talawas blog

Chuyên mục:

Đường về (4)

30/03/2009 | 5:50 sáng | 7 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Việt

Chuyên mục: Kinh tế - Môi trường, Tổng hợp
Thẻ: > >

Làm ăn

Ngày 10 Tết, tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất đón Jami Liu, bạn tôi từ Đài Bắc sang. Chúng tôi cũng tình cờ quen nhau qua internet, khi tôi tìm một số sản phẩm quang điện cho thị trường Đức. Thấy chất lượng sản phẩm của Jami tốt, giá cả phải chăng, tôi đã đặt vấn đề hợp tác ngay. Sau mấy tháng thử nghiệm, chúng tôi đã tạo được sự tin tưởng lẫn nhau. Sản phẩm của Jami nay đã có chỗ đứng tại Châu Âu và tôi có một người bạn mới ở Đài Loan. Biết tôi về Việt Nam ăn Tết, Jami hẹn sau Tết sang thăm tôi. Chúng tôi dự định sẽ bàn về việc cải tiến sản phẩm cho phù hợp với thị trường EU và sau đó hai đứa sẽ tìm cơ hội đầu tư vào công nghệ môi trường ở Việt Nam. Jami có know how về sản xuất điện “sạch”, tức là bằng pin mặt trời, còn tôi là một thành viên cuồng nhiệt của phong trào “Xanh” tại Đức. Nồi nào úp vung nấy, rất tâm đầu ý hợp, chỉ khổ nỗi phải hiểu nhau qua thứ tiếng Anh của hai thằng kỹ sư, toàn từ kỹ thuật.

Khác với hôm tôi về nước, hôm nay đường phố Sài Gòn đông như kiến, còi xe máy, còi ô tô đinh tai nhức óc. Từ sân bay về khách sạn Sài Gòn ở đường Hai Bà Trưng, chúng tôi phải bò mất gần 40 phút. Jami nói Sài Gòn làm anh ta nhớ lại Đài Bắc cách đây hơn 30 năm, cũng nhiều xe máy và cửa hàng như vậy. Rồi anh ta hỏi tôi:

“Đức cách đây 100 năm chắc cũng thế sao?”

“Lúc đó tớ chưa ra đời, nhưng tớ biết là họ không công nghiệp hóa đi tắt kiểu Á châu ta, do vậy khi xưa họ không có cái cảnh rối loạn này. Đi tắt như bên cậu thì cũng nhanh đạt trình độ công nghiệp của châu Âu, nhưng các giá trị về dân chủ, an sinh xã hội thì chắc mới sắp bằng thôi. Dù sao thì cũng còn là may, vì bên cậu họ học cả cách kiếm tiền và cách chia tiền của tư bản. Còn ở đây họ chỉ thích học nửa đầu, nửa thứ hai họ cóc cần vì họ bảo họ đã có chủ nghĩa xã hội rồi.”

Jami lắc đầu không hiểu, bảo là anh ta không quan tâm đến chính trị nên không biết CNXH là cái gì.

Sau khi đã check in vào khách sạn, chúng tôi bắt tay ngay vào làm việc. Tôi phone cho thằng Cồ, em rể tôi. Cồ là dân Đài Loan đã ở đây hơn 10 năm nay, nói tiếng Việt như gió. Hắn cưới Thuận, con gái cậu tôi và đã có hai mụn con. Tên thật của hắn là Michael Wu, nhưng cậu tôi gọi là Mai Cồ, sau rút gọn là Cồ. Cồ có quan hệ rộng với giới doanh nhân Đài Loan ở đây, vì bố hắn có nhà máy ở Biên Hòa chuyên chế tạo các loại sản phẩm phụ cho Adidas. Chúng tôi đến văn phòng của Cồ ở quận 5. Cồ và Jami nói chuyện với nhau bằng tiếng Quan thoại nên tôi chỉ đoán là hắn đang kể cho Jami nghe các khó khăn, các thuận lợi, về chính sách đầu tư, nhu cầu thị trường v.v… Jami nghe có vẻ chăm chú lắm.

“Âm mưu” của tụi tôi là chế tạo hệ thống cung cấp năng lượng dùng pin mặt trời cho Việt Nam. Từ lâu tôi biết các tổ chức GZT (Cơ quan viện trợ phát triển) của Đức, SIDA của Thụy Điển và Viện Solarlab của Việt Nam đã tìm cách đưa công nghệ làm điện sạch vào nước ta, nhưng chủ yếu là họ làm theo nguyên tắc “Cù lao”. Hệ thống cù lao hoạt động độc lập, chỉ dùng cho các vùng sâu, vùng xa mà mạng điện quốc gia chưa tới. Ban ngày pin mặt trời nạp điện vào ắc-quy, tối đến ắc quy xả điện vào bộ chuyển từ 24V thành 220V để cung cấp cho người tiêu dùng. Cái bất tiện ở đây là: Gặp những đợt mưa kéo dài thì đêm cũng như ngày, không có điện. Cái thứ hai là để có đủ điện dùng, người dân phải sắm rất nhiều ắc quy chì vừa mất diện tích chứa, vừa tốn tiền, lại gây ô nhiễm. Thường sau vài năm không ai biết hủy đống chì, acid độc hại đó đi đâu. Ở các nước phát triển việc xử lý hủy ắc quy chì tốn kém gần bằng chế tạo ra nó. Còn ở nước ta thì chắc chắn nhà nước sẽ không tổ chức nổi quá trình này, khi đó chì và acid sẽ tùy nghi di tản vào nước nguồn, lòng đất. Nhưng lý do cơ bản mà thị trường pin mặt trời ở Việt Nam chưa phát triển hoặc nói đúng hơn là chưa có, bất chấp lợi thế rất lớn về năng lượng trời cho, chính là các dự án nói trên chưa nhắm vào 95% diện tích đã được điện khí hóa của nước ta.

Do vậy tụi tôi dự tính sẽ đưa công nghệ sản xuất điện mặt trời hòa mạng vào Việt Nam. Ban ngày điện sản xuất ra ít được dùng đến, sẽ được hòa mạng, bơm ngược vào lưới điện quốc gia, tức là dân bán điện cho nhà nước vào giờ cao điểm. Buổi tối, lúc nhà nước dư dật điện, dân đi làm về lại mua điện lưới xài. Như vậy khỏi tốn ắc quy, nhà cửa sạch sẽ, môi trường an toàn mà lúc nào cũng có điện. Nếu anh làm khéo, tính toán tốt thì thậm chí không những không mất tiền điện, mà còn được nhà nước trả tiền bán điện. Nói tóm lại,  kiểu gì cũng mau thu hồi vốn. Nhưng cái lợi không thể kể ra được đó là môi trường trong sạch, giảm tải cho lưới điện quốc gia.

Chúng tôi phân công Jami và Cồ đi thăm các khu công nghiệp Biên Hòa, Thủ Đức, gặp các đối tác công nghiệp, tìm hiểu giá đất đai, nhân công, tức là tìm hiểu đầu vào. Còn tôi thì tìm cách gặp gỡ các đối tác tiêu thụ phân phối để xem đầu ra có không. Tất cả các doanh nhân tôi gặp đều khen ý tưởng của chúng tôi về mặt kinh tế, xã hội, nhưng đều phán một câu chết người: Anh hãy quên ngay cái ý đồ bán điện cho nhà nước đi, cho đến chừng nào thế độc quyền của EVN (Tổng Công ty Điện lực Việt Nam) bị xóa bỏ! EVN chỉ quen thu tiền của dân thôi!

Họ cho biết, hiện nay ở Việt Nam năng lượng mặt trời mới chỉ được “xã hội hóa” nhiều nhất trong khâu nấu nước nóng. Tuy thiết bị nhập từ Trung Quốc về giá rất rẻ, nhưng vì bất tiện nên doanh số cũng không lớn. Một phần, vì nhà nào ở ta cũng phải chứa nước trong thùng nhôm đặt trên nóc nhà. Ở phía bắc mỗi năm có 6 tháng, phía nam 11 tháng nắng nóng nên nước chứa trên nóc thường cũng đủ ấm cho tắm giặt. Do vậy nhu cầu nước nóng ở ta không gắt gao như ở xứ lạnh. Thêm vào đó, các thiết bị đun nước nóng này thường hay gây rò rỉ nước, rắc rối nên không mấy ai mặn mà. Còn giải pháp điện mặt trời tích qua ắc quy thì chỉ được nhà nước thực hiện cho các dự án điểm chứ dân chúng không đủ sức đầu tư. Lý do chính là giá thành bị đội lên bởi ắc quy và vấn đề chỗ để ắc quy trong nhà. Còn yếu tố xử lý ắc quy thải thì chưa nói đến. Nay nếu có nhà máy cung cấp panel pin mặt trời và thiết bị hòa mạng tại Việt Nam thì xét về kinh tế sẽ rất hay. Nhưng…

Để tìm hiểu cái “nhưng” đó, tôi tìm cách tiếp xúc với nhà nước. Tôi nhờ đến các anh Nguyễn Ngọc Ngoạn, anh Dương Minh Nhẫn. Các anh đều là phó tiến sỹ ở Đông Âu về từ những năm 70 và đã từng nắm chức vụ cao trong chính quyền. Hai anh đều hoan nghênh ý tưởng của tôi, nhưng cũng cho tôi tắm nước lạnh như mấy doanh nhân nọ. Tuy nhiên chỉ vài chục phút sau anh Nhẫn báo cho tôi biết là giáo sư Lê Hoài Quốc, phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh mời tôi sáng mai đến gặp.

Đúng 8 giờ sáng hôm sau, giáo sư Quốc thân mật tiếp tôi tại phòng anh. Tôi nhận thấy mình đang gặp một người làm khoa học thật sự. Anh cho biết, đề tài này cũng đã từng được đề cập đến tại một vài hội thảo, nhưng vấn đề chưa chín, chính vì mọi người chưa hiểu hết ý nghĩa kinh tế xã hội của nó. Tôi nêu cho anh Quốc ví dụ ở Đức, nơi mà nhà nước mua điện sạch của dân với giá 43 cent/Kw, trong khi dân xài điện lưới phải trả cho các công ty cấp điện tư nhân với giá 16 cent/Kw. Căn nhà tôi ở Đức có mái nhỏ nên chỉ tạo được một công suất 3KW. Với lượng nắng trung bình 1050giờ/năm, mái nhà tôi sẽ cung cấp 3150 Kwh/năm. Như vậy nếu nhà tôi tiêu thụ cả năm 7000KWh với giá 16 cent, bán 3150KW với giá 43 cent thì tôi không những không mất tiền điện mà còn có lãi và chỉ vài năm sau là tôi hoàn vốn đầu tư. Điều quan trọng là nhờ hàng trăm ngàn mái nhà kiểu đó mà nước Đức đã đỡ phải đầu tư vài nhà máy điện. Vì các nhà máy này có xây ra cũng chỉ để giảm căng thẳng cho ban ngày, còn ban đêm thì nước Đức thừa 30% công suất điện, các máy phát điện đều phải chạy cầm chừng.

Ở nước ta, tôi không mong nhà nước phải mua điện giá cao hơn bán, mà chỉ cần chấp nhận mua lại đúng giá bán thì đã là tốt rồi. Lý do là nước ta có tới 1800 giờ nắng trong năm, với cường độ bức xạ mặt trời gấp nhiều lần châu Âu cho nên một cái mái nhỏ như của nhà tôi sẽ cung cấp mỗi năm xấp xỉ 6000 Kw. Với giá thành sản xuất và chi phí lắp đặt của ta, chắc chắn không cần nhà nước bù lỗ cho dân, chúng tôi vẫn có thị trường tiêu thụ.

Anh Quốc xem các tính toán của tôi và rất thích. Anh hỏi tôi liệu có thể làm một cuộc hội thảo không, ảnh sẽ mời quan chức các ngành điện, công nghiệp, môi trường, quản lý đô thị đến dự. Tôi nói chắc phải để đợt sau, vì tôi đã sắp đặt lịch kín rồi. Nhưng khi tôi nêu mối lo của trăm họ về “chế độ độc quyền EVN “, thì anh Quốc cũng gãi tai mà nói:

“Chà, tôi cũng thấu vấn đề này lắm mà chưa biết tính sao. Bản thân tôi cho là bao giờ mua điện của dân mình cũng hơn mua của Trung Quốc, cho dù mua của tụi kia thì có lãi, mua của dân ta thì huề.”

Anh khuyên tôi khi ra Hà Nội nên gặp thêm các giới chức cao hơn ở trung ương, qua đó hy vọng có thể làm xoay chuyển được quan điểm của trên về vấn đề này. Tuy không nói gì, nhưng tôi biết là mình đang lao vào ngõ cụt. Cái khó nhất trong nền chính trị Việt Nam là chẳng có ai quyết định được vấn đề gì có tính chất khai thông, nhưng bất cứ ai cũng có thể đóng góp vào quá trình gây ách tắc. Cái quái gở hơn nữa trong bộ máy này là: ai cũng biết nguyên nhân của ách tắc, vậy mà từ Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước đến tay giúp việc ở ủy ban phường đều đổ lỗi cho “cơ chế”. Thế nhưng không ai chịu phá bỏ cái gọi là cơ chế đó. Hóa ra danh từ Cơ Chế (system mechanism) chẳng phải là cái gì xa lạ, mà là cách nói dối của từ Chế Độ (system). Lâu nay người Việt ta đã quen sống với sự dối trá tập thể, vì việc duy trì cơ chế này đồng nghĩa với việc duy trì địa vị của tất cả các vị nói trên. Khi bị vào thế bí thì ai cũng có chỗ để đổ thừa mà vẫn không bị coi là chửi chế độ. Chỉ có nạn nhân thì chẳng lý giải được lỗi tại ai!

Tối đó tôi gặp Jami và Cồ để tổng kết “chiến dịch”. Hóa ra hai cha nội kia còn ít may mắn hơn tôi. Sau hai ngày đi thăm các đối tác công nghiệp để gia công các cấu kiện cơ khí và điện tử cho sản phẩm của chúng tôi sau này, họ không tìm được một đối tác nào khả dĩ có thể cung cấp nổi các sản phẩm có chất lượng yêu cầu. Nếu không có đối tác cung cấp phụ tùng tại chỗ thì âm mưu của chúng tôi coi như thất bại 100% về kinh tế, bất kể có đầu ra hay không. Chủ trương của chúng tôi là tận dụng tối đa sản xuất trong nước để chế tạo toàn bộ các cấu kiện cho hệ thống pin mặt trời và các bộ chuyển đổi điện. Duy nhất chỉ có các tấm vật liệu (wafer) là nhập ngoại. Có như vậy mới đảm bảo giá thành đủ để thị trường chấp nhận. Đối với tôi, còn quan trọng hơn nữa là tạo công ăn việc làm cho đồng nghiệp trong nước.

Nghe vậy tôi sực nhớ đến anh Thanh Trúc, một doanh nhân Việt rất thành đạt ở Bỉ. Anh Trúc đã ba lần về Việt Nam manh nha đầu tư mở rộng sản xuất cho công ty điện tử của anh. Năm 2000 anh về lần đầu và sau đó rời Sài Gòn với bao thất vọng do sự quan liêu của chính quyền. 2001 anh đã thiết lập một cơ sở sản xuất Trung Quốc. Năm 2007 nhà máy của anh tại Trung Quốc đã lên đến 600 thợ, chạy hết công suất mà không cung cấp đủ cho thị trường thế giới. Tôi qua Bỉ gặp anh Trúc và hứa sẽ chuẩn bị các đối tác cho anh ở trong nước trong chuyến đi tới.

Tháng 11.2007 anh Trúc bay về Việt Nam cùng phái đoàn kinh tế chính phủ Bỉ và anh gửi SMS cho tôi từ Hà Nội: Các đối tác tôi liên hệ đều cáo bận và không ai tiếp được anh cả! Hôm sau, vào đến Sài Gòn anh lại gửi SMS cho tôi nói là ông bạn phó tổng giám đốc nọ của tôi ở Hà Nội vừa mới phone cho anh mời đến chơi!

Tôi phải ngoan cố đến mức mặt dày để tháng 10.2008 tôi lại liên hệ với anh Nguyễn Ngọc Ngoạn, nhờ giúp anh Trúc lần này. Tôi còn nhờ luật sư Nguyễn Ngọc Bích, một chuyên gia hàng đầu ở Thành phố Hồ Chí Minh về tư vấn đầu tư nước ngoài, giúp anh Trúc về các vấn đề liên quan đến luật đầu tư.  Nhân đi thăm nhà máy ở Trung Quốc, anh Trúc muốn ghé Việt Nam để thử lại cơ hội lần nữa. Tôi thì vẫn cho là anh chưa tìm đúng người thôi.

Buổi tư vấn tại văn phòng luật DC-Law của anh Bích đã làm cho anh Trúc gỡ được nhiều vướng mắc. Anh Ngoạn thì rất nhiệt tình, đưa anh Trúc đi thăm các cơ sở sản xuất của Viettronics, lần này thì đúng đối tác. Tôi vẫn có ấn tượng tốt về Viettronics Biên Hòa từ những năm 90 nên tôi hơi ngỡ ngàng khi anh Trúc nói là tất cả các cơ sở kiểu nhà nước này chỉ có bất động sản to, khung cán bộ khổng lồ, nhưng đáng tiếc là quan liêu, công nghệ lạc hậu không thể cung cấp nổi các phụ kiện cần thiết cho sản phẩm của nhà máy anh. Còn công ngiệp điện tử tư nhân của ta thì lại quá yếu. Khi đó tôi hơi nghi ngờ ý đồ đầu tư vào Việt Nam của anh Trúc, vì nghĩ là anh vẫn khoái đầu tư vào Trung Quốc, nơi mà cái máy in tiền của anh đang chạy hết công suất. Nay nghe Jami và Cồ nói vậy, anh Trúc mới được giải oan.

Giờ thì tôi biết là khó xong rồi. Tôi an ủi Jami: “Dù sao cậu bay sang đây gặp tớ cũng không công cốc, vì chúng ta đã thống nhất được với nhau về sản phẩm và chính sách đối với thị trường EU. Cuộc hội thảo tại Hà Nội như đã dự định sẽ vẫn tiếp tục làm, vì không hủy được nữa.”

“Không sao, tới cũng chỉ dự tính đi Việt Nam lần này là để khảo sát đã, đâu có ảo tưởng được ăn ngay. Tớ biết là vấn đề này luôn gắn với một chính sách quốc gia hoàn chỉnh. Dù sao đi chuyến này tớ mới hiểu thêm về đất nước cậu và thành thật mà nói, Việt Nam có nhiều cái gần gũi với nước tớ lắm.” Jami nói.

Hôm sau, trên chuyến bay từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, tôi và Jami mới có thời gian tâm sự. Té ra Jami là người Đài Loan gốc, tức là thuộc chủng tộc Muôn Việt, hay Âu Việt gì đó mà anh không rõ. Các dân tộc này đã sinh sống ở Đài Loan (Formosa) từ hàng ngàn năm, với nền văn hóa, tiếng nói riêng của họ. Năm 1949 Tưởng Giới Thạch10 đem tàn quân Quốc dân Đảng ra chiếm đảo, làm căn cứ cho một nước Trung Hoa tư bản. Cũng từ đó ách thống trị độc tài khốc liệt của Quốc dân Đảng đã làm biến đổi cuộc sống của hàng triệu gia đình người Đài Loan. Tiếng địa phương bị cấm dạy, Quan thoại là tiếng nói duy nhất được phép lưu hành. Mọi ý đồ khôi phục nền văn hóa, nền độc lập của dân bản xứ đều bị Quốc dân Đảng đàn áp đẫm máu. Toàn bộ huyết mạch kinh tế đều nằm trọn trong tay các băng đảng (Clan) người Hoa từ lục địa sang…

“Cho đến cái ngày mà chủ nghĩa tư bản độc tài kia, nhân lợi dụng sự ngủ quên của các nước xung quanh đã tiến vọt lên được một bước về chất, nền dân chủ đại nghị mới ra đời chứ gì?” Tôi tiếp lời.

Jami trợn mắt nhìn tôi. Tôi bảo những điều đó đối với tôi không xa lạ, chỉ có điều tôi không biết cậu là người Hoa hay người Đài Loan. Tôi kể cho Jami nghe về vụ Trương Học Lượng11 bắt Tưởng Giới Thạch ở Tây An như thế nào, về việc Stalin nuôi dạy và o bế Tưởng Kinh Quốc ra sao, lý do nào khiến Quốc-Cộng phải hợp tác, tại sao Đài Loan mất ghế ở Liên Hiệp Quốc, vợ con Trần Thủy Biển dính tham nhũng thế nào. Jami cứ há mồm ra nghe một cách ngạc nhiên.

“Sao cậu ở bên này mà tỏ chuyện Trung Quốc hơn cả tôi?” Cậu ta hỏi vừa nhâm nhi ngụm cà phê.

“Tớ với cậu cùng học đại học kỹ thuật, nhưng ở nước tớ, 50% thời giờ chỉ để học về chủ nghĩa Marx-Lenin, về phong trào cộng sản quốc tế, về cách mạng thế giới, vì thế nên tớ nắm các chuyện đó chắc hơn cậu. Còn cậu thì biết cách chế tạo pin mặt trời bằng công nghệ cao.” Tôi nói đùa.

Jami suýt sặc cà phê vì buồn cười. Hóa ra sau 4 ngày làm việc với tôi, anh ta đã biết đại khái thế nào là chủ nghĩa Marx-Lenin. Với hiểu biết hạn chế, anh ta tìm cách giải thích cho tôi sự khó khăn, nhiều lúc đến mức tuyệt vọng của phong trào độc lập ở Đài Loan.

Tôi nói: “Trong số các dân tộc Bách Việt ở Hoa Nam, nay chỉ còn dân tộc Nam Việt thoát được ách thống trị của Trung Hoa, mặc dù nước tớ núi liền núi, sông liền sông với họ. Các cậu được hàng trăm dặm biển bao bọc, bảo vệ mà vẫn bị thôn tính thì tất nhiên là sẽ rất khó đấy. Việc nền văn hóa, ngôn ngữ Việt của chúng tớ được bảo tồn qua hàng ngàn năm Bắc thuộc chứng tỏ sức sống mãnh liệt của dân tộc Nam Việt, nhưng có thể sức sống đó mang yếu tố bảo thủ và cũng là cái gánh nặng của chúng tớ ngày nay. Thế nên tớ mới phải đi tìm công nghệ mới về quang điện bên cậu.”

Lần này thì Jami không thể chịu được kiểu nói nửa đùa, nửa thật của tôi nữa. Cậu ta nổi cáu đến nỗi cô tiếp viên hàng không Vietnam Airlines đi qua cũng phải dừng lại, tưởng có chuyện gì.

“Thôi, thôi, thôi đi. Tôi ngán cái thuyết ‘được này mất kia’ của cậu lắm rồi” -  Jami nói to và giơ tay lên làm dấu ngán đến mang tai – “Cậu có biết chúng tớ nhục đến mức nào không? Người Đức các cậu vào Đài Loan không cần thị thực, trong khi tớ vào Đức phải xin visa12. Chúng tớ phải chấp nhận các hiệp định bất bình đẳng như vậy với tất cả các nước, kể cả với thằng oắt con Luxembourg13! Cậu có biết không? Vấn đề Đài Loan luôn là chuyện đau đầu cho bất cứ trò chơi quốc tế nào, từ giải đá banh cho đến các cuộc thi gái đẹp!”

Rồi Jami ôm đầu rên rỉ: “Từ trước giờ, tớ ít quan tâm đến chính trị, chỉ lo về công nghệ và kiếm tiền. Nhiều lúc tớ bàng quan với các đề tài chính trị. Thậm chí tớ không phân biệt được những gì chứa đựng trong chính sách của Lý Đăng Huy hay Trần Thủy Biển. Nhưng qua chuyến đi Việt Nam này tớ mới thấy, cuộc sống vật chất đâu có phải là tất cả. Nếu dân Đài Loan cũng chỉ lo làm giầu mà không nghĩ đến một giải pháp chính trị căn bản cho đất nước thì sẽ đến lúc, chúng tớ sẽ biến mất trên bản đồ thế giới.”

Hai ngày sau khi ở thăm Hà Nội, tôi tiễn Jami về Đài Loan. Từ đó đến nay, bên cạnh các email làm ăn, Jami cũng gửi cho tôi những lời bình hay các suy nghĩ của anh về tình hình chính trị, văn hóa. Trong diễn đàn X-Cafe sau Tết có mục bàn về quan hệ Trung-Đài mà nổi bật về bài viết về lịch sử Đài Loan của một nick khá sắc sảo. Tôi hay đem các ý kiến của nick này gửi cho Jami để kiểm chứng. Anh ta thường phải mất 1-2 ngày tìm hiểu và cuối cùng luôn có câu trả lời xác đáng.

(Còn nữa)


10 Thật ra Quốc dân Đảng quản lý Đài Loan từ năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng đồng minh. Nhưng 1949 Tưởng Giới Thạch mới kéo 2 triệu tàn quân cùng bộ máy Quốc dân Đảng tràn ra Đài Loan.

11 Sau một đêm bị nguyên soái dưới quyền là Trương Học Lượng tống giam ở Tây An, Tưởng Giới Thạch bạc trắng đầu. Giai thoại này chưa được y học kiểm nghiệm.

12 Do chính sách Một nước Trung Hoa được Mỹ khởi xướng 1972 nên tất cả các nước phương Tây đều coi như không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, mặc dù vẫn quan hệ bình thường. Công dân Đài Loan đi đâu cũng phải xin visa, tuy chỉ là hình thức, thường được cấp tại ngay sân bay.

13 Đại công quốc Luxembourg (LU) với 400.000 dân nằm giữa Đức, Pháp và Bỉ, là thành viên EU. Vì dân số ít nhưng lại có quan hệ quốc tế rộng nên LU thường nhờ sứ quán Hòa Lan hoặc Bỉ đại diện cho quyền lợi của mình tại nhiều nơi. Khối Hòa-Lan, Bỉ, Luxembourg còn được gọi là khối BENELUX.

Phản hồi

7 phản hồi (bài “Đường về (4)”)

  1. Nguyễn Việt nói:

    Khi đó họ cũng hy vọng sản xuất ra PV.
    Các suy tính của chị Thanh về hiệu quả kinh tế thì tôi cũng đã hỏi Jami từ truớc. Giá mua tấm PV còn rất cao. Tại châu Âu giá bán lẻ là khoảng 3,5Eur/W (tương đương 4,5 USD/W). Tại Đài Loan, 3,5 USD/W. PV do Trung Quốc chế tạo rẻ ra cũng còn 3,0 USD/W. Nói là chế tạo nhưng thực chất chỉ là cắt gián, phủ bề mặt, gia công các tấm wafers nhập từ Đức hoặc Nhật. Hiện nay công nghệ Mono & Polycristal vẫn nằm trong tay hai quốc gia này là chính. Tôi chưa biết TQ có làm đuợc chưa? (do đó lo ngại của chị về ô nhiễm Silic sẽ không xảy ra).Nhà nước VN đã xây dựng nhà máy Red Sun để sản xuât PV. Jami biết điều này. Nhưng anh ta đánh giá: Red Sun sẽ cho ra sản phẩm tương đuơng với TQ hoặc đắt hơn. Thị trường dân dụng VN chỉ chấp nhận giá PV duới 1,5 USD/W khi tiền điện sẽ vào khoảng 2500VND/KW trở lên trong giờ cao điểm.
    Bí quyết của nhà đầu tư chính là ở chỗ làm sao họ đạt được cái giá đó ? Nay chắc là khó, vì công nghiệp ta không như họ tưởng.

  2. Nguyễn Việt nói:

    Vụ này nằm ngoài tầm của tôi. Bản thân tôi không phải là chuyên gia về quang điện, tiền thì chỉ đủ ăn, đâu có dám nghĩ đến việc đó. Tuy nhiên khi có thể đưa đuợc ý tưởng gì mới về VN, tôi đều hăng hái. Có thể anh Tâm Bảo có lý khi phê phán căn bệnh đó của Việt Kiều. Jami thì khác, anh ta đã đặt vấn đề về vụ photovoltaic (PV) với các lý do:
    -Anh ta có cổ phần trong một tổ hợp Đài Loan về kỹ thuật quang điện và đang muốn tìm một nơi sản xuất đủ sức cạnh tranh với các cơ sở sản xuất ở Trung Quốc.
    -Việt Nam ngoài lợi thế về bức xạ mặt trời, có một thuận lợi lớn hơn tất cả các xứ khác: Đầu tư xây dựng rất cao, đô thị mới mọc ra rất nhanh. Ở Châu Âu, chính phủ phải khuyến khích bằng bù giá vì bức xạ mặt trời rất thấp và những nguời có nhà cửa đuề huề không mặn mà với việc lắp đặt
    -Việt Nam thiếu điện nặng, dù vùng vẫy kiểu gì, thủy điện hay hạt nhân.
    -Tất cả các yếu tố này Jami đã hỏi đám doanh nhân Đài Loan ở VN truớc khi qua. Họ còn dự đoán ra giá tiền điện ở VN trong 2-3 năm tới…

  3. Tran.HoangPhuong nói:

    Theo như cháu học thì lượng khí CO2 do nhà máy nhiệt điện dùng than tạo ra là nhiều nhất 1000g/kWh, năng lượng mặt trời 200g/kWh, còn nhà máy thủy điện chỉ là 4g/kWh.
    Về chỉ số Net Energy Gain, = tỉ lệ (thu hồi/ đầu tư), nhà máy thủy điện mang lại nhiều lợi nhuận nhất, tới 267 . Than đá, dầu hỏa là 11 và 21. Năng lượng mặt trời dùng các tấm Photovoltaik cũng chỉ là 9.
    Cháu gửi kèm, các bác xem thêm ở đây:
    http://www.flickr.com/photos/28594996@N00/3399641366/sizes/o/
    Vì thế ở Việt Nam đúng đắn nhất vẫn là xây dựng nhiều nhà máy thủy điện, thêm vài nhà máy điện nguyên tử lấy công nghệ. Ở nước mình hiện tại, năng lượng mặt trời phù hợp cho quy mô nhỏ như thôn bản vùng núi hay hải đảo, nơi lưới điện quốc gia chưa tới được. Chúc cho dự án đầu tư sản xuất của bác Nguyễn Việt thành công, giá thành rẻ để đồng bào có điện dùng. Ban đêm ngồi từ trên máy bay qua các thành phố của Tàu, Nhật, Hàn, thấy nó sáng rực, thế mà về đến Hà Nội mình cứ tối om om, cháu tủi thân lắm.

  4. Thanh nói:

    Thưa, em thì chưa thuyết phục lắm về chương trình năng lượng mặt trời của anh. Khoan đi sâu vào chi tiết kỹ thuật, em chỉ xin đặt một câu hỏi trước, sau đó sẽ bàn tới.
    Thưa anh, nếu năng lượng mặt trời ngon ăn như anh nói, tại sao Hoa Kỳ họ không làm cho nước họ ? Tiểu bang Nevada là sa mạc, nắng còn hơn cả Việt Nam, họ có thể đặt vài triệu tấm photovoltaïque ở đó để lấy điện, cung cấp cho bang California, là nơi thiếu điện thường xuyên, hay chuyển sang các bang khác ; không lẽ ở đó điện lực cũng do EVN quản lý ? Hay là họ giàu quá, xài dầu hỏa sang hơn ?
    Nhiều nước khác, dĩ nhiên là nghèo hơn Hoa Kỳ, ánh nắng mặt trời nhiều nước dồi dào hơn cả Việt Nam, họ có phương tiện và kỹ thuật hơn cả Việt Nam, như Ấn Độ, các xứ Bắc Phi, các xứ Trung Mỹ v.v… họ cũng đâu có xài năng lượng mặt trời ? Xứ Brésil họ trồng mía để làm éthanol thế xăng chứ họ không xài kỹ thuật quang điện. Ở đó là xứ xích đới, nóng còn hơn Việt Nam.
    Suy đi nghĩ lại, em cho là phải có cái gì không ổn trong đó.
    Theo em biết, về kinh tế, khai thác năng lượng mặt trời đòi hỏi đầu tư ban đầu rất lớn, chi phí bảo trì cũng rất tốn kém. Khi mà nguyên liệu « fossil » vẫn còn ở giá như hiện nay (dầu hỏa dưới 150$/baril) thì khai thác năng lượng mặt trời không có lời. Thí dụ mà anh đã dẫn ở bên Đức, ở đó người ta bảo trợ giá để khuyến khích nhằm bảo vệ môi trường.
    Về môi trường, năng lượng mặt trời cho bởi tấm photovoltaïque cũng không « sạch » như nhiều người tưởng. Ngoài ô nhiễm cho bởi các bình tụ điện mà anh đã nói, còn có ô nhiễm đem lại do quá trình sản xuất tấm photovoltaïque. Chất thải từ nhà máy cũng độc hại, vì có những nguyên tố nặng, có tính phóng xạ hay nhiều chất thải « lạ », có hại cho sức khỏe con người. Quá trình sản xuất này cũng hao tốn rất nhiều năng lượng, nhất là quá trình tinh luyện silicium.
    Nói chung, làm tổng kết lại, nếu không có những phát minh mới thay thế kỹ thuật hiện tại, thì năng lượng này không rẽ mà cũng không sạch. Do đó việc bàn ra của các viên chức ở Việt Nam là do kinh tế chứ không phải do thiếu lót tay hay thiếu sáng suốt.
    Em muốn góp ý với anh Nguyễn Tâm Bảo cùng bác Huệ Chi, là thấy vậy mà không phải vậy. Khoa học kỹ thuật là ngành chuyên môn, em cũng tay ngang thôi, nhưng nhờ em hỏi nhà em và con em, nên biết được chút ít để hầu chuyện. Theo em, có lợi cho Việt Nam hôm nay phải là năng lượng rẻ nhất, vì VN là nước đang phát triển. Còn việc VN thiếu điện là do chiến lược đầu tư không thực tiễn và phương pháp quản lý còn ê hề quá.
    Em còn muốn nói nữa nhưng sợ phê là nhiều chuyện, nên thôi.

  5. Nguyễn Tâm Bảo nói:

    Ý tưởng phát triển năng lượng mặt trời rồi hòa mạng theo kiểu người dân bán điện lại cho nhà nước mà tác giả cổ vũ thực ra đâu phải là ý tưởng mới mẻ? Nhưng ngay nhiều nước phát triển cũng không mặn mà lắm. Đơn giản vì giá thành vẫn còn quá cao. Năng lượng từ than đá và thủy điện rẻ hơn nhiều.

    Tôi gặp một số trí thức Việt Kiều, thấy nhiều người có chung một vấn đề là hay copy ý tưởng của nước sở tại rồi muốn đem về Việt Nam thực hiện. Họ lý luận: tại sao Đức làm được mà Việt Nam không làm? Tại sao Canada làm thế mà Việt Nam không làm?

    Những câu hỏi như vậy gây khó chịu cho cả người hỏi và người được (bị) hỏi.

    Nó giống việc một người sinh ra trong gia đình trung lưu, một ngày tình cờ đi đến khu ổ chuột và hỏi người dân ở đó: tại sao các vị không xây toilets mà dùng?

    Hoặc một ông quản đốc khuyên công nhân là: các anh nên mua xe hybrid car đời mới nhất mà đi, như vậy sẽ tiết kiệm xăng và giảm ô nhiễm môi trường. Trong khi mức lương của họ chỉ đủ mua xe đạp.

  6. Nguyễn Huệ Chi nói:

    Càng đọc càng thấy tác giả hiểu sâu và nắm rất trúng những vấn nạn hiện nay của Việt Nam, và vì sao không thiếu người có nhiệt tâm nhưng không dễ đã “gỡ” được.

  7. Nguyễn Tâm Bảo nói:

    Tôi đã thiếu kiên nhẫn khi đọc phần I của bài viết, nhưng rồi đã đọc những phần còn lại một cách thích thú.

    Thành thật xin lỗi tác giả Nguyễn Việt về những nhận xét vội vã.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả