talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Nụ cười đời tỵ nạn (6)

20/03/2010 | 10:30 sáng | 8 Comments

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Category: Đời sống, xã hội
Thẻ:

Xem kỳ 1, 2, 3, 4, và 5

Việt kiều gửi hàng (đồ), gửi tiền cho thân nhân trong nước từ bao giờ? Đây là câu hỏi khó trả lời chính xác. Chưa có tài liệu, công trình nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này. Người Việt Nam đi du học và định cư ở nước ngoài từ những năm đầu thế kỷ XX khi phong trào Đông Du của cụ Phan Chu Trinh phát động; bên cạnh đó, một số gia đình giàu có, cho con sang Pháp du học. Những du học sinh ấy, không gửi tiền hay gửi hàng về cứu trợ cho thân nhân trong nước mà chính thân nhân hay hội đoàn phải cung cấp tiền bạc cho họ. Có lẽ phải sau hiệp định đình chiến Genève 7-1954, một số gia đình sang Pháp định cư, mới bắt đầu có quà (hàng/đồ) gửi về Việt Nam cho thân nhân.

Sau khi người lính viễn chinh Pháp cuối cùng rút khỏi cảng Hải Phòng, tháng 10-1955 (?), chính phủ VNDCCH chính thức kiểm soát và cai trị nửa nước Việt Nam, từ Mục Nam Quan cho tới cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải, Vĩnh Linh.

Theo hiệp định đình chiến, hai miền Nam Bắc tạm thời chia cắt, đến năm 1956 sẽ có cuộc tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Trong lúc giao thời, người dân hai miền được trao đổi thư tín trong giới hạn, người ta gọi là “Bưu-Thiếp”. Bức thiệp đó là một mẫu thư in sẵn, lấy ở nhà bưu điện, người viết chỉ điền ô để trống, nội dung thông báo về sức khỏe, gia cảnh, tránh mọi thông tin chính trị, có tên người gửi và người nhận, chỉ cần dán tem, bưu chính sẽ chuyển đi. Có nghĩa là, ai cũng có thể đọc nội dung lá thư, viết thêm ngoài câu hỏi in sẵn, coi như không hợp lệ, hủy bỏ. Không biết lá thư này có trong điều khoản của bản hiệp định đình chiến hay không, nhưng thư chỉ thực hiện được gần 2 năm thì chấm dứt. Cả hai chính phủ, VNCH và VNDCCH, đều đổ lỗi cho nhau, chỉ biết từ năm 1958 người dân cả hai miền mất liên lạc cho đến 1975.

Năm 1952, bộ film nhựa tựa đề Bến Cũ, do cô đào xi-nê Thanh Hương và Lan Hương thủ vai ra mắt tại Hà Nội. Diễn viên Thanh Hương chính là con gái bà C., em ruột bà nội tôi, tôi gọi là cô Thành. Nếu tôi nhớ không nhầm, Bến Cũ là film đầu tiên của nền điện ảnh non trẻ Việt Nam. Nội dung film tôi không nhớ, nhưng cảnh cô tôi mặc váy đầm, lái xe hơi chạy ven bờ hồ Hoàn Kiếm, trên cầu Long Biên, Hà Nội… là một trong những cảnh rất ấn tượng thời bấy giờ, gây nhiều tranh cãi trên diễn đàn thanh niên, trên báo chí Hà Nội. Phái ủng hộ lối sống mới, khen bộ film đã vượt qua lễ giáo phong kiến, cổ hủ, đề cao vai trò bình đẳng cho người phụ nữ trong xã hội. Phái bảo thủ, bảo vệ nếp sống cũ, chê hết lời, coi những cô gái tân thời đó là đồ bỏ, đạo đức suy đồi, đáng bỏ rọ trôi sông, không nên khuyến khích. Cuộc tranh cãi chưa kết thúc, film thứ hai vẫn chủ đề về lối sống mới, chuẩn bị bấm máy thì cứ điểm Điện Biên thất thủ, hiệp định Genève chuẩn bị ký kết, thế là dẹp. Đình chiến, Việt Nam tạm thời chia cắt 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Gia đình bà C, cô Th., gia đình bác B. di cư vào Nam. Bà nội tôi không muốn di cư, các cô các chú nghe theo, ở lại miền Bắc.

Bà C., từ người buôn bán lâm-thổ-sản ở Hà Nội, làm ăn phát đạt, bà tậu đồn điền ở Lai Châu. Dinh cơ của bà rất lớn, giàu có. Khi Việt Minh mở chiến dịch Hòa Bình 1952, chiến dịch Tây Bắc 1953, đồn điền của bà lần lượt rơi vào tay Việt Minh. Năm 1954, Pháp xây dựng cứ điểm Điện Biên cũng là lúc cơ ngơi của bà phá sản.

Ông B. mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ở với dì (bà C.), học nội trú ở Hà Nội, nghỉ hè thường lên đồn điền Lai Châu, ông thích cưỡi ngựa, săn bắn. Năm ông 20 tuổi, bà C. ép ông lấy vợ, người con gái ông không ưng, ông bỏ trốn, đăng ký đi lính. Đẹp trai, tháo vát, bắn súng cưỡi ngựa giỏi, ông được chọn làm lính cận vệ cho một sĩ quan cấp tá người Pháp, không ngờ, ông lọt vào mắt xanh cô gái lai Pháp-Việt của vị thượng cấp. Sau khi hai người kết hôn, con đường quan lộ của ông cứ thế lên như diều. Ông được nhập tịch làng Tây, học trường võ bị. Trước khi ông di cư vào Nam, chức vụ trung tá, trưởng phòng X. ở Hà Nội. Từ năm 1958, gia đình ông định cư tại Marseille, về hưu 198? với chức vụ Trung Tướng, qua đời năm 1994.

Năm 1988, sau hơn 8 năm định cư ở Anh, gia đình tôi sang Marseille viếng thăm cô Thành, (bà C. tạ thế năm 1984), cô đã gần 60, ấy thế vẫn giữ được vẻ đẹp của nữ tài tử điện ảnh Việt Nam. Hai bác B. già yếu, cháu chắt chút chit đầy đàn. Sau hơn 34 năm chúng tôi mới lại gặp được nhau.

Năm 1954, bà C. và gia đình ông bà B.,-người đã nuôi chị Ch. làm con nuôi-, (Ai đã làm giàu trong cuộc chiến tranh Trung-Việt) di cư vào Nam. Những năm đầu, hai gia đình sống ở Đà Nẵng (Tourane); bẵng một thời gian dài, 1960, cô Ng. tôi nhận được thư của bà C. từ Marseille. Hóa ra, khi Mỹ hất cẳng Pháp, đưa Ngô Đình Diệm về làm thủ tướng, gạt bỏ Quốc trưởng Bảo Đại, bà C và cô Thanh Hương, gia đình ông B. theo Bảo Đại sang Pháp định cư.

Không biết vì lý do gì, bác tôi gửi thư bảo đảm (register letter) cho cô Ng. Theo quy định thời bấy giờ, muốn nhận thư bảo đảm phải mang sổ hộ tịch đến đồn công an khu phố đóng dấu chứng nhận, (ngày ấy chưa có chứng minh thư), vì thế họ biết cô tôi có thân nhân định cư ở Pháp. Từ khi nhận được thư, gia đình cô chú tôi được công an khu phố “chăm sóc kỹ lưỡng”. Tổ trưởng và dân phòng khu phố thường xuyên sang nhà dò la, muốn biết người bên Pháp là ai, quan hệ ra sao, trước đây làm gì. Chuyện có người định cư ở Pháp gây khốn đốn cho cô chú tôi, nhất là ông chú rể có “thành tích bất hảo, xỏ nhầm giày, theo Tây đánh Việt Minh”. Riêng gia đình tôi, trước kia sống ở thị xã Sơn Tây, 1955 chuyển về Hải Phòng, bà C. và ông bác không biết địa chỉ, không gửi thư, nên không có trong sổ đen. Cô chú tôi hồi âm, yêu cầu đừng liên hệ tới gia đình tôi, nhờ thế, lý lịch tôi sạch sẽ, không liên quan “yếu tố nước ngoài”.

Từ một ông chủ hiệu giày có 5 người thợ và một hiệu ảnh có 3 người giúp việc, chính phủ cộng sản về, gia đình ông bị liệt vào danh sách tư sản bóc lột. Từ năm 1958, thành phố Hải Phòng rầm rộ phong trào cải tạo tư bản tư doanh, quốc hữu hóa, “Trí Phú Địa Hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, cả hai cửa hàng phải đóng cửa, đồ đạc cứ đội nón ra đi. Nhà ông bà ngay mặt phố, đành mở quán bán thạch găng, nước mía, kiếm sống qua ngày. Cuộc đời ông bà nếu cứ như thế còn là may, nhưng không, chỉ sau một năm cửa hàng giải khát phải đóng cửa. Lâm vào cảnh cùng cực, ông bà đành bán nhà mặt phố, mua nhà trong ngõ. Số tiền còn lại, ông mua chiếc xích-lô làm cu ly xe, nuôi đàn con.

Gia đình cô chú tôi rơi xuống vực của sự khốn cùng, chỉ sau 5 năm sống dưới chế độ:

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Quần áo bán trước, cửa nhà bán sau.
Ăn cơm nên ăn những rau
Đừng ăn cá, thịt mà đau dạ dày.

(ca dao)

Ấy thế, mỗi khi trả lời thư cho bà dì và cho bác tôi, cô chú tôi không dám kể cuộc sống khốn cùng, sợ thư bị kiểm duyệt. Chỉ cần kể cuộc sống khốn khổ không thôi, cũng bị kết tội bêu riếu, nói xấu chế độ. Chú tôi đã dính sổ đen “ngụy quân” nay thêm “liên quan đến yếu tố nước ngoài”, hai tội ấy quá đủ ảnh hưởng cho tương lai 7 đứa con, ông bà không muốn thêm tội nói xấu chế độ, cho nên thư viết sang Marseille bao giờ cũng “khỏe, vẫn bình thường”. Vì thế, gia đình chúng tôi chưa bao giờ có “viện trợ không hoàn lại” từ Pháp, trừ một lần cô chú tôi nhận được 2 ki-lô len năm 1963, phải bán 1 kí lấy tiền nộp thuế. Tiền thuế ngang tiền mua, coi như mất trắng. Cô chú tôi viết thư sang Pháp, bảo, đừng gửi hàng nữa.

Suốt từ năm 1955 đến 1975, chính phủ VNDCCH không khuyến khích người dân trong nước nhận hàng nước ngoài, hàng hóa gửi về đánh thuế 100%, có mặt hàng phải chịu thuế 200%, chính sách bế quan tỏa cảng làm người dân miền Bắc nghèo khổ, càng căm ghét chế độ. Nhà nước thiếu hàng hóa vì không có ngoại tệ, kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ của 12 nước XHCN.

Từ năm 1952, chính phủ Việt Minh đã ngấm ngầm cử người sang Nga du học, nhưng phải đến năm 1960 trở đi, số lượng du học sinh sang Nga, Đức, Tiệp, Ba Lan… mới công khai, tăng hàng năm. Những khóa đầu, họ học tập rất nghiêm túc, nhưng từ năm 1965 các du học sinh bắt đầu buôn lậu gửi hàng về Việt Nam cho thân nhân. Năm 1972, ông Phạm văn Đồng, thủ tướng thời bấy giờ, trong một cuộc gặp mặt với du học sinh hồi hương, đã phải lên tiếng: “Chào các nhà buôn, những du học sinh có tiền và có đồ đã trở về nước!”

Ông Viện trưởng bệnh viện tôi, năm 1972 sang Đông Đức tu nghiệp 22 tháng, ông bảo, nhà nước cấp sinh hoạt phí rất ít, phải tiết kiệm tối đa, về nước ông mua được một số đồ second hand như máy thu thanh điện tử, xe gắn máy (Simpson), 2 chiếc xe đạp Mifa, quần áo cho vợ con. Có lần vui, tâm sự, ông bảo, 22 tháng rất thèm cơm, nhưng không dám ra nhà hàng, một bữa cơm Việt ngang 1/2 tháng lương. Ông cười, ngày ngày ông ăn món chân lợn (pig’s trotters) hầm với khoai tây, món ăn rẻ tiền nhất ở Đông Đức, có thế mới dành được chút đỉnh, mua đồ đem về. Ấy thế sau 22 tháng ở Đức, ông tăng hơn 8 kí, khuôn mặt tròn, hồng hào dáng Việt kiều lắm! Sau một năm về Việt Nam, má ông tóp lại, xương sườn ông lại trơ ra như chúng tôi.

Sau cuộc chiến tranh biên giới (17-2-1979), người Việt gốc Hoa miền Bắc đổ ra biển tìm đường chạy sang Hong Kong. Phía Nam, các cựu binh lính, sĩ quan VNCH cũng tìm mọi cách vượt biên bằng ghe thuyền chạy sang Thái Lan, Mã-lai, Singapore, Indonesia… Chuyện người Việt Nam vượt biên bằng thuyền trở thành tâm điểm thời sự nóng bỏng của thế giới suốt từ năm 1975 đến 1990. Từ năm 1979, đài BBC Việt ngữ bắt đầu dùng danh từ Thuyền Nhân (Boat People) để chỉ người Việt Nam vượt biển đi tìm tự do. Từ điển Oxford tái bản có danh từ Boat People chính thức ghi trong từ điển Anh sau năm 1982 (?), danh từ “Boat People” ghi dấu ấn của một thời kỳ lịch sử đen tối, đầy tội ác và sai lầm của chính quyền cộng sản Việt Nam sau khi chiếm Sài Gòn và toàn cõi miền Nam.

Không biết những người tỵ nạn cộng sản miền Nam sau ngày 30-4-1975 sang Mỹ định cư, bắt đầu gửi tiền, gửi hàng về Việt Nam từ bao giờ, nhưng người Việt gốc Hoa miền Bắc ở các trại tỵ nạn Hong Kong từ cuối năm 1979 đã gửi hàng về, nhất là dịp tết Nguyên đán 1980. Chuyện gửi hàng, gửi tiền như một món nợ truyền kiếp kéo dài cho đến hôm nay vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt.

Tại sao chúng ta phải gửi tiền sau 35 năm đời sống người dân Việt Nam đã được cải thiện? Chúng ta nên để thân nhân trong nước tự đứng trên đôi chân của họ mà đi chứ! Họ không phải là mề-đay (medal) mà chúng ta phải đeo trên cổ! Họ cũng chẳng phải là chiếc ba-lô (rucksack/back pack) mà ta phải đeo sau lưng! Gửi tiền về Việt Nam, chúng ta đã “truyền máu, hà hơi thổi ngạt, tiếp sức” cho chế độ độc tài, cái chế độ đã và đang gây biết bao tai họa cho bản thân mỗi gia đình Boat People chúng ta. Chính vì chúng, mà chúng ta phải rời bỏ mảnh đất thân yêu của mình, lênh đênh trên biển cả, đánh bạc mạng mình với Thái Dương Thần Nữ. Phải chăng vì bệnh sĩ, sự ngây thơ về chính trị, rơi vào bẫy thủ đoạn gian manh của hệ thống tuyên truyền cộng sản, thông qua nghị quyết 36, ban dân vận, UBVNVN ở nước ngoài đã biến chúng ta thành con nợ truyền kiếp cho thân nhân, cho chế độ cộng sản?

Hãy làm phép tính đơn giản cộng trừ nhân chia, 35 năm qua người Việt hải ngoại đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam, thông qua thân nhân, du lịch… là bao nhiêu tỷ Mỹ kim? Ít nhất cũng xấp xỉ 100 tỷ!

Theo tin tức từ Việt Nam, từ năm 1997, số kiều hối chuyển về Việt Nam sấp sỉ 1 tỷ Mỹ kim, theo đường chính ngạch, hàng năm con số này tăng lên đều đều, con số được nhà nước Việt Nam ca tụng nhiều nhất là năm 2008, kiều hối đã đạt mức trên 8 tỷ Mỹ kim!

Như vậy trong hơn 10 năm, năm nhiều bù năm ít, tính trung bình 5 tỷ như vậy chỉ trong 10 năm chính phủ CHXHCNVN đã được “bọn lưu vong phản động” viện trợ không hoàn lại 50 tỷ Mỹ kim. Nhà nước CHXHCNVN không cần xuất khẩu cũng đã lãi ròng 50 tỷ Mỹ kim! Sung sướng chưa!

Chưa hết, ngoài con đường chính ngạch, còn dịch vụ tiểu ngạch (gửi chui) rất phát triển. Riêng London này, ai muốn gửi tiền về Việt Nam, xin đến tất cả cửa hàng của người Việt bán đồ khô, băng đĩa CD, DVD… tại các quận hoặc tới trung tâm buôn bán của người Việt ở Mare Street, Hackney, nơi mỗi lần quan chức lớn nhỏ từ Việt Nam viếng thăm Vương quốc Anh, đều đến gặp gỡ “khúc ruột (thừa)” ngàn ki-lô-mét, nơi chính phủ Việt Nam rất quan tâm, muốn “túm tóc, sờ gáy” Việt kiều định cư tại London.

Ai muốn gửi, chỉ cần nộp tiền, ghi họ tên số điện thoại người nhận ở Việt Nam, trả lệ phí (nay 6%), chỉ sau 24 giờ sẽ nhận được tiền. Dịch vụ này hơn hẳn con đường chính ngạch (Bank, Post office hay West Union), thu hút nhiều người Việt tại London, lí do sau:

– Lệ phí mềm hơn (Bank, Post Office, West Union lệ phí trên  dưới 10%);

– Gửi bảng Anh, Euro… người thân ở Việt Nam được nhận bảng Anh hay Euro không phải chuyển sang đô-la Mỹ. Hơn hẳn gửi qua Bank, Post Office hay West Union người nhận phải chuyển đổi sang Mỹ kim, thường bị nhân viên ngân hàng nhà nước Việt Nam gian lận, bắt chẹt, thất thoát.

– Gửi số tiền lớn (tiền bẩn) không bị sở thuế, chính phủ sở tại dòm ngó.

– Người Việt Rơm rất yêu chuộng dịch vụ này.

Con đường của dịch vụ này đi như thế nào? Xin kể vài ngả “dịch vụ tiểu ngạch”:

Quan chức cộng sản ở Việt Nam từ cấp trưởng phó phòng ty sở… đã giàu ú ụ, huống chi cấp thứ bộ trưởng, thủ tướng… Trước năm 1995, nhà nước chưa khuyến khích du học tự túc, tiền của bọn quan chức này phải đo bằng thước, đếm sao xuể. Tiền ấy là tiền tham nhũng, đục khoét, cướp đất, bán các dự án, đầu cơ, bóp cổ dân đen mà có. Không thể công khai chuyển tiền bẩn qua ngân hàng, chúng tìm cách liên hệ với những Việt kiều yêu nước (lèo) ở nước sở tại muốn về làm ăn ở Việt Nam, hợp tác kinh doanh để rửa tiền.

Từ năm 2000, phong trào du học phát triển, gia đình có con du học ở Anh, Pháp, Mỹ, Úc… họ không gửi tiền qua ngân hàng mà giao tiền qua thân nhân của các dịch vụ tiểu ngạch (chui) tại Việt Nam, con cái họ ở Anh, Mỹ, Pháp… đến các cửa hàng người Việt nhận tiền. Dịch vụ này thu lệ phí hai chiều, giàu rất nhanh. Trước kia, muốn chuyển tiền về Việt Nam hay ngược lại, họ qua đường hàng không, có nghĩa, Việt kiều về Việt Nam được thuê, trực tiếp đem về. Cách vận chuyển này thật nguy hiểm, với số lượng lớn, hàng trăm ngàn, hệ thống hải quan phi trường phát hiện được, coi như tiêu! Chuyện này đã từng xảy ra ở London năm 2004, một người phụ nữ đem gần 200 ngàn bảng Anh bị phát hiện tại phi trường Heathrow, đã không chứng minh được lý do chuyển tiền và nguồn gốc, đã bị tịch thu. Vụ tịch thu tiền tại sân bay, chấn động giới chuyển tiền chui, buộc họ phải kiếm con đường khác, con đường “tại chỗ”, có nghĩa, chuyển tiền mà tiền vẫn không vượt biên! Từ năm 2005, cách chuyển tiền trực tiếp đem về Việt Nam ít sử dụng, khi ở Anh quốc có tới trên dưới 5 ngàn du học sinh. Du học sinh này là người rửa tiền cho thân nhân họ.

Người ta kháo nhau, nhiều du học sinh Việt Nam học ở London, đã tiêu trên 5 ngàn bảng/tháng vào ăn nhậu, hút trích, hộp đêm, gái điếm! Tiền ở đâu ra mà chúng tiêu xài dữ vậy? Đó chính là đồng tiền cha mẹ chúng bóp hầu, bóp cổ dân đen mà có. Việt kiều chúng ta đã gián tiếp tiếp tay cho chúng khi gửi ngoại tệ về Việt Nam, tạo điều kiện cho cha mẹ chúng có ngoại tệ trong tay.

Số tiền gửi chui này rất lớn, nhất là khi người Việt Rơm ồ ạt nhập cư vào Anh, Pháp, Đức… làm nghề trồng cần sa, buôn lậu ma túy, mãi dâm… Tiền gửi theo đường tiểu ngạch lớn hơn số tiền gửi theo chính ngạch rất nhiều, không một cơ quan nào có thể kiểm soát, biết chính xác số tiền gửi. Từ năm 1980, chính phủ Việt Nam xuất khẩu người sang lao động ở Nga, Tiệp, Ba Lan, Đông Đức, Hungary… và một số du học sinh, một số trốn ở lại. Sau một thời gian hơn 20 năm buôn bán (lậu), nay đã trở lên giàu có, biến thành ông chủ, mang tiền về Việt Nam làm ăn, được phong danh Doanh Nghiệp Thành Đạt.

Như vậy trong 35 qua, tiền gửi theo chính ngạch, ít cũng 50 tỷ Mỹ kim, còn tiểu ngạch không thể biết chính xác; let’s say: 30 tỷ Mỹ kim.

Theo báo Việt Nam đưa tin, hàng năm có tới 500 ngàn Việt kiều du lịch. Nếu tính bình quân 2 ngàn Mỹ kim/người chi tiêu trong thời gian từ 1 đến 3 tháng, một năm Việt Nam đã thu được 1 tỷ Mỹ kim.

Việt kiều về nước từ 1988, thời kỳ này con số rất hạn chế. Từ năm 1995 sau khi cựu tổng thống Bill Clinton bãi bỏ cấm vận (1994), người về Việt Nam nhiều và thường xuyên. Theo báo Việt Nam đưa tin, năm 2009 có tới 500 ngàn Việt kiều về ăn tết (?). Nếu tính bình quân trong từ năm 1995 đến nay 2010, hàng năm khoảng 100 ngàn người về Việt Nam, trong thời gian từ 1 đến 3 tháng, bình quân chi tiêu 2000 Mỹ kim/người nhà nước Việt Nam thu được 3 tỷ Mỹ kim du lịch trong 15 năm! Chính vì thế chính phủ Việt Nam coi ngành du lịch là ngành Công Nghiệp không khói.

Việt kiều về thăm thân nhân, quà cáp, biếu xén nếu tính trung bình 500 Mỹ kim/người, trong 15 năm qua, Việt Nam thu được 1,5 tỷ Mỹ kim.

Tổng cộng số tiền sau khi Boat-people-Salmon thả ra biển Đông, nói như cách viết của Tưởng Năng Tiến, sau 35 năm họ đã thu được Còi-hụ-Salmon trên dưới 100 tỷ Mỹ kim viện trợ không hoàn lại. Chủ  nhân của đoàn đánh cá “Lưới Vét 36” trúng lớn, họ “định hướng” sẽ rê-quét lưới từ biển Thái Bình Dương, qua Đại Tây Dương, Ấn Độ dương, kéo xuống tận ven bờ Úc Châu, còn dài hơn đường Lưỡi Bò của Đại-Hán-Trung-Hoa-Bành-Trướng ở biển Đông, hy vọng bội thu mùa còi-hụ-Salmon 2010 và những năm kế tiếp.

Việt kiều về nước, đem tiền bạc cho thân nhân và bạn bè cũng có nhiều chuyện vui buồn, bởi không phải cứ hễ cho tiền, cho hàng mà thân nhân quý hóa tôn trọng Việt kiều. Năm 1988, cô L. vợ L. v. Ch., sau gần 10 năm chắt chiu được 10 ngàn bảng Anh, đổi được gần 17 ngàn Mỹ kim, (thời kỳ ấy, Việt Nam chưa xài bảng Anh) về Việt Nam thăm gia đình. Bạn bè hàng xóm sang thăm, đông vui như tết, ai đến, L. cũng có chút quà, ít 50 đô, nhiều 2 đến 3 vé. Ai cũng khen L. hết lời. Bà Hoàng xứ Anh-Cát-lợi về thăm cố hương. Sau 4 tuần, người đi kẻ ở bịn rịn, hẹn ngày tái ngộ. Ba năm sau, 1992, dành dụm được hơn 3 ngàn Mỹ kim, L. lại về thăm “đại gia đình” Việt Nam. Lần này L. không thể “phát chẩn” đô-la cho khắp bạn bè, hàng xóm như năm xưa. “Thóc kỳ này không đủ để đãi gà rừng”! Có người đến chơi, ra về tay không, bị họ chửi sau lưng, “tưởng làm vương làm tướng gì, chứ làm chân bưng bát, bưng mâm nhà hàng ở Anh, báu lắm đấy!” Trở về London, L. kể cho bạn bè, uất ức, thề không về Việt Nam nữa.

Anh H. từ Việt Nam trở về, còn độc chiếc túi xách tay, tất cả va-ly đồ đạc, com-lê cà vạt và giày cũng không. Cả nhà đón anh, nhìn thấy, phát hoảng. Chân anh đi dép nhựa, không com-lê, cà vạt, không áo ấm, độc chiếc sơ-mi, mặt mày xanh xám, người run vì lạnh. Hóa ra, trước khi lên máy bay, anh em họ mạc, bạn bè đưa tiễn, mỗi người xin một thứ làm “vật kỷ niệm”. Cậu em vợ “đổi” nốt đôi giày cuối cùng bằng đôi dép nhựa, ngay sân bay Nội Bài trước khi anh làm thủ tục Check-in về London.

Những năm gần đây, một chiêu rất quái của người Việt trong nước phiền hà Việt kiều tại London này. Xin kể để cảnh giác.

Số người giàu có ở Việt Nam tăng lên, hàng ngày họ bận kiếm tiền, không còn thời gian lo cho gia đình, con cái họ được tự do lêu lổng, đàn đúm. Chuyện nghiệm xì-ke ma túy là điều không thể tránh khỏi. Để cai nghiện cho con, họ tìm cách gửi con ra nước ngoài, hy vọng nó không biết tiếng Anh, lạ nước lạ cái, không bị bạn bè cám dỗ… sẽ cai nghiện được. Họ tìm mọi cách lừa bạn bè, thân nhân ở Anh, gửi con sang “du học”, giấu biệt chuyện hút chích. Nhẹ dạ cả tin, nhiều Việt kiều ở London đã mắc bẫy. Con nghiện chỉ cần nhìn nhau là biết, cần gì tiếng Anh, bao nhiêu tiền bạc đem theo con nghiện đốt hết. Tiến hết, lên cơn, đành ăn cắp gia chủ. Chủ nhà phát hiện kẻ cắp chính là con nghiện mà bấy lâu nay đang ăn cùng mâm, ở cùng nhà với mình. Tá hỏa, phôn về Việt Nam, bây giờ họ mới thú thật, mong giúp đỡ, Chẳng ai muốn chứa con nghiện trong nhà, đó chính là mầm gây tai họa cho con cái họ. Chủ nhà tống khứ ra đường. Không nhà, không tiền, không thuốc… có kẻ chán đời đã nhảy xuống sông Thame làm thần dân Hà Bá kinh thành London.

Từ năm 2007 đến nay đã có 3 “du học sinh” Việt Nam nhảy cầu xuống sông Thame vì thiếu thuốc, hết tiền và vô gia cư!

Gia đình tôi lại khác, họ Lâm chúng tôi tất cả định cư ở nước ngoài, tôi chỉ còn giúp đỡ gia đình vợ. Chúng tôi chỉ có thể giúp đỡ chăm sóc cha mẹ già, còn các cậu các dì, hàng năm có chút quà của người đi xa, họ không thể là mề-đay đeo lủng lẳng trên cổ, cũng không thể là ba-lô phải cõng trên lưng. Những năm tháng cầu bơ cầu bất ở bến Tam Bạc, Bắc Hải, đi hết trại tỵ nạn này đến trại tỵ nạn khác, đồng tiền chúng tôi kiếm được thật vất vả, tôi đã phải làm cu ly hốt cám cưa ở xưởng đóng thuyền, những đêm thứ Sáu, thứ Bảy vợ chồng tôi phải bỏ đàn con thơ dại ở nhà, đi làm chui cửa hàng Chinese Take away kiếm thêm, vợ tôi phải gò lưng đạp máy may 10 đến 12 giờ một ngày. Đồng tiền kiếm được chúng tôi phải đổi bằng thùng mồ hôi, đâu có phải vườn sau nhà có cây tiền chỉ việc sáng hái, chiều tiền mọc tiếp. Chúng tôi có gia đình, còn đàn con phải chăm sóc, phải dành dụm cho đàn con mai ngày chi phí đại học. Chúng tôi chỉ giúp khi ngặt, xóa đói giảm nghèo quá sức chúng tôi.

Cuối năm 1988, vợ tôi về chịu tang, bàn với nhau, trợ giúp là giúp các cậu, các dì “cần câu” tự kiếm sống. Cậu em nhà tôi rất mê chụp ảnh, tôi có chiếc Nikon, ống kính 2, mua khi còn ở Hong Kong, còn mới lắm, ở Việt Nam năm 1988, nó thuộc loại hàng quý hiếm, có thể kiếm tiền bằng cách chụp ảnh cưới, giỗ tết trong nông thôn. Vợ tôi làm quà tặng cậu em làm “cần cầu cơm”. Các dì, vợ tôi giúp chút vốn làm ăn, chính nhờ thế, hơn mười năm qua các cậu, các dì nhà tôi đã tự đứng lên bằng đôi chân của họ. Chúng tôi đã bỏ được gánh nặng trên vai, thanh thản sống những ngày cuối chiều.

© 2010 Lâm Hoàng Mạnh

© 2010 talawas

Bình luận

8 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Nụ cười đời tỵ nạn (6)”)

  1. Lê Văn viết:

    @bạn giangkienphuong
    Cám ơn bạn đã thông báo trang nhà của ông Lưu Nhơn Nghĩa. Ông từng là một người bạn vong niên – không thân không sơ – của tôi.

    Theo tôi, ông không chỉ là thầy giáo (Việt văn hay Anh văn?) giỏi, mà viết văn rất hay. Sự thật tôi chỉ đọc văn ổng khi LNN còn sống ở (Tây) Đức, làm việc trong một xưởng cưa ở vùng Schwarzwald (Black Forrest). Những truyện ngắn tôi đưọc đọc đều làm tôi bàng hoàng trước tính nhân bản sâu thẳm trong văn của ông.

    Ngoài đời, ông là người cực kỳ thẳng thắn, cực kỳ ghét những giả dối bề ngoài và cũng cực yêu nước Việt Nam (không thích hội hè khoa trương, nhưng ộng đã làm việc trong nhiều nhóm tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền cho người Việt Nam).

    Ộng Lưu Nhơn Nghĩa đã qua đời hơn hai năm trước đây, sau nhiều năm chiến đấu với chứng bịnh ung thư hiểm nghèo, để lại một người con trai, giống ông như đúc.

    Kính

  2. giangkienphuong viết:

    Bác Lâm Hoàng Mạnh!
    Tôi thực sự ngạc nhiên về trí nhớ của bác. Hay là cứ người Việt gốc Hoa thì có trí nhớ tốt như vậy? Tôi là người miền Nam. Ở trong Nam có một ông thầy giáo-nhà văn mà tôi rất thích. Ông thầy-nhà văn nầy cũng là người Việt gốc Hoa, có trí nhớ rất “khủng”, không biết trước đây bác từng đọc qua chưa -nhà văn Lưu Nhơn Nghĩa-. Tôi gởi link cho bác nhé! Cũng là cách giới thiệu với bác đời sống trong Nam trước 1975, và nhất là của người Việt gốc Hoa trong nầy.
    http://thatsonchaudoc.com/banviet2/LuuNhonNghia/LNN_listing.html
    (Ông thầy giáo-nhà văn nầy còn kiêm luôn là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa)

  3. sjman viết:

    Chú LHM,
    bây giờ gió đổi chiều rồi chú ơi, tiền từ mỹ gởi về vn miễn phí, còn từ vn qua mỹ thì charge 5%. vì các quan CSVN quá nhiều tiền nên lo chuyển ra ngoại quốc cho chắc ăn.
    cháu cũng là dân boat people đây, rất thích đọc các bài viết của chú.
    cheers,
    sjman

  4. Lâm Hoàng Mạnh viết:

    @Bác Hoa Bất Tử

    Món “pig’s trotters” hầm với khoai tây + Cà-rốt(móng chân heo, chứ không phải món đùi lọn hầm), thời bao cấp mà có “cũng là thuộc loại món sang” khó kiếm lắm.

    Cảm ơn Hoa Bất Tử đã giới thiệu món “quốc hồn quốc túy dân tộc Đức”, hè này tôi nhất định sẽ thưởng thức món Chân Giò Hầm kiểu Đức khi sang thăm anh bạn ở Munich.

  5. Lê Văn viết:

    Từ nhỏ tôi đã thích hóng chuyện “ở ngoài ta” (tức miền Bắc, theo cách gọi của mẹ tôi), sau này ra nước ngoài thì tôi thích hóng chuyện chuyện Việt Nam! Vì thế tôi đã trở thành “fan” của bác Mạnh lúc nào không hay!

    Riêng bài này lần đầu được nhìn lại cái bưu thiếp (mặt sau, mặt trước tôi nhớ là có hình nước Việt Nam nhỏ xíu). Lúc mới vào Nam, dù còn bé lắm nhưng cái bưu thiếp đã tạo cho tôi một ấn tượng không lấy gì vui.

    Số là gia đình tôi di cư từ Hải Phòng, đầu năm 1955, nhưng các cô chú, cả bên bố lẫn bên mẹ không có ai đi cả. Họ hàng trong Nam toàn là xa “bắn cà-nông”. Nên tôi cảm thấy cô đơn lắm. Đã thế, bố tôi dứt khoát không chấp nhận cái bưu thiếp đó và cấm cả mẹ tôi dùng nó, khiến bà phải lén lút mượn địa chỉ hàng xóm để liên lạc. Mỗi lần nhân được bưu thiếp, bà lại khóc…

    Cám ơn bác Mạnh cho tôi sống lại những ngày xưa.

    TB. Tôi nhớ có đọc đâu đó, hình như trong tùy bút Nhớ Quê Hương(?) của Nguyễn Tuân, rằng cuốn phim truyện đầu tiên của Việt Nam là “Cánh Đồng Ma”, của Đàm Quang Thiện (?), nhiều năm trước “cách mạng mùa Thu”. Chắc phải là cuối thập niên 1930.

  6. Hoa Bất Tử viết:

    Bài viết hay và xúc động. Cám ơn tác giả Lâm Hoàng Mạnh về những chi tiết có thực của những người Việt (không chỉ) tị nạn với khó khăn cuộc sống nơi xứ lạ , những điều mà không chỉ xảy ra cho người quen, người thân của tác giả mà nó xảy ra nhiều với đại đa số người Việt phải bỏ nước mà sang cư trú tại Châu Âu, Châu Mỹ… , không chỉ người tị nạn chính trị mà còn tị nạn nhiều mặt khác, cả những người lao động Đông Đức bị về nước sau khi chế độ Cộng Sản Đông Đức tan rã rồi lại vượt biên tiếp để sang (diện này chắc là TỊ NẠN CÁI ĐÓI).

    Một số chi tiết trong bài tôi muốn sửa đôi chút nếu tác giả không phiền lòng. Món đùi lợn hầm với khoai tây của người Đức: món này có lẽ người Việt nấu sai, thấy người Đức ăn khoai tây và đun nhừ đùi lợn cũng bắt chước ăn nhưng chưa học hỏi họ được đến nơi đến chốn. Người Đức chỉ hầm nhừ đùi lợn với gia vị thơm riêng, rồi xào nhừ rau cải muối chua thành vị chua ngọt, rồi luộc khoai tây bóc vỏ. 3 thứ đấy để riêng thành 3 phần trên 1 đĩa to, rồi ăn, chứ ko phải đun hổ lốn tất cả vào nhau như người Việt. Đó là món cổ truyền của người Đức, nổi tiếng không chỉ tại Thái Lan mà vươn sang Mỹ. Còn muốn hầm với khoai tây thì họ dùng thịt nạc vai có chút mỡ thái vuông 5×5 cm, chứ không hầm cả cục đùi lợn.

    Thêm nữa, chuyện gửi tiền về Việt Nam. Có những gia đình người Việt hồi xưa tị nạn gần như cả nhà, chẳng còn người thân nào sống ở VN, thì không nói làm gì. Nhưng có những người chỉ tị nạn 1 mình, đi lao động xuất khẩu 1 mình, rồi sau đó qua quá trình sống mà lập gia đình hay đón gia đình tại VN sang nơi mới để định cư, nhưng dù gì họ vẫn còn có người thân, họ hàng tại Việt Nam. Tình đồng bào máu mủ của mỗi con người làm sao mà không đau khi người thân ở VN sống khổ sở nghèo đói. Tác giả nên hiểu, sinh ra con người không phải ai cũng muốn nghèo đói, khổ cực mà phải làm đời nông dân cuốc đất trồng lúa kiếm ăn. Tác giả nên biết, có những gia đình mẹ VN anh hùng hồi xưa phục vụ cách mạng, những người con ra đi chiến trường chết mất xác thì đành chịu chứ còn xác mà vác về thì sau chiến tranh lại làm người nông dân hiền lành, không suy xét thiệt hơn và mưu cầu lợi nhuận, và vô tình nhường phần cho những kẻ trục lợi như những tay lãnh đạo bây giờ hưởng lợi. Đấy là cái tăm tối của họ. Không có đồng tiền của người Việt ở hải ngoại có lẽ họ vẫn sống, nhưng sống kiệt quệ, mà có đồng tiền trợ giúp thì họ đỡ kiệt quệ hơn. Có những người lao động tại Nga thời XHCN, sau khi chế độ XHCN sụp đổ đã về VN, và do không biết làm ăn mưu toan lừa đảo, quá chất phác nên kiệt quệ, giờ bán nước đầu ngõ kiếm ăn qua ngày và đối phó với bệnh tật từ xứ lạnh mang về như sưng gan, viêm thận bậc 3… Đồng tiền người Việt hải ngoại gửi về, đôi khi không nhằm xây dựng chế độ XHCN tại VN, mà đơn thuần là vài trăm, 1 2 ngàn euro giúp đỡ người thân đỡ gánh nặng được phần nào. Đối với những trường hợp người Việt hải ngoại buôn gian bán lời như buôn trồng cần sa, thuốc lá lậu… mà có bạc triệu đem về VN để sinh nhai tiếp thì không nói làm gì, bởi trước sau gì với nền pháp luật nghiêm minh tại những nước văn minh, thí dụ nước Đức, thì họ sẽ bị trừng phạt. Không nói đâu xa, tại Hannover, CHLB Đức, cảnh sát Đức điều tra ra được những người năm xưa buôn thuốc lậu nhưng họ chưa thể trục xuất vì những người này đã nhập quốc tịch rồi. Nhưng khi họ về VN, thì sở di trú của thành phố phát lệnh trục xuất hoàn toàn ra khỏi nước Đức, bởi diện họ sang là hợp tác lao động, mà trong luật nhập tịch, người có quốc tịch Đức mà sang với diện này, khi đã phạm tội trong quá trình sống tại Đức thì vẫn không thể bảo toàn được nhu cầu làm người Đức để được ở lại quốc gia này.

    Tôi cũng không thể chấp nhận được chuyện người Việt bây giờ, từ những miền quê nghèo tại VN, vượt biên sang Châu Âu (người rơm) để kiếm tiền qua làm lậu để gửi về VN. Nhưng, tác giả có thể trả lời rằng, nếu họ ở VN, họ sẽ làm gì để có cái ăn, khi mà đầu óc họ tăm tối chỉ biết nghĩ cách làm sao để có cái ăn, chứ không biết tự hỏi tại sao ta lại đói, người kia lại giàu, tại sao mình phải bỏ nước mà đi trong khi có những kẻ vẫn ở nước mà vẫn giàu? Ai nâng giúp trí khôn của họ lên để họ tự lo được cho bản thân nếu cứ bám ruộng đồng ở quê mà kiếm ăn?

    Khi cái bụng đã đói, thì đầu gối phải bò đi, mà không bò được thì phải chổng mông lên (theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng) và mọi đạo đức, lẽ phải của xã hội loài người đó không còn giá trị để mà có thể bám vào và để kiếm cái lấp đầy dạ dày, tác giả ạ. Họ có còn một lựa chọn nào khác? Người Việt đang sống tại hải ngoại có còn lựa chọn nào khác để lòng đỡ bị day dứt?

    Đôi lời tôi góp ý vậy, và cũng là điều tôi trăn trở khi nghĩ về những phận mùng tơi ở quê tôi.

  7. Lâm Hoàng Mạnh viết:

    Cám ơn bác PTV, nhờ bác tôi mới nhớ đến film Cô Gái Việt, cũng do 2 nữ tài tử Thanh Hương và Lan Hương đóng.

    Cô Thành tôi nay đã ngoài 80, bà vẫn giữ dáng lắm, chỉ có tôi mắt kém nhiều.

    Điều rất đặc biệt, chồng bà người Pháp, nhưng ông nói tiếng Việt thuộc loại siêu và rất “văn chương” nữa. Không biết có phải bà tôi (bà C) khi còn, bắt con cháu nói tiếng Việt chăng? Bà C. có 2 con gái, cô Tâm qua đời khi còn rất trẻ, cho nên bà “bắt” chồng cô Thành ở rể. Đây có lẽ thuộc ngoại lệ ở xứ France chăng? Tôi ở UK 30 năm chưa thấy 1 người Việt nào “bắt được” anh chàng Tây (Anh,Pháp, Mỹ…) ở rể cả, dù gia cảnh cũng như bà tôi.

    Các con tôi “phục ông chú người Pháp” lắm và bảo “ông phải yêu vợ ghê lắm” mới học tiếng Việt được như vậy. Chính nhờ thế các con tôi mới lấy ông làm gương duy trì tiếng Việt.

    Cảm ơn bác P.T.V nhiều.

  8. Phùng Tường Vân viết:

    Đốt Lò Hương Cũ !

    …”Năm 1952, bộ film nhựa tựa đề Bến Cũ, do cô đào xi-nê Thanh Hương và Lan Hương thủ vai ra mắt tại Hà Nội. Diễn viên Thanh Hương chính là con gái bà C., em ruột bà nội tôi, tôi gọi là cô Thành. Nếu tôi nhớ không nhầm, Bến Cũ là film đầu tiên của nền điện ảnh non trẻ Việt Nam.
    (LHM)
    Trời ! Bác Lâm làm tôi thương nhớ những năm thanh lịch cuối cùng của Hà Nội lắm thay! Trước phim Bến Cũ, hai cô Thanh Hương, Lan Hương còn đóng một phim gọi là Phim Cô Gái Việt nữa bác Lâm à, phim thì chẳng ra sao, nhưng tôi nhớ hai cô Hương ấy sao mà đẹp thế!

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...