talawas blog

Chuyên mục:

Tưởng Năng Tiến – Mẹ và em

06/03/2010 | 11:00 sáng | 3 Comments

Tác giả: Tưởng Năng Tiến

Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: > >

“Tôi e rằng chúng ta đã sợ quá mức cần thiết.“

Lê Thị Công Nhân

Rất nhiều người Việt đều mơ ước, sau một đêm dài, khi mở mắt dậy, thấy mình đang (hân hoan) lơn tơn – đi trong nắng sớm – giữa một thành phố rực rỡ hoa đào. Tôi chưa bao giờ có thứ ước mơ… tào lao như thế. Và ông Bùi Minh Quốc thì (chắc) cũng vậy.

Lý do, giản dị, chỉ vì chúng tôi đã sống ở Đà Lạt rất lâu. Lâu tới phát ớn luôn, và không còn có thể biết (chính xác) là từ năm nào nữa!

Tôi chỉ nhớ rằng ngày đầu tiên lò dò đến thành phố Ðà Lạt, bác sĩ Yersin hết hồn hết vía – mặt mũi xanh lè, cắt không còn giọt máu – khi thấy ông Bùi Minh Quốc và tôi đang ngồi uống ruợu và cãi lộn (um xùm) trên bờ hồ Xuân Hương.

Bữa đó, nhà thơ – rõ ràng, và hoàn toàn – đã xỉn. Ổng lớn tiếng ngâm bài “Mẹ đâu ngờ”:

Sau lưng mẹ là tổ quốc mình trong khổ nạn
Là những đứa con nằm vùng mẹ nuôi giấu ngày đêm
Có những lúc mẹ chưa kịp nhìn rõ mặt biết tên
Chỉ biết nó là cách mạng.
Mẹ đâu ngờ…
Có thằng con thoát chết vụ khui hầm
Trở về ngồi chễm trệ…
Có người mẹ tóc bạc chân trần oằn lưng
Dưới chồng đơn khiếu nại
Nặng hơn dãy Trường Sơn.

Tui cũng xỉn (hết biết) luôn nên cứ nằng nặc đòi sửa thơ của con người ta, cho bằng được thì thôi. Theo tui, đoạn thơ vừa dẫn, có một chữ nghe không… “ổn” và phải “chỉnh” lại như sau:

Sau lưng mẹ là tổ quốc mình trong khổ nạn
Là những đứa con nằm vùng mẹ nuôi giấu ngày đêm
Có những lúc mẹ chưa kịp nhìn rõ mặt biết tên
Chỉ tưởng nó là cách mạng.
Mẹ đâu ngờ…

Ông Bùi Minh Quốc (nhứt định) không chịu, cãi lấy được rằng tui đòi đổi “biết” thành ra “ tưởng” chỉ vì là tui họ… Tưởng – vậy thôi!

“Ý Trời! Đừng có tưởng tầm bậy nha! Mích lòng à. Đ… mẹ, tui đâu có cà chớn dữ như vậy…”

Ðúng lúc này thì Alexander Yersin xuất hiện. Nếu không nhờ chúng tôi lớn tiếng (cãi lộn) chưa chắc thằng chả đã tìm ra Ðà Lạt, vào chiều hôm đó. Lịch sử của thành phố này, nay mai, rồi sẽ phải viết lại cho nó đàng hoàng (và rõ ràng) như vậy.

Làm gì có cái vụ bác sĩ Yersin là người đầu tiên đặt chân đến Đà Lạt, mấy cha. Khi ổng tới nơi thì Bùi Minh Quốc và tui đã ngồi uống (sương sương) ở bờ hồ Xuân Hương cả chục ly mà.

Nhưng đó là chuyện của lịch sử, trong tương lai. Bây giờ, xin được trở lại với bài thơ “Mẹ đâu ngờ” (cho nó xong) cái đã. Sáng tới nơi rồi.

Theo tôi thì thi sĩ Bùi Minh Quốc tự ái (hơi) quá đáng. Ở nước ta những đấng hiền mẫu, như bà “Mẹ đâu ngờ”, có mặt ở khắp ba miền –  và đã có từ lâu – chớ phải riêng chi ở miền Nam, vào thời “chống Mỹ cứu nước”.

