm tí xíu, ông viết về con đò, cái nghèo, cái đói, v.v…

    Cứ lấy một chuyện nhỏ thử coi, chuyện cái mũ, đôi dép, chẳng hạn.

    “Những gia đình đông con thường nghèo, và những gia đình nghèo thường… đông con. Nghèo, tất nhiên, đi cùng với khổ. Khổ nhất là anh em phải mặc áo quần của nhau, người Việt gọi là mặc “khính”, cứ đứa lớn mặc chật thì đứa kế sẽ mặc tiếp.

    Mặc quần áo cũ đã phiền, đi dép cũ hay đội nón cũ còn phiền hơn nữa, nhất là dép râu và nón cối. Loại nón này xuất hiện cùng luợt với chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, như một biểu hiện cho… tai họa, và sự khốn cùng của người dân – ở sứ xở này.

    Một cái nón cối mới tinh (đội) trông đã chả giống ai. Chơi một cái đã cũ, bẩn thỉu, và bạch phếch màu lên đầu thì kể như là hết thuốc! Đã có mấy thế hệ người Việt phải đội những cái nón cối (thổ tả) như thế, trong suốt cuộc đời không may của họ”
    ( Thôi bỏ đi Tám (Bis))

    Viết ngắn mà thấm. Nói ít mà đau.

    Lấy thêm một ví dụ nhỏ nữa, về cây vú sữa, chẳng hạn.

    “Hồi đó, cô bảy chỉ mới 14 tuổi. Cô kể: “Khi các chú với tía mang balô lên Vàm Chắc Băng tập kết, mẹ gọi tôi vào nói: Tụi nó đi mà không có gì gửi cho Cụ Hồ. Mày chạy xuống nhà ngoại bứng về cho má cây vú sữa gửi cho Cụ nhanh lên!”

    Chẳng ai trả lời được câu hỏi tại sao mẹ Tư lại tặng cây vú sữa mà không là cây khác” – (Con ở Miền Nam Ra thăm lăng Bác)

    Gần đây, 2004, Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Cà Mau có quyết định cho xây bia tưởng niệm cây vú sữa. Xem thử ông nghỉ gì về cái quyết định này.”
    (Còn tiếp)

  8. Phùng Tường Vân says:

    @Lâm Hoàng Mạnh
    Tôi nghĩ có lẽ ông Lâm và một số độc giả yêu thích TNT chưa có dịp đọc bài viết dưới đây của ông Đoàn Nhã Văn, bài viết có cái đề là “Thử phác họa chân dung một thường dân”, bài cũng đã hơi (bị) cũ rồi nhưng những nét phác họa vẫn còn nguyên vẹn giá trị nhân bản và khám phá của nó. Tôi mong talawas cho phép chạy lại bài viết ấy trên khuôn khổ PH này.

    “Biến cố 4/1975 khởi đầu cho một cuộc di dân vĩ đại có một không hai trong lịch sử Việt Nam. Hằng triệu người đã ra đi bằng nhiều cách khác nhau, suốt hơn 15 năm dài. Trong số những thường dân đó, có ông. Từ một người lính, làm một lưu dân, rồi ông cầm bút (bất đắc dĩ). Những năm đầu 1980’s, Tưởng Năng Tiến có hai tác phẩm: Măng đầu mùa (in chung với Võ Hoàng) và Cuộc Chiến Chưa Tàn. Bẵng đi một thời gian khá lâu, độc giả không thấy ông viết truyện ngắn nữa mà chuyển sang viết bình luận thời sự và chính trị, những bài viết đẩy tên tuổi ông đi xa hơn. Từ đó đến nay, hầu như những người còn đọc sách báo Việt Ngữ, ngoài nước, dường như không ai không biết cái tên ông.

    Biết tên ông, nhưng ông là ai? Nếu hỏi thẳng, vào thời điểm này, biết chừng, ông sẽ cho chúng ta một câu trả lời thú vị. Nhưng thôi, hãy nghe Tưởng Năng Tiến nói chút ít về ông, từ những ngày xa xưa lắm: “hồi nhỏ đi chơi, đi học, lớn lên đi lính, đi tù… (CS), ra tù lang thang, vượt biển đến Mỹ, làm báo Nhân Văn.” Hỏi thêm: đi lính ra sao? Ông bảo: “Tôi rất hay quên đội nón, quên cài nút áo, quên gôm ống quần. Toàn là những thứ quên lãng hợp lý nhưng lại không được chấp nhận ở đời sống quân trường. Tôi thích nhìn nắng chiều hay nắng sớm lao xao trên những hàng cây nên đôi khi còn quên chào luôn cả niên trưởng.”

    Thì ra, ông từng là một anh lính thuộc loại … ba gai.

    Hỏi thêm: ông còn nhớ gì về lính, sau nhiều năm định cư tại Mỹ? Trả lời “Cái thứ người như tôi cứ mỗi lần nhậu xỉn mới chợt nhớ ra mình đã từng là lính, mới ba hoa về những năm tháng tù đày, mới khề khà luận bàn đến tình chiến hữu, về chuyện đấu tranh… này nọ. Tỉnh ra tôi lại lút cút đi làm, lại sống như mình chưa hề là lính, chưa từng có thằng vì tôi mà bỏ mạng, chưa có đứa đã chí tình dặn dò tôi lo chuyện quang phục quê hương. Lính có năm bảy đường, năm bẩy thứ. Cái thứ như tôi ngó bộ hơi kỳ và cũng hơi nhiều.” (Thằng lính bạc tình)

    Rõ ràng là lối trả lời.. ba búa.

    Tuổi trẻ mang tính ba gai, tuổi già lãng bãng chút ít ba trợn.

    Có người gọi đó là tính cách của ông. Tôi chưa từng gặp, nên không biết cái mà người ta “nói” về ông, đúng hay sai. Nhưng rõ ràng, khu rừng văn chương của ông (dường như) chẳng giống ai.

    Trước tiên, nội cái tên “sổ tay thường dân” đã là một cái hổng giống con giáp nào! Người ta quyền cao, chức trọng, là ông lớn, là quan to, là chủ bút, chủ báo, chủ biên, chủ nhiệm, chủ tịch, chủ nợ, v.v., mới cần một cuốn sổ để ghi chép, để ghi nợ, để viết xuống những ý tưởng sẽ được trình bày trước công chúng. Đằng này, là một …thường dân, không quyền thế, (và có lẽ) nghèo tiền bạc, vậy mà cũng như ai, kè kè một cuốn …sổ tay! Nhưng điều đáng nói: cuốn sổ tay này (hơi bị) “nặng ký”. Không phải nặng theo tính chất vật lý, mà là nặng bởi một tấm lòng. Tấm lòng đó, đồng cảm với người, ấm áp với đời. Vì thế nó lôi cuốn bạn đọc.

    Thực ra, cảm động bởi một tấm lòng, chỉ là một bước khởi đầu. Quyến rũ người đọc trên ngần ấy trang viết, tất phải bắt nguồn từ một rung động lớn: một bản lĩnh nghệ thuật được dàn trải trên từng trên viết. Trong văn học nghệ thuật, ý tưởng không làm nên sự khác biệt giữa nhà văn. Chính bản lãnh nghệ thuật mới làm nên điều đó.

    Sổ tay thường dân (STTD), trước hết, là tập hợp những bài viết nặng lòng với quê hương, những bài bình luận đặt trọng tâm vào tình người, và sau nữa, là những trang viết bám sát từng biến chuyển của thời cuộc tác động vào đời sống của những người dân thấp cổ, đang còng lưng sống nốt những tháng ngày còn lại trên mảnh đất hình chữ S. Cái tâm thế mà ông đặt vào trong từng bài viết của mình là tâm thế của một người con, lìa xa đất tổ, nhưng lòng vẫn đau đáu nhìn về bên kia biển lớn với một ước vọng khá nhỏ nhoi: làm sao cho dân tình đỡ khổ, làm sao cho người đối với người ngày một tử tế hơn. Trong cái ước vọng đó, (dường như) ông dị ứng với những bản báo cáo nổ như pháo, những lời tuyên bố nghe rất là rổn rảng, những con số thống kê đầy dấu chấm hỏi.

    Viết về một thể loại như thế, bàn về nhiếu vấn đề khô khan, thường dễ làm người đọc nản lòng ở những bài viết tương đối dài. Cho nên, ông đã chọn cho mình một con đường đi riêng biệt. Ở đó, trên từng trang sổ tay, luôn luôn ẩn hiện những chất hài, pha lẫn những nghịch ngợm, không phải cái nghịch ngợm nổi loạn của tuổi 15, 17, mà là một thứ nghịch-ngợm-ngầm, chín mùi, đọc lên, nghe nó đi thấu vào tận ruột gan, đã thiệt là đã. Nhiều lúc, ẩn hiện cái tếu táo của một anh chàng Nam Kỳ vui tánh. Dùng chất hài trong những bài viết có tính chất nghiêm trọng là nhằm kéo cái khô khan, chán ngắt xuống gần với đời thường, để mọi người có thể thưởng ngoạn một cách dễ dàng hơn.” (còn tiếp)

  9. Cá hồi – hồi hương – hương hỏa – hỏa hoạn – hoạn quan – quan liêu – liêu trai – trai trẻ – trẻ trung – trung thực – thực dân – dân cư – cư ngụ – ngụ tưởng – tưởng tượng – tượng đồng – đồng thau – thau luyện – luyện sắt – sắt bạc – bạc như vôi – vôi đá – đá chân – chân còi – còi hụ.

    Tác giả Tưởng Năng Tiến nói mát quá, làm mặt một số người như được dội nhiều gáo nước lạnh sau khi phát biểu vung miếng. Cơ mà mặt sẽ không mỏng đi hơn đâu, mà phát triển theo hướng ngược lại.

    Nhưng mà cũng đau. Quê hương đất mẹ, tự khái niệm đó đã thiêng liêng rồi,ko quay trở lại quê cũ thì có là kẻ bất nhân thất đức. Chả phải giống cá hồi, mà loài khỉ, loài hổ, khi chuẩn bị sắp chết đều quay lại hang của chúng để chết trong đó, và người Việt trong nước cũng lợi dụng đặc tính đó để bắt thú. Bỗng dưng có nhóm người chiếm vùng đất đó kêu là của họ rồi cấm mình về khi không nịnh hót họ, thế có phải là cái tư tưởng BẠC NHƯ VÔI không.

    Lẻo mép, xạo ngôn về mọi giá trị ân nghĩa công bằng ở đời. Định ru ngủ ai? Ru cá trong ao tù kia thì còn có kẻ tiêu hóa hộ. Cả ngày họ ít nhất cũng được rót tinh thần ít nhất 2 tiếng phát thanh loa phường/loa làng rồi.

  10. Lâm Hoàng Mạnh says:

    Viết thế mới là TNT chứ. Từ cá Hồi (Salmon) người đọc đươc cây bút tài hoa dắt đi chu du hết Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương để xem Nhật nuôi Atlantic-Salmon, rồi khai thác Atlantic-Salmon ra sao, anh lại so sánh cách thả Boat-People-Salmon đến cách khai thác Còi-Hụ-Salmon của CHXHCNVN ngày nay.

    Thủ đoạn giống nhau, khác ở chỗ, Nhật thả 1 lần chỉ thu được 1 lần, còn kỹ nghệ cộng sản, thả 1 lần thu Còi-Hụ-Salmon lâu dài!

    Cám ơn TNT nhiều.

  11. hathuy says:

    Bài viết hay. Hy vọng đa số những con cá hồi Đại Tây Dương giống con cá hồi Tưởng Năng Tiến.

  12. vantruong says:

    Mới đầu năm mà ông Tưởng đã mang “zăng xương” “Systema Naturæ” của Carl Von Linné ra nói chuyện rồi làm tui bật cười nhớ tới chúng bạn trời đánh một thời của tui. Tụi tui mà nhập hai ba đứa là thế nào cũng chế chuyện châm chọc này nọ không chừa ai cả. Không nói tiếng La Tinh mà chỉ sài “Sái Tinh” hay “Ma Tinh” với nhau. Chuyện Việt Cộng (tên kêu gọn) ông nói chắc nằm trong sách này.
    Hồi đó tụi tui cũng thắc mắc tại sao “đảng và nhà nước” không sài “phân bò” mà sài “phân phối” để sinh ra nhiều chuyện “bức xúc” khiến “cụ thể” cũng không “yên triện làm giường”.
    Chuyện con cá của ông nó cũng có một cặp “hồi+hương”, nhưng mà thôi tui để ông tự tưởng tượng vì ông hay lắm. Năm mới xin chúc ông nhiều sức khỏe vui vẻ kể chuyện cho bà con nghe.

  13. phivu56 says:

    Đọc câu: “Họ đẩy ra khỏi nước những con nguời cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu sang.” thật là đau và nhức nhối. Cám ơn anh Tưởng Năng Tiến

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả