talawas blog

Chuyên mục:

Bertrand Russell – Giải phóng tính dục -Phần I/II-

30/03/2009 | 12:01 sáng | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Ngô Hải

Chuyên mục: Tư tưởng, Văn hoá – Giáo dục
Thẻ: > > >

Ngô Hải dịch

“Sợ tình yêu có nghĩa là sợ cuộc sống, và ai sợ cuộc sống thì người đó đã chết tới ba phần tư.” – Bertrand Russell -

Lời giới thiệu

Bertrand Russell (1872-1970) là một nhà Toán học, Triết gia và nhà cải cách xã hội Anh, ông kết hôn bốn lần và có vô số những cuộc tình khác, hai lần mất chức giáo sư, hai lần phải vào tù với tội danh kêu gọi chống lại chính quyền nhà nước, được trao giải Nobel Văn học, viết hơn bảy  mươi cuốn sách và hàng ngàn những bài viết khác, cả cuộc đời đấu tranh cho hòa bình, quyền con người và công bằng xã hội. Dưới đây là phần một của bài “Giải phóng tính dục”  được dịch từ chương XIX của cuốn “Marriage and Morals” được Russell viết vào năm 1929, một cuốn sách gây nhiều tranh cãi và có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp của Bertrand Russell.

Tính dục và sự khoan khoái cá nhân (1)

Luân lý theo tập quán trong mỗi người bắt đầu được hình thành với sự tạo dựng của những điều cấm kỵ trong thời thơ ấu. Ở những tuổi còn rất nhỏ, trẻ em được dạy bảo rằng không nên sờ vào một số bộ phận cơ thể nào đó khi có sự hiện diện của người lớn. Trẻ em được dạy nói thầm khi bộc lộ nhu cầu đi vệ sinh và tự ý rút lui để thực hiện hành động đó. Một số bộ phận trên cơ thể và hành động nhất định có đặc tính lạ thường, hoàn toàn khó hiểu đối với trẻ em, bởi thế chúng được coi như những điều kỳ bí và thu hút được sự quan tâm đặc biệt của trẻ thơ. Một số vấn đề nhất định liên quan tới trí tuệ, ví dụ như câu hỏi trẻ em từ đâu ra, đòi hỏi sự cân nhắc thầm lặng, bởi thường những câu trả lời của người lớn rõ ràng là không thật hoặc né tránh. Tôi quen một số người đàn ông lớn tuổi, khi còn là trẻ thơ bị bắt gặp đang sờ vào những bộ phận đó, họ đã được nghe những câu nói thoát ra một cách hết sức nghiêm trọng: “Tôi thà rằng thấy anh chết đi, còn hơn thấy anh làm những điều đó.” Rất tiếc tôi phải nói rằng kết quả để tạo ra được đức tính trong cuộc sống sau này không phải lúc nào cũng như là nhà đạo đức cổ truyền mong muốn. Không hiếm khi những lời đe dọa được sử dụng. Có thể một người thiếu niên không bị dọa thiến thường xuyên như trước kia, nhưng người ta vẫn hoàn toàn chấp nhận được khi dọa anh ta sẽ bị điên khùng. Thực tế ở bang New York có luật cấm nói với thiếu niên rằng hiểm họa đó không tồn tại đối với anh ta. Kết quả của của sự giáo huấn này là phần lớn những đứa trẻ khi còn nhỏ tuổi có một cảm giác tội lỗi và sợ hãi sâu kín đối với những sự việc liên quan tới tính dục. Sự liên đới tư tưởng giữa tính dục và tội lỗi cùng với sợ hãi trở lên sâu sắc tới mức nó gần như hay hoàn toàn đi vào tiềm thức của đứa trẻ. Tôi ước có thể thi hành được một cuộc dò hỏi ý kiến có thống kê với những người đàn ông, những người tự nghĩ rằng họ đã được giải thoát khỏi những câu chuyện cổ tích của người bảo mẫu, để xác định liệu họ có sẵn sàng phản bội vợ mình khi trời giông bão cũng như trong bất kì một thời điểm nào khác. Tôi tin rằng chín mươi phần trăm trong số họ, trong thâm tâm, sẽ lo rằng họ sẽ bị sét đánh nếu họ phản bội vợ khi đó.

Mặc dù ác dâm (2) và khổ dâm (3) ở hình thức nhẹ là bình thường, chúng hay xuất hiện trong những câu nói ác ý đi liền với cảm giác tội lỗi liên quan tới tính dục. Người khổ dâm là người hoàn toàn ý thức được tội lỗi liên quan tới tính dục của mình. Người ác dâm là một người đàn ông, mà trong ý thức của anh ta người phụ nữ thường mang tội là kẻ cám dỗ. Những hậu quả này trong cuộc sống về sau chỉ ra rằng ấn tượng ban đầu được khơi dậy bởi lối giáo huấn luân lý khắt khe quá mức ở thời thơ ấu có ảnh hưởng sâu đậm đến mức nào. Vấn đề này đã trở lên sáng tỏ hơn đối với những người có công việc liên quan tới giáo dục trẻ em và đặc biệt tới chăm nom trẻ nhỏ. Tiếc rằng sự sáng tỏ này vẫn chưa đến được những phòng xử án.

Thời thơ ấu và thiếu niên tạo thành một quãng đời mà ở đó những trò tinh nghịch, sự vô lễ, bướng bỉnh và những hành động bị cấm đoán mang tính tự nhiên, tự phát và không hề hối tiếc, trừ khi chúng đi quá đà. Nhưng sự vi phạm những điều cấm về giới tính được người lớn đối xử hoàn toàn khác so với bất cứ sự vi phạm những điều còn lại, qua đó đứa trẻ cảm nhận rằng hành vi này thuộc về một thể loại hoàn toàn khác. Người ta có thể bực mình khi một đứa trẻ ăn cắp trái cây để trong bếp và la mắng nó tới nơi tới chốn, nhưng không cảm thấy điều gì trái với đạo lý và không đánh thức trong đứa trẻ cảm giác rằng một điều gì đó khủng khiếp đã xảy ra. Nhưng nếu một người hủ lậu bắt gặp đứa trẻ đang thủ dâm, thì trong giọng nói của người đó có một âm điệu mà đứa trẻ sẽ không bao giờ nghe được trong bất kì khung cảnh nào khác. Âm điệu này tạo ra một sự khiếp đảm ghê gớm, và còn tồi tệ hơn khi đứa trẻ có thể không thể kiềm chế được hành động của mình, hành động mà qua đó nó bị mắng nhiếc thậm tệ.  Bị ảnh hưởng bởi tính nghiêm nghị của sự giáo huấn này, đứa trẻ thực sự tin rằng thủ dâm là đồi bại như người ta nói. Mặc dù vậy nó vẫn không từ bỏ làm điều đó. Như thế cái nền móng của lối sống không lành mạnh đã được đặt, và điều này có thể sẽ kéo dài xuyên suốt cuộc đời. Ngay từ tuổi còn nhỏ trở đi đứa trẻ đã tự coi nó là kẻ có tội. Dần dần nó học cách lầm lỗi một cách bí mật, và đứa trẻ miễn cưỡng tự an ủi rằng không ai biết đến việc lầm lỗi của nó. Khốn khổ quá đỗi nó tìm cách trả thù thế gian qua việc trừng phạt những kẻ kém may mắn hơn mình trong việc che đậy những tội lỗi tương tự. Quen với sự lừa dối khi còn là một đứa trẻ, nó không cảm thấy khó khăn gì khi thực hành điều dối trá trong cuộc sống sau này. Như thế nó sẽ trở thành một người sống nội tâm bệnh hoạn, một kẻ đạo đức giả và chuyên ngược đãi người khác. Đó cũng là kết quả của sự cố gắng cứng nhắc từ phía cha mẹ của đứa trẻ muốn dạy cho con mình thế nào là đạo đức theo cách nhìn của họ.

Không nên để tội lỗi, tủi thẹn và sợ hãi chi phối cuộc sống của những đứa trẻ. Trẻ em nên có một cuộc sống hạnh phúc, vui tươi và hồn nhiên; chúng không nên khiếp đảm trước những thôi thúc của bản thân; chúng không nên chùn bước trước sự khám phá của những việc mang tính tự nhiên; chúng không nên cất giấu trong bóng đêm cả cuộc sống theo bản năng của chúng; chúng không nên vùi sâu trong tiềm thức những thôi thúc, những điều không thể bị tiêu diệt thậm chí bởi những nỗ lực to lớn nhất ở nơi chúng.

Nếu muốn những đứa trẻ lớn lên trở thành những người đàn ông và phụ nữ ngay thẳng, chân thật về mặt trí tuệ, can đảm trong quan hệ xã hội, mạnh mẽ trong hành động và khoan dung trong tư tưởng, thì chúng ta phải bắt đầu rèn luyện chúng ngay từ buổi ban đầu để những kết quả này có thể trở thành hiện thực. Giáo dục được coi tương tự như là cách huấn luyện những con gấu biết nhảy. Ai cũng biết những con gấu biết nhảy đó được huấn luyện như thế nào. Người ta đưa những con gấu lên trên một sàn nhà nóng, bởi những ngón chân của chúng sẽ bị bỏng nếu chạm vào sàn nhà liên tục, chúng ép buộc phải nhảy. Trong thời gian này một điệu nhạc nào đó được bật lên. Sau một khoảng thời gian chỉ riêng điệu nhạc cũng đủ, không cần sàn nhà nóng, làm cho chúng nhảy. Điều này đối với trẻ em cũng hệt như vậy. Trong khi đứa trẻ ý thức được bộ phận sinh dục của mình, thì chúng lại bị người lớn rày la. Kết cục là sự ý thức này gợi lên sự liên tưởng tới lời rày la và khiến đứa trẻ nhảy theo điệu nhạc của người lớn. Điều này dẫn tới sự phá hủy toàn bộ của mọi khả năng cho một cuộc sống tình dục lành mạnh và hạnh phúc.

Giai đoạn tiếp theo là thời thanh niên. Trong thời kì này nỗi khốn khổ xuất phát từ cách ứng phó theo lối thông thường đối với chủ đề tình dục còn lớn hơn so với ở thời thơ ấu. Nhiều nam thanh niên không hề biết chính xác điều gì xảy ra với họ và họ hoảng sợ thật sự khi lần đầu trải qua mộng tinh. Tâm trạng họ tràn ngập với những thôi thúc mà theo những gì họ được dạy là rất xấu. Những thôi thúc này được biểu hiện mạnh tới mức như thể chúng là những ám ảnh suốt ngày đêm. Đối với những chàng trai thuộc thể loại khá, đây cũng là khoảng thời gian mà họ có được những thôi thúc cho sự lý tưởng hóa mãnh liệt nhất về cái đẹp, nghệ thuật thơ và tình yêu lý tưởng, thể loại tình yêu được coi là hoàn toàn tách biệt khỏi tình dục. Bởi những yếu tố mang tính Mani (4) trong giáo lý đạo Cơ Đốc, những thôi thúc thuộc về tâm hồn và thể xác ở tuổi thanh niên của chúng ta có khuynh hướng chia rẽ rõ rệt, nếu không muốn nói là thậm chí đối nghịch nhau.

Nhân đây tôi muốn trích dẫn lời thú nhận của một người bạn thuộc giới trí thức, anh ta nói rằng: “Thời thanh niên của tôi, theo tôi nghĩ, không phải là không điển hình, và nó phô bày sự chia rẽ này dưới một hình thức rất rõ rệt. Tôi có thể đọc Shelley (5) hàng giờ trong ngày và trở lên đa cảm khi đọc những đoạn như

`The desire of the moth for the star, of the night for the morrow‘. (6)

Rồi bất chợt tôi có thể gạt đi những mơ màng và cố gắng chộp được một thoáng hình lén lút của cô hầu phòng đang thoát xiêm y. Điều này gây ra cho tôi một sự hổ thẹn ghê gớm; niềm thôi thúc trước dĩ nhiên mang yếu tố của sự ngờ nghệch, bởi lý tưởng của nó tương ứng với mặt trái của sự sợ hãi ngớ ngẩn về tình dục.” Như mọi người đều biết, thời thanh niên là một khoảng thời gian khi những rối loạn tâm lý diễn ra rất thường xuyên, và những người, bình thường rất điềm đạm, có thể dễ dàng cư xử hoàn toàn đối ngược.

Trong cuốn sách “Coming of Age in Samoa” của mình, Margaret Mead khẳng định rằng rối loạn tâm lý không hề được được biết đến trên đảo Samoa, và thực tế này được cô cho là bởi sự tự do tình dục đang thịnh hành ở đó. Sự tự do tình dục này phần nào đang dần bị cắt xén bởi hoạt động của những người truyền giáo. Một số thiếu nữ được Margaret Mead hỏi sống trong nhà của người truyền giáo, và trong suốt thời thanh niên cuộc sống tình dục của họ dừng lại ở thủ dâm hoặc quan hệ đồng giới, trong khi những thiếu nữ khác không sống ở đó còn có giao hợp với người khác giới. Trên phương diện này, những trường nội trú nam nổi tiếng của chúng ta cũng không khác biệt gì nhiều so với căn nhà của người truyền giáo trên đảo Samoa, nhưng trong khi ảnh hưởng tâm lý do cách sinh hoạt tại Samoa là vô hại, nó có thể gây ảnh hưởng tai hại đối với nam sinh ở Anh, bởi có lẽ trong thâm tâm anh ta dường như bị thuyết phục bởi tính đúng đắn của lối giáo huấn theo tập quán này. Trong khi đó trong con mắt của người Samoa, người truyền đạo đơn thuần là một người da trắng với những quan niệm kì quoặc mà người ta phải chiều theo.

Đa số những người đàn ông mới trưởng thành trong những năm đầu phải trải qua những phiền muộn và khó khăn vô ích đối với những vấn đề liên quan tới tính dục. Nếu một chàng trai trẻ vẫn còn trong trắng, có lẽ áp lực tâm lý để giữ được thăng bằng sẽ biến anh ta thành một con người nhút nhát và bị ức chế, để rồi cuối cùng khi anh ta lập gia đình, anh ta vẫn không thể bứt phá khỏi sự tự chủ trong những năm qua, nếu làm được thì có lẽ cũng ở một dạng tàn bạo và đột ngột, với kết quả là trên cương vị người tình, anh ta gây ra sự thất vọng ở nơi vợ. Nếu anh ta quan hệ với gái mại dâm, sự chia rẽ giữa hai khía cạnh tình yêu thuộc về thể xác và lý tưởng được hình thành trong thời kì thanh niên sẽ trở thành vĩnh cửu, dẫn đến kết quả là theo quan niệm của anh ta, mọi quan hệ với phụ nữ từ đó trở đi hoặc là mang tính Platon (7) hay là hèn hạ. Hơn nữa anh ta mạo hiểm với những bệnh hoa liễu. Nếu anh ta có quan hệ với những người phụ nữ khác cùng trang lứa, anh ta sẽ gây ra ít tai hại hơn, dù vậy nhu cầu giữ kín bí mật gây ra nhiều bất lợi và cản trở sự phát triển của những mối quan hệ bền vững.

Đối với một người đàn ông, một phần vì thói huyênh hoang, phần khác vì quan điểm lập gia đình phải có con ngay, lấy vợ khi còn trẻ không phải là điều dễ dàng. Hơn nữa nếu ly dị là chuyện rất khó khăn, lập gia đình sớm còn có mối đe dọa lớn, rằng hai người ở tuổi hai mươi hợp tính nhau đến tuổi ba mươi có thể không còn hợp nhau nữa. Đối với nhiều người chưa từng trải, có được mối quan hệ bền vững với một người bạn đời là rất khó khăn. Nếu quan điểm của chúng ta về tình dục là lành mạnh, chúng ta có thể chấp nhận được lối sống thử tạm thời không con cái của giới sinh viên. Với cách này họ sẽ loại bỏ được những ám ảnh liên quan tới tính dục, điều mà hiện tại làm ảnh hưởng lớn tới công việc của họ. Qua đó họ sẽ thu nhận được những hiểu biết về người khác giới, đó là một điều đáng mong mỏi ví như là một khúc dạo đầu cho mối quan hệ vợ chồng thực sự cùng với con cái. Và họ sẽ có cơ hội biết đến tình yêu không đi kèm với sự lẩn tránh, giấu giếm và sự kinh hãi trước bệnh tật, những điều đang tẩm độc những cuộc phiêu lưu của giới trẻ ngày nay.