Trước đó – hồi đầu thế kỷ XX – cụ thân sinh của nhà văn Võ Văn Trực cũng đã từng ngây thơ như thế, hay (còn) hơn thế nữa kìa. Sự ngộ nhận của bà (về “cách mạng”) rất dễ thương, cảm động và tội nghiệp lắm kìa.

Trong cuốn Chuyện làng ngày ấy[1] – tác phẩm chưa ra khỏi nhà in đã bị thu hồi và cấm phát hành bị cấm lưu hành tại Việt Nam – nhà văn kể lại về cuộc sống của thân mẫu như sau, sau khi đã “phải lòng” cách mạng:

“Mẹ tôi vất vả hơn trước, tất tưởi hơn trước. Hết việc đồng áng lại lo việc nhà. Hết việc nhà lại lo việc hội họp. Chẳng mấy lúc mẹ được ngơi tay. Cán bộ thôn, xã và cả cán bộ cấp trên nữa thường xuyên vào nhà tôi, lúc một vài người, lúc dăm bẩy người.

Có lần vào nghỉ một chốc rồi đi. Có lần vào làm việc rồi ngủ lại đêm. Hầu như ngày nào cũng có khách ăn cơm trong nhà tôi.

Đang làm ngoài đồng, hễ tôi ra báo tin nhà mình có khách là mẹ về ngay. Thỉnh thoảng mẹ tham dự vào cuộc họp với các ông cán bộ. Nhưng công việc chính của mẹ là nấu cơm cho cán bộ ăn, lấy gạo nhà, thức ăn nhà, chẳng ai bận tâm đóng góp tiền nong…

Mẹ tôi trang phục hoàn toàn khác hẳn, không ăn bận bình thường như trước nữa: mặc quần đùi, cắt tóc ngắn, đi dép cao su… Đó là ‘phong trào cắt tóc thực hiện nếp sống mới.’ Mãi về sau, tôi mới biết mấy ông lãnh đạo đọc nhầm hai chữ ‘cấp tốc’ thành ‘cắt tóc’…” (sđd., tr. 23-26).

Mất đi mái tóc vì sự nhầm lẫn của các đồng chí lãnh đạo, tất nhiên, chỉ là chuyện nhỏ. Với thời gian, sự mất mát của mẹ mỗi lúc một lớn lao và khủng khiếp hơn nhiều.

Sau mái tóc, đến tài sản.

“Theo lời ông Chi Hội trưởng Nông hội địa phương thì bà con phát giác ra rằng gia đình của mẹ thuộc diện phải đóng thuế khả năng: Ba tạ thóc!

Mẹ tôi đứng dậy, giọng nói run run: ’Xin bà con dân làng xét cho thấu đáo. Cả nhà tôi chỉ còn hơn mười cân thóc với vài chục cân khoai khô…’

Chú Văn mắt toét cắt ngang: ‘Ba tạ! Ba tạ! Vấn đề là bà phải gương mẫu’. Giọng nói của mẹ tôi như nhúng trong nuớc mắt: ‘Từ khi cách mạng giành được chính quyền đến nay, tôi chấp hành nghiêm chỉnh mọi chính sách của nhà nước, của Nông hội. Nhưng bây giờ thì quả là tôi không còn một chút khả năng để nộp thuế nữa. Không tin, mời Nông hội vào nhà tôi khám ngay bây giờ…’ Vừa nói xong, mẹ tôi ngồi thụp xuống, ôm mặt khóc.

Chú Văn mắt toét cười gằn: ‘Không còn thóc thì bà gỡ sân gạch bán mà nộp thuế. Vấn đề là khối người còn đói hơn bà. Vấn đề là bà còn giầu gấp vạn nhà tôi… Bà không đóng thì thế này này’ – chú nắm chặt hai nắm tay, nắm này đấm vào nắm kia – ‘cứ chầy vồ mà nện từ trên sọ nện xuống cho đến khi mồm ợ ra thóc mới thôi.’” (sđd., tr. 102-103).

Sự mất mát kế tiếp là mạng sống của những người thân.

“Cuộc đấu tranh ác nghiệt này đã bén lửa vào mái nhà yên ấm của tôi. Cậu Quế là em thứ ba của mẹ… Mấy năm vừa rồi, người ta phá sạch đền chùa, cậu Quế lại lập bàn thờ Phật trong nhà. Người ta nghi là cậu chống lại chính quyền nên mới lập bàn thờ Phật.

Bị dân quân bắt ra đình cho dân làng Quảng Trạch đấu. Tra khảo cậu, cậu không khai – vì có biết gì đâu mà khai. Càng không khai cậu càng nếm đủ món đòn tra tấn: treo ngược lên xà nhà, trói vào gốc cây, hắt nước bẩn vào mặt.

Nhục nhất là cậu bị mấy mụ đàn bà tốc váy trùm lên đầu. Hàng tháng trời cậu bị giam, không được về nhà. Đêm hôm ấy cậu xin phép người dân quân gác cho đi ỉa. Người dân quân ngủ quên, sáng dậy không thấy cậu đâu cả, chợt mở chuồng xí thì thân hình cậu đã cứng đơ treo lủng lẳng bởi sợi dây thừng…” (sđd., tr. 140-142).

Cho mãi đến lúc cuối đời, ở tuổi tám mươi ba, mẹ mới gửi lại những lời trăn trối rằng “mẹ không ngờ” như vậy:

“Mẹ không đủ sức để lắc đầu nữa. Mẹ vẫn im lặng nhìn tôi, vừa đượm chút xót xa, vừa đượm chút ân hận. Nước mắt mẹ ứa ra và lăn xuống da nhăn nheo như quả thị héo…

Mẹ ra hiệu cho tôi cúi sát đầu xuống để mẹ nói một điều bí mật: ‘Hằng năm ngày giỗ mẹ, con cúng đúng ngày mẹ mất, đừng cúng theo ngày qui định của hợp tác xã. Con chớ làm mâm cỗ, chi bộ biết sẽ phê bình, con chỉ cần múc chén nước trắng và thắp hương cho mẹ đúng ngày mẹ mất…’ Lúc sống thì mẹ tuân theo nghị quyết của chi bộ, lúc nằm xuống mồ mẹ mới dám chống lại nghị quyết” (sđd., tr. 154).

Chuyện những bà mẹ mà cuộc đời “cách mạng” bầm dập và te tua (cỡ đó) được giấu kín như bưng, ở miền Bắc. Bởi vậy, khi vào Nam, Bùi Minh Quốc vẫn được bảo bọc bởi những bà “Mẹ Việt Nam anh hùng” khác:

… những đứa con nằm vùng mẹ nuôi giấu ngày đêm
Có những lúc mẹ chưa kịp nhìn rõ mặt biết tên
Chỉ (“tưởng”) nó là cách mạng.
Mẹ đâu ng
ờ…

Khi mẹ “biết” ngờ thì (ôi thôi) đã muộn! Cả hai miền Bắc/Nam đều đã bị nhuộm đỏ như nhau. Từ đây, cả nuớc lại phải bắt đầu một cuộc kháng chiến mới. Lôi thôi và phiền phức hơn nhiều.

Tem thư hình Lê Thị Công Nhân. Nguồn: http://depweekly.com

Và mẹ thì đã qua đời, hoặc đã quá già để còn có thể dự phần. Không một giây do dự, không một chút ngại ngần, em thản nhiên vào cuộc: “… tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi để đấu tranh, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình, và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất kỳ một điều gì là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi.”

Lê Thị Công Nhân đã khẳng khái tuyên bố như trên, vào ngày 26 tháng 2 năm 2007. Em đã bị bắt, và bị kết án tù vào ngày 11 tháng năm 2007. Điều này cũng đã được chính em dự liệu: “Tôi không nói mình là một tấm gương, nhưng tôi nghĩ rằng nếu như tôi có thể tạm thời nhận một nhiệm sở mới hết sức bất đắc dĩ đó là nhà tù thì tôi mong rằng tại nhiệm sở bên ngoài tức là xã hội sẽ có nhiều những người con Việt Nam tiếp tục những công việc mà tôi còn đang làm.”

Hạn tù của em đã chấm dứt hôm nay, 6 tháng 3 năm 2010. Em trở lại “nhiệm sở cũ” để tiếp tục công việc chưa hoàn tất: “Vâng, mỗi người một bàn tay, mà bàn tay của tôi còn nhỏ hơn bàn tay của quý vị. Chúng ta hãy góp phần một cách mạnh mẽ kịp thời, hầu mong cho công cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ đi đến thắng lợi một cách sớm hơn là những gì mà CSVN hiện nay đang tuyên truyền với một nền dân chủ bố thí, một nhân quyền theo định nghĩa riêng của CSVN, và một nền dân chủ trong vòng tay của quỷ Satan.”

“Vâng, mỗi người một bàn tay” và chúng ta phải làm ngay với hết sức của mình – nếu không e sẽ muộn!

© 2010 Tưởng Năng Tiến

© 2010 talawas


[1] Chuyện làng ngày ấy do NXB Lao Động ấn hành tháng 6 năm 1993. Nhà văn Xuân Cang chịu trách nhiệm xuất bản. Nhà văn Ma Văn Kháng chịu trách nhiệm bản thảo. Tác phẩm này được in lại (năm 2006) bởi Tạp chí Văn Học ở California, sách có thể đặt mua qua địa chỉ email: tapchivanhoc@yahoo.com.

Bình luận

3 Comments (bài “Tưởng Năng Tiến – Mẹ và em”)

  1. Hoa Bất Tử viết:

    Tôi cảm thấy thật xấu hổ khi phải ghi những dòng tâm sự này. Nhưng có lẽ, tôi cho rằng tôi là một đại diện của thế hệ trẻ người Việt Nam sinh sau năm 1975 và lớn lên trong những thập kỷ 80 90 của thế kỷ trước của Việt Nam. Và, đây là giao thời giữa những thời đại.

    Vào thời điểm giao mùa, những cơn mưa dài dai dẳng liên tục khiến con người quên mất lằn ranh giới giữa mùa nóng và mùa lạnh. Nó gột sạch, rửa sạch những dấu vết cũ của thời gian đã qua. Và khi những cơn mưa chấm dứt, ta được đón nhận một mùa mới, cảnh vật mới. Khái niệm về quá khứ đã qua, với vạn vật và thời gian, nó lặp lại theo những chu kỳ, khiến ta quên rồi nhớ, nhớ rồi lại quên. Và những di tích và hệ lụy của quá khứ đôi khi không khiến ta bận lòng.

    Nhưng lịch sử của một dân tộc không giống như chu kỳ thời gian của năm này qua năm khác. Thời đại 8x 9x của tôi khác xa hoàn toàn với thời 7x. Thời 8x, những di tích về những vụ đốt sách, đốt phá kho xăng, phá nhà băng, phá tài sản của tư sản Miền Nam Sài Gòn không còn nữa. Chúng đã được những bàn tay thần kỳ của những tín đồ Karl Marx – Lenin che đậy. Tôi mới biết, mới nhận thức, mới kiểm nghiệm được khi tôi đã không còn sống trong xã hội thiên đường không giai cấp đó, nơi mà ngày càng mọc nhiều lên những đại tư sản mới.

    Những cơn mưa của sự định hướng theo khuôn mẫu XHCN hàng ngày được thấm sâu vào những nguồn đất tri thức, nơi những thế hệ trẻ từ đó lớn lên về sinh trưởng. Nguồn đất XHCN được bơm dinh dưỡng từ sự phá hoại thành quả của nhà nước cũ. Những mầm non tri thức được bơm lòng thù hận với chế độ cũ, được bơm vào trí óc non nớt sự ghét bỏ với những thế hệ già cả đã vượt biên bỏ quê hương đi tha phương cầu thực xứ xa. Nhưng thế hệ trẻ lại được uốn nắn để biết yêu đồng tiền $ hay € của xã hội giàu có, được khuyên dạy “quê hương là chùm khế ngọt, cho em trèo hái mỗi ngày”, được tôn vinh là “những khúc ruột ngàn dặm” nếu có rời xa quê thì lòng cũng cần luôn luôn nhớ tới quê cha đất mẹ để mà về. (Nhưng tôi đảm bảo rằng, khi có tiền thì làm được “khúc ruột ngàn dặm”, còn không có tiền thì làm khúc ruột thừa thôi).

    Chị Nhân nhấn mạnh rằng:”tôi yêu nước”. Nhưng có lẽ chị (cố tình) quên rằng học sinh trong nước Việt Nam – danh phận mà bản thân tôi đã từng có – được dạy dỗ rằng: Yêu nước là yêu Đảng, trung thành với Đảng với đất nước là nhiệm vụ của mỗi chúng ta! Chị yêu nước, nghĩa là chị phải yêu Đảng, phải trung thành với Đảng. Ở đây, vai trò của Đảng là chỉ huy, chị là cấp dưới, phải nghe theo mọi sự định hướng của cấp trên. Ở đây, vai trò của Đảng còn lớn hơn cả cha mẹ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nữa. Chị không nghe sự sai bảo của cấp trên tức là chị không yêu nước rồi, trái với câu phát ngôn của chị. Đấy, cứ theo lập luận của học sinh thế hệ Hồ Chí Minh như tôi (đã từng) thì chị phạm tội đầu tiên là đã nói dối. Ngôn ngữ của thế hệ HCM như tôi (đã từng) là như thế đó.

  2. nguoiyeunuoc viết:

    Anh cám ơn em đã cho anh biết làm người có trách nhiệm với bản thân mình và với dân với nước. Anh luôn hổ thẹn vì là nam nhi mà chẳng thể đặt mình ngang hàng cùng em. Anh hèn vì quá sợ chế độ cộng sản hung tàn này. Cha anh đã bị cộng sản đọa đày nhưng cha em thì không. So với tình nhà thì anh cũng đã không làm tròn trách nhiệm, đừng nói chi đến nợ nước hở em! Anh luôn bảo với bạn bè rằng ngày nào anh chưa bị cộng sản bỏ tù như em thì anh vẫn thấy mình quá nhỏ bé trước em. Xem clip em trả lời thẩm vấn với công an mà anh tự thấy mình không còn là con người nữa. Anh phải làm một điều gì đó để khỏi cúi mặt trước anh linh của dân tộc và những người bất khuất như em. Chúc em luôn vui mạnh và vững bước đấu tranh.

  3. Phùng Tường Vân viết:

    Chuyện làng…ngày nay !
    Tôi xin được “nối điêu” cái điệu buồn của ông TNT bằng một đoạn “ký” sau đây, đọc được trong một truyện ký của ông Nam Dao.
    “…Nghe tôi đáp tôi từ Canada về, cụ già bật cười, miệng thốt “thì ra khúc ruột ngàn dặm đấy, may nhỉ…”. Cụ bưng rổ đến, ngồi xổm, miệng thì thào :”Thế thì ông phải coi hàng xịn mua làm kỷ niệm…Gặp khách tôi mới dám cho xem !”
    Tay giở cái mẹt đậy thúng, cụ chìa vào mặt tôi. Trong thúng toàn những huân chương. Cụ lục thúng tìm rồi giơ lên một cái, cao giọng “Cái này huân chương Chiến Thắng Điện Biên, cổ nhất, hơn sáu mươi năm rồi. Đây là Huân Chương Quân Đội Nhân Dân trao cho anh bạn nối khố của tôi, người cùng làng, lại cùng đon vị đi đánh đồi Béatrice. Tôi để ông giá rẻ, ông giữ cho bạn bè quốc tế xem nha…”
    Không đáp thẳng lời ông cụ, tôi kinh ngạc hỏi :
    “Cụ lấy đâu ra mà nhiều huân chương đến thế này?”
    “Ấy, chết hay chưa chết thì con cháu cũng mang bán để lấy cái đút vào mồm, ông ạ !Nhà quê chúng tôi còn cái gì ngoài đống huân chương và bằng liệt sĩ, gặp khách tìm vật cổ thì bán cũng có đồng tiền, tôi mang lên nơi có du khách, tuy cũng khó nhưng cũng bán được, lấy tiền mang về cho họ lấy cái mà ăn…, mỗi lần bán được tôi đều có khấn vái vong hồn bạn bè, đồng ngũ…”

    “Bầm dập, te tua…” và đau lòng quá !

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>