Đối với một nhóm lớn những người phụ nữ, vì lý do nào đó họ phải sống độc thân suốt đời, luân lý theo tập quán là nỗi đau và trong nhiều trường hợp thậm chí còn có hại. Cũng như tất cả mọi người, tôi có biết đến những người phụ nữ sống với lối đạo đức theo tập quán nghiêm ngặt mà chưa lập gia đình, họ xứng đáng có được sự ngưỡng mộ cao nhất trên mọi phương diện. Nhưng tôi nghĩ thực tế chung lại khác. Một người phụ nữ không có kinh nghiệm về tình dục và coi trọng việc giữ gìn tiết hạnh, đã tự đặt mình vào một tình thế tiêu cực, đượm vẻ sợ hãi. Bởi vậy, theo thông lệ, cô ta sẽ trở lên nhút nhát, nhưng đồng thời thái độ ghen tị theo bản năng và từ vô thức khiến cô không chấp nhận được những người bình thường và mong muốn trừng phạt những kẻ được hưởng thụ những điều mà cô đã từ bỏ. Tính nhút nhát về mặt tâm hồn là một hiện tượng đi kèm rất phổ biến của việc giữ gìn trinh tiết kéo dài. Thậm chí tôi có khuynh hướng tin rằng sự thấp kém về mặt trí tuệ của phụ nữ, trong phạm vi nó tồn tại, chính là tại bởi sự hạn chế của tính tò mò nơi họ, mà sự hạn chế này lại bắt nguồn từ nỗi lo sợ trước những điều liên quan tới tính dục.  Không có một lý do chính đáng nào cho nỗi bất hạnh và sự lãng phí liên quan tới việc giữ gìn trinh tiết cả đời của những phụ nữ, những người không thể tìm được cho riêng mình một tấm chồng. Trong khoảng thời gian trước kia, khi nền hôn nhân được thiết lập, người ta đã không dự tính được tình trạng hiện tại, tình trạng mà việc ở giá tất yếu diễn ra rất thường xuyên, bởi ngày đó số lượng nam và nữ xấp xỉ bằng nhau. Không nghi ngờ gì, sự tồn tại một số dư lớn những người phụ nữ ở nhiều nước cung cấp một lý lẽ quan trọng có lợi dẫn tới việc chỉnh sửa điều lệ luân lý theo tập quán.

Ngay cả hôn nhân, điều duy nhất theo quy ước trong xã hội được chấp nhận là cửa ra cho thôi thúc tình dục, cũng phải chịu đựng dưới sự cứng nhắc của điều lệ luân lý. Những mặc cảm được hình thành trong thời thơ ấu, những kinh nghiệm của đàn ông với gái mại dâm và thái độ ác cảm đối với tình dục được thấm nhuần dần vào người thiếu nữ với mục đích giữ gìn sự trong trắng, tất cả đều cản trở hạnh phúc trong hôn nhân. Nếu một thiếu nữ được giáo dục tốt có những thôi thúc mạnh mẽ về tình dục, khi được đàn ông tán tỉnh, cô ta sẽ không có khả năng  phân biệt được giữa sự ngang bằng về trí tuệ đích thực và sức hấp dẫn giới tính đơn thuần. Có thể cô ta sẽ không đắn đo cưới người đàn ông đầu tiên đánh thức lòng ham muốn nơi cô và nhận ra quá muộn, sau khi nhu cầu sinh lý đã được thỏa mãn, rằng cô không còn có chút gì chung với anh ta cả. Tất cả mọi thứ được áp dụng trong cách giáo dục nam và nữ giới khiến cho phái nữ trở lên nhút nhát không cần thiết và phái nam vồ vập thái quá trong cách tiếp cận tình dục. Không ai trong số họ có kiến thức về những việc liên quan tới tính dục, kiến thức mà cả hai người đều nên có; và rất thường xuyên những thất bại ban đầu bởi sự thiếu hiểu biết trên làm cho cuộc hôn nhân của hai người luôn không có sự thỏa mãn về khía cạnh tình dục. Ngoài ra cuộc sống lứa đôi về mặt tâm hồn và thể xác vấp phải những khó khăn. Người phụ nữ không quen cách nói chuyện thẳng thắn về những việc liên quan tới tính dục. Đàn ông cũng không quen với công việc này, ngoại trừ với những người đàn ông khác hoặc gái mại dâm. Trong phạm vi riêng tư nhất và quan trọng nhất trong cuộc sống chung của họ thì họ lại nhút nhát, ngượng ngịu, thậm chí hoàn toàn lặng thinh. Người phụ nữ có thể không được thỏa mãn, có những đêm thức trắng và hầu như không biết cô ta mong mỏi điều gì. Người đàn ông có suy nghĩ rằng thậm chí gái mại dâm lại thoáng hơn so với người vợ thân thuộc hợp pháp của mình, có thể lúc đầu ý nghĩ này chỉ thoáng qua và anh ta muốn xua đuổi nó ra khỏi đầu ngay, nhưng dần dần nó càng trở lên khó gạt bỏ hơn. Cũng có thể trong cùng thời điểm đó anh ta cảm thấy bị xúc phạm trước sự lạnh nhạt về mặt tình cảm của vợ, bởi người vợ phải chịu đựng trước cảnh chồng mình không biết cách khêu gợi tình cảm nơi cô. Tất cả những bất hạnh này bắt nguồn từ cách xử sự theo lối lặng thinh và đứng đắn của chúng ta.

Trong tất cả những chặng đường, từ thời thơ ấu qua tuổi dậy thì, tới thời thanh niên và tiếp tục trong hôn nhân, người ta cho phép luân lý đã lỗi thời đầu độc tình yêu, nhồi nhét vào tình yêu sự đen tối, sợ hãi, hiểu lầm lẫn nhau, hối hận và áp lực tâm lý, và chia rẽ thôi thúc thể xác về tình dục và thôi thúc tâm hồn về tình yêu lý tưởng thành hai vùng, biến một vùng trở thành cục súc (8) và vùng kia trở thành cằn cỗi (9). Người ta không nên sống một cuộc sống như vậy. Đời sống bản năng và tinh thần không nên xung đột với nhau. Không cái nào trong hai bản chất trên là xung khắc với cái kia, và không cái nào có thể đạt tới sự đơm hoa kết trái trọn vẹn trừ khi được kết hợp với cái kia. Tình yêu giữa đàn ông và phụ nữ ở dạng hoàn thiện nhất là tình yêu tự do, không có sợ hãi và được tạo bởi sự cân xứng giữa cơ thể và tâm hồn; không sợ hãi trước sự lý tưởng hóa, do có một nền tảng tự nhiên tồn tại và không sợ hãi trước nền tảng tự nhiên, điều mà có thể gây xung đột với việc lý tưởng hóa. Tình yêu nên được coi như là một thân cây, với rễ cắm sâu vào đất và cành vươn cao lên trời. Nhưng tình yêu không thể lớn mạnh và phát triển khi nó bị bao quanh bởi những điều cấm kỵ và những sợ hãi hoang đường, bởi những câu nói quở trách và sự câm lặng của những điều ghê rợn. Tình yêu lứa đôi và lòng yêu thương giữa cha mẹ và con cái là hai trụ cột chính trong cuộc sống tình cảm của chúng ta. Với việc hạ thấp điều này, luân lý theo tập quán ra vẻ đề cao điều kia. Nhưng trong thực tế, lòng yêu thương của cha mẹ giành cho con cái chịu thiệt hại qua việc hạ thấp tình yêu giữa cha mẹ giành cho nhau.

Trẻ em là thành quả của niềm vui và lòng yêu mến lẫn nhau, trẻ em có thể được yêu thương một cách lành mạnh hơn, thiết thực hơn, hài hòa hơn với quy luật tự nhiên, đơn giản hơn, trực tiếp hơn và bản năng hơn, nhưng vẫn vị tha hơn và kết trái (10) hơn so với cách những người cha mẹ bị bỏ đói và thèm khát có thể làm được, họ cầu xin những đứa trẻ bơ vơ vài mẩu thức ăn, những thứ họ bị cự tuyệt trong hôn nhân, và qua đó bóp méo tâm trí trẻ nhỏ và đặt nền móng cho những nỗi ưu phiền hệt như vậy cho thế hệ sau. Sợ tình yêu có nghĩa là sợ cuộc sống, và ai sợ cuộc sống thì người đó đã chết tới ba phần tư.

Vài nét về Bertrand Russell

Bertrand Russell (1872-1970) là một nhà Toán học, Triết gia và nhà cải cách xã hội Anh. Sinh ra tại Wales trong một gia đình quý  tộc, ông nội John Russell (1792-1878) từng hai lần đảm nhiệm vị trí Thủ tướng Anh (1846-52 và 1865-66) dưới thời Nữ hoàng Victoria, Bertrand Russell mồ côi cả cha lẫn mẹ khi mới lên ba và lớn lên cùng với anh trai và chị gái dưới sự giáo dục của bà nội Lady John, một người phụ nữ theo đạo có những tư tưởng tiến bộ về mặt khoa học và công bằng xã hội. Sống một tuổi thơ cô đơn, được dạy dỗ bởi những gia sư tư, Bertrand Russell sớm tìm thấy niềm vui cuộc sống qua môn Hình học Euclid. Trong những năm 1890-1894 Russell theo học môn Toán tại Trinity College, Cambridge, ở đó ông làm quen với George Erward Moore và chịu ảnh hưởng lớn từ Alfred North Whitehead, người đã giới thiệu ông vào Cambridge Apostles, một hội kín cho những tài năng tại Cambridge. Trong khoảng thời gian sinh viên Bertrand Russell làm quen với  Alys Pearsall Smith, con gái một gia đình theo tín phái Quaker người Mỹ, và hai người quyết định đi tới hôn nhân cuối năm 1894 bất chấp sự phản đối của Lady John. Trước đó gia đình Russell đã tạo điều kiện cho ông làm việc tại Đại sứ quán Anh tại Paris, nhưng ông không cảm thấy thích hợp và quay trở lại Cambridge làm công việc nghiên cứu về Toán và Triết học.

Quan tâm tới chính trị và những vấn đề xã hội, Russell viết tác phẩm đầu tiên của mình năm 1896 về Dân chủ Xã hội Đức (German Social Democracy), một trong hơn bảy mươi cuốn sách trong sự nghiệp khoa học của mình. Năm 1900 tại Hội nghị Quốc tế Triết học tại Paris, Russell làm quen với những tác phẩm về môn Logic của nhà Toán học người Ý Giuseppe Peano. Chịu ảnh hưởng bởi ý tưởng của Peano rằng nền tảng của Toán học có thể được suy diễn từ một vài khái niệm logic, Russell hoàn thành tác phẩm quan trọng đầu tiên của mình “The Principles of  Mathematics” vào năm 1903.  Thời gian sau đó, Russell cùng với Whitehead viết tác phẩm đồ sộ “Principia Mathematica” (1910-1913) gồm có ba phần với mục đích thu gọn toàn bộ môn Toán dựa trên một tập hợp hữu hạn gồm những tiên đề và quy tắc suy luận, đây cũng là lần cuối Russell nghiên cứu sâu trong phạm vi Toán học.

Cũng trong khoảng thời gian này, cuộc hôn nhân của Bertrand Russell với Alys đi tới đổ vỡ, một phần cũng bởi tính vô sinh của Alys. Ngay năm 1902 mối quan hệ của hai người đã có những trở ngại lớn, hai người sau đó sống ly thân và đi tới ly dị vào năm 1921. Trong những năm này Bertrand Russell có nhiều mối quan hệ với những phụ nữ khác.

Năm 1911 Russell làm quen với Ludwig Wittgenstein lúc đó đang theo học tại Cambridge. Giữa hai người có những ảnh hưởng tư tưởng lớn lẫn nhau. Cùng với Frege, Moore và Wittgenstein, Russell được coi là một trong những người thành lập ra môn Triết học Phân tích. Russell có nhiều hoạt động chính trị. Năm 1907, là đảng viên của Liberal Party, Russell ra ứng cử cho Nghị viện tại Wimbledon với tư cách là người ủng hộ cho Quyền lợi người phụ nữ, nhưng ông không trúng cử. Trong Thế chiến lần Thứ nhất, Russell lên tiếng phản đối chiến tranh và kêu gọi binh sĩ thoái chiến với hậu quả ông mất chức giáo sư tại Cambridge vào năm 1916 và sau đó phải ngồi tù sáu tháng tới tháng Chín 1918. Tháng Tám 1920, cùng phái đoàn đảng Lao động Anh, Russell tới thăm Nga và có những thất vọng lớn về những tác động sau cuộc Cách mạng Tháng mười. Russell giảng dạy một năm tại trường Đại học Bắc Kinh, ông sang thăm Nhật Bản năm 1921. Trong cùng năm ông quay trở lại Anh và cưới Dora Black đang mang bầu sáu tháng, người đã tháp tùng ông trong những chuyến du lịch tại Châu Á. Dora sinh cho Russell hai người con, nhưng cuộc hôn nhân này chỉ kéo dài tới năm 1936. Ngay sau đó Russell cưới người vợ thứ ba Patricia Helen Spence, còn gọi là Peter, hai người có chung một người con.

Trong khoảng thời gian này ông viết những tác phẩm triết học có ảnh hưởng lớn như “The Philosophy of Logical Atomism” (1918/19), “The Analysis of Mind” (1921) và “The Analysis of Matter” (1927). Năm 1929 Russell viết cuốn “Hôn nhân và Luân lý” (Marriage and Morals), tác phẩm gây ra nhiều tranh cãi và có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp của ông. Năm 1938 gia đình Russell chuyển tới sống tại Mỹ. Sau một năm giảng dạy tại UCLA, ông tới City College, New York, nhận chức giáo sư ông đã được bổ nhiệm. Tại đây ông buộc phải từ bỏ vị trí này bởi những phản ứng dữ dội từ phía những người sùng đạo chính thống và từ giới chính trị phản đối những bài viết của ông chống lại tôn giáo và luân lý, và đặc biệt bởi cuốn “Hôn nhân và Luân lý”. Russell chuyển tới giảng dạy tại Philadelphia, nơi ông viết cuốn “History of Western Philosophy” (1945) nổi tiếng. Năm 1944 ông quay trở lại Trinity College, Cambridge.

Sau sự kiện Hiroshima và Nagasaki, Russell nhận thấy thảm họa gây ra bởi bom nguyên tử đối với loài người. Nhìn nhận Stalin còn nguy hiểm hơn Hitler, ông thậm chí đưa ra đề nghị về một cuộc chiến tranh phòng ngừa chống lại Liên bang Xô-viết và không loại trừ khả năng sử dụng bom nguyên tử. Sau khi Liên bang Xô-viết thành công trong việc thử bom nguyên tử năm 1949, Russell thay đổi lập trường và ghi nhận cơ hội duy nhất cho sự sống còn của loài người là tránh một cuộc Thế chiến lần Thứ ba.

Năm 1949 Russell được nhận Order of Merit, huân chương cao quí của Hoàng gia Anh, và cho những cống hiến của mình đối với nhân loại ông được trao giải Nobel Văn học vào năm 1950, đặc biệt cho tác phẩm “Hôn nhân và Luân lý” .

Sau khi cuộc hôn nhân với Patricia Helen Spence tan vỡ, ông kết hôn lần thứ tư với Edith Finch, người ông chung sống tới cuối đời. Trong hai mươi năm cuối, ông vẫn luôn tranh đấu cho hòa bình, quyền con người và công bằng xã hội. Cùng với nhiều nhà khoa học danh tiếng khác, Einstein và Russell soạn thảo bản “Russell-Einstein-Manifest” kêu gọi tính trách nhiệm trong khoa học và nghiên cứu. Ông nỗ lực tranh đấu cho việc loại bỏ vũ khí hạt nhân. Từng là Chủ tịch của “Campaign for Nuclear Disarment”, cùng một số hội viên khác, ở tuổi 89, ông bị tuyên án hai tháng tù về tội kêu gọi chống lại chính quyền nhà nước. Vì lí do sức khỏe thời gian trong bản tuyên án được giảm xuống còn một tuần. Năm 1963 ông thành lập quỹ “Bertrand Russell Peace Foundation”. Năm 1966 ông hoàn thành bản thảo về những tội ác chiến tranh tại Việt Nam, và cùng với Jean-Paul Sartre ông tổ chức Tòa án quốc tế về Tội ác Chiến tranh, được biết đến dưới tên “Russell Tribunal”. Trong những năm cuối ông viết ba tập tự truyện (1967-1969).

Bertrand Russell mất ngày 2.2.1970 tại Penrhyndendraeth, Wales.

Tài liệu

[1] Bertrand Russell, Marriage and Morals, Liveright Paperbound Edition, 1970 ISBN 0-871  40-211-4
[2] Bertrand Russell, Ehe und Moral, Verlag Darmstädter Blätter, 2. Auflage, 1982 ISBN 3-871 39-082-8
[3] Wikipedia

Chú thích:
(1) Chương XIX của [1] “Sex and individual well-being”
(2) Ác dâm có tên tiếng Anh là sadism, một từ được gọi theo nhà văn người Pháp Sade (1740-1814), nổi tiếng với những tác phẩm khiêu dâm, và những nhân vật của ông thỏa mãn tính dục của họ qua cách hạ nhục hay đánh đập bạn tình.
(3) Khổ dâm có tên tiếng Anh là masochism, một từ được gọi theo nhà văn người Áo Sacher-Masoch (1836-1895), được biết tới qua những tác phẩm miêu tả sự thỏa mãn tính dục của các nhân vật qua cách bị hạ nhục, bị đánh hoặc tự hành hạ bản thân.
(4) Theo thuyết của Mani (216-276/77) đến từ Ba Tư, thế giới được chia ra làm hai phái luôn cạnh tranh quyết liệt với nhau, phái Ánh sáng đại diện cho phe Thiện và phái Bóng đêm đại diện cho phe Ác. Con người là hiện thân của cả hai phái, tâm hồn đại diện cho phái Thiện và thể xác cho phái Ác.
(5) Nhà văn người Anh (1792-1822) viết theo trường lối lãng mạn.
(6) Tạm dịch: Lòng khao khát của bướm đêm tới ánh sao, của màn đêm tới sớm mai
(7) Tình yêu mang tính Platon là tình yêu lý tưởng, trong trường hợp này mang tính Platon có thể hiểu là không thiết thực hoặc suông.
(8) Nguyên văn: beastly
(9) Nguyên văn: sterile
(10) Nguyên văn: more fruitful

Đọc bản PDF

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Bertrand Russell – Giải phóng tính dục -Phần I/II-”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả