talawas blog

Chuyên mục:

Katrin Bennhold – Nguy cơ và cơ hội cho phụ nữ trong thế kỷ 21

21/03/2010 | 6:10 sáng | 1 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Trang Nhung

Category: talaFemina, Thế giới
Thẻ:

Nguyễn Trang Nhung dịch

Paris – Daniel Louvard không tin vào chính sách bình đẳng về cơ hội (affirmative action). Hết lần này đến lần khác, các nhà khoa học ở phòng thí nghiệm bệnh ung thư Left Bank đã thuyết phục ông tuyển dụng xen kẽ nam và nữ. Nhưng ông Louvard, Giám đốc nghiên cứu tại Institut Curie và là một trong các nhà sinh hóa hàng đầu của Pháp, vẫn tiếp tục tuyển dụng thêm nhân viên nữ.

“Tôi lựa những ứng viên tốt nhất, vậy thôi,” ông Louvard nói. Có 21 nữ và 4 nam trong nhóm của ông.

Cuộc cách mạng thầm lặng chứng kiến phụ nữ trên toàn thế giới phát triển bắt kịp nam giới trong lực lượng lao động và trong giáo dục, cũng đã tiến đến khoa học, lĩnh vực hầu như là thành trì kiên cố của nam giới.

Năm ngoái, ba phụ nữ đã nhận được giải thưởng Nobel trong các ngành khoa học, một kỷ lục trong mọi năm qua. Ngày nay, phụ nữ giành được 42% trong số các học vị khoa học ở 30 quốc gia của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế; trong các lĩnh vực khoa học đời sống, như sinh học và y học, có hơn 6 trong số 10 sinh viên tốt nghiệp là nữ.

Phụ nữ trẻ tuổi hơn cũng gắn bó với khoa học hơn sau khi tốt nghiệp: Trong Liên minh châu Âu, số lượng các nhà nghiên cứu nữ đang tăng với một tỷ lệ gần gấp đôi so với đối tác nam của họ, làm nổi lên một hiện tượng, mà một số người gọi là “old girls network.”

Ngay cả Barbie, búp bê hình tượng được sản xuất vào năm 1992 với câu nói tai tiếng “Giờ học toán thật khó,” cũng đã được cải tiến thành một kỹ sư máy tính cho phiên bản 2010, với đầy đủ mắt kính màu hồng và máy tính xách tay màu hồng.

Nhưng nếu sự tiến bộ của nữ giới rất ấn tượng kể từ khi nhà vật lý Marie Curie, người hai lần nhận giải Nobel, bị cấm bước chân vào học viện khoa học Pháp cách đây một thế kỷ, thì trong các lĩnh vực khác của xã hội, sự tiến bộ chậm chạp hơn và ít đồng nhất hơn nhiều.

Trong ngành khoa học máy tính, chẳng hạn, tỷ lệ nữ sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học Mỹ đã đạt đến đỉnh điểm trong giữa thập niên 1980 ở mốc hơn 40% và từ đó đã giảm xuống còn một nửa. Sue Rosser, một học giả đã viết rất nhiều về phụ nữ trong lĩnh vực khoa học, cho biết. Trong kỹ thuật điện và cơ khí, tỷ lệ ghi danh chỉ còn một chữ số. Số lượng phụ nữ là giáo sư khoa học (full science proferssor) ở các trường đại học ưu tú tại Mỹ chững lại ở mốc 10% trong nửa thế kỷ qua. Trên khắp thế giới, chỉ có một số ít phụ nữ chủ trì một học viện khoa học quốc gia. Phụ nữ  đã được trao tặng chỉ 16 trong số 540 giải Nobel về khoa học.

Trên nhiều phương diện, sự đối nghịch giữa các con số khích lệ và những chi tiết ảm đạm là câu chuyện về sự tiến bộ của phụ nữ nói chung. Phụ nữ có nhiều bằng cấp hơn và điểm số cao hơn nam giới ở các nước công nghiệp phát triển. Nhưng họ vẫn bị trả lương thấp hơn và thường chỉ làm việc bán thời gian. Chỉ có 18% các giáo sư được bổ nhiệm trong 27 quốc gia Liên minh châu Âu là phụ nữ.

Máy tính và kỹ thuật – hai lĩnh vực trong khoa học ngày nay có lương bổng cao – lại là hai lĩnh vực có ít phụ nữ nhất.

Trong thế kỷ 21, tri thức khoa học và công nghệ có lẽ sẽ đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Khoa học, trên thực tế, sẽ là biên giới cuối cùng cho phong trào phụ nữ. Khi nhân loại đã chuẩn bị giải quyết những thách thức cấp bách – từ biến đổi khí hậu đến bệnh tật phức tạp, cho đến tác động từ cuộc cách mạng số – thì sự thiếu hụt nhân lực với các kỹ năng thích hợp dần xuất hiện ở nhiều quốc gia.

Tình cảnh đó có cả cơ hội và nguy cơ cho phụ nữ: Trong những năm tới, những người nắm vững khoa học sẽ thay đổi thế giới – và rất dễ có thu nhập cao.

“Phụ nữ cần khoa học và khoa học cần phụ nữ”, bà Béatrice Dautresme, giám đốc điều hành L’Oréal Foundation và là người kiến tạo các giải thưởng của L’Oréal-Unesco For Women in Science, tổ chức tôn vinh năm nhà khoa học [nữ] mỗi năm từ khắp nơi trên thế giới, cho biết. “Nếu phụ nữ có thể thành công trong khoa học, họ có thể thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào.”

Những trở ngại mà phụ nữ thường gặp tập trung nhiều nhất trong hai lĩnh vực khoa học và công nghệ. Cân bằng giữa sự nghiệp với gia đình đặc biệt phức tạp khi đồng hồ nhiệm kỳ [thời gian đảm nhiệm công tác] chạy đua với đồng hồ sinh học, hay khi một vị trí kỹ thuật đòi hỏi các phần việc kéo dài, chẳng hạn, trên một giàn khoan dầu ngoài biển.

Đối với các cặp vợ chồng, phối hợp hai ngành nghề đặc biệt khó khăn khi cả hai đều làm việc trong lĩnh vực khoa học. Tại Mỹ, 83% các nhà khoa học nữ có chồng là nhà khoa học, so với 54% các nhà khoa học nam.

Đấu tranh với những định kiến lờ mờ lẫn rõ rệt khó hơn nhiều khi chúng được tuyên truyền bởi các nhà sư phạm, từ các các giáo viên mẫu giáo đến cựu chủ tịch Đại học Harvard, Lawrence H. Summers. Bà Rosser từng là một diễn giả tại một hội nghị vào tháng Một năm 2005, tại đó, ông Summers nói rằng những khác biệt về “khả năng nội tại” giữa nam giới và nữ giới quan trọng hơn những yếu tố văn hóa và phân biệt đối xử trong việc giải thích lý do tại sao có ít phụ nữ hơn [so với nam giới] thành công trong các lĩnh vực khoa học.

Ít nhất một người phụ nữ trong số các thính giả đã bỏ ra về để phản đối, bà Rosser nhớ lại. Những người khác, giống như bà, đã thách thức ông Summers sau khi ông nêu ý kiến của mình.

Ý kiến cho rằng khả năng trí tuệ ở nam giới đa dạng hơn [so với ở nữ giới] – rằng những bộ não thông minh nhất và kém cỏi nhất đều là bộ não nam giới – lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1894 để giải thích lý do tại sao có nhiều đàn ông trong bệnh viện tâm thần và có ít phụ nữ thiên tài. Điều này đã bị bác bỏ bởi các nghiên cứu thực nghiệm, gần đây nhất vào tháng Sáu, do Janet Hyde và Janet Mertz của Đại học Wisconsin thực hiện; họ cho thấy rằng tại một số quốc gia, không có sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới ở trình độ cao nhất. Ở nơi sự khác biệt còn tồn tại, nó đang thu hẹp lại và tương quan với bất bình đẳng giới, điều này gợi ý rằng các yếu tố văn hóa, chứ không phải các yếu tố nội tại, mới mang tính quyết định.

Song những định kiến đã ăn sâu vào tiềm thức. Tại một buổi thuyết giảng cho các nữ sinh trung học vài năm trước đây, Gigliola Staffilani, một [nữ] giáo sư toán học tại Viện Công nghệ Massachusetts, được hỏi có phải đối với một người phụ nữ thông minh thì “khó hẹn hò được với ai” hay không. Khoa toán của nhiều trường đại học than thở về sự sụt giảm số lượng các ứng viên nữ. Tại MIT, chẳng hạn, số lượng nữ nộp đơn vào chương trình sau đại học ngành toán đã giảm từ khoảng 17% trong những năm trước xuống còn 13% trong năm nay, bà Staffilani nói. (Nhưng chất lượng đơn của họ rất tốt, bà nói thêm, nên họ sẽ chiếm 22% lượng sinh viên đầu vào.)

Sự thiếu vắng các hình mẫu chuẩn mực về vai trò của phụ nữ khiến bà lo lắng. Nó củng cố quan điểm cho rằng đối với các em gái, học toán là khó.

Thông thường, việc uốn nắn các em gái bắt đầu từ sớm. Blanca Treviño, một nhà khoa học máy tính người Mexico và là giám đốc điều hành của Softtek, nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin tư nhân lớn nhất tại châu Mỹ Latin, nhớ lại rằng giáo viên mẫu giáo gọi cho bà để than phiền về con gái bà vì cô bé đã chơi với máy tính thay vì búp bê.

“Cô ấy bảo tôi là con gái tôi đã dựng chuyện khi nói rằng mẹ của mình có một văn phòng và một trợ lý,” bà Treviño nói. “Cô ấy không cho là có chuyện như vậy.”

Ở Ấn Độ, các nhà khoa học nữ phàn nàn rằng ngay cả trong sách giáo khoa khoa học, phụ nữ được mô tả trong các vai trò truyền thống. Và tại Mỹ, một số nhà tâm lý học cho biết sự rộ lên các trò chơi máy tính dành cho các cậu bé là một trong những giải thích cho khoảng cách lớn dần giữa hai giới trong khoa học máy tính kể từ những năm 1980.

“Nên có một nỗ lực phối hợp để tháo bỏ những định kiến vẫn tồn tại”, ông Lotte Bailyn, một giáo sư tại MIT’s Sloan School of Management, người đã nghiên cứu hiện tượng này, nói. “Chúng ta cần nhiều hơn các chương trình truyền hình có các nữ pháp y và các nhà khoa học nữ khác. Chúng ta cần các búp bê bác sỹ nữ và nhà khoa học nữ.”

Lịch sử cho thấy rằng chỉ riêng khoa học hiếm khi giúp phụ nữ có được sự công nhận mà họ xứng đáng.

Lấy trường hợp Lise Meitner, nhà vật lý người Áo đã góp phần trong việc phát hiện phân hạch hạt nhân cùng Otto Hahn, nhưng đã không được chia sẻ  cùng ông giải thưởng Nobel 1944. Hoặc Hedy Lamarr, một người Áo khác, được nhớ đến bởi những cảnh nude trong phim truyện nổi tiếng năm 1933 “Thuốc lắc” và sự nghiệp Hollywood của mình hơn là việc cùng George Antheil phát triển một công nghệ mà đã trở thành cơ sở cho điện thoại di động.

Mãi đến năm 1967 các đường phố ở bên ngoài cửa sổ văn phòng ông Louvard trong khu phố Latinh mang tên Rue Pierre Curie, chồng nhà vật lý Marie Curie, mới được đổi tên thành Rue Pierre và Marie Curie. Và mãi cho đến năm 1995 thi thể của Marie Curie mới được chuyển đến điện Panthéon, công trình tưởng niệm những bộ não vĩ đại nhất của Cộng hòa Pháp. Dòng chữ ở trên lối vào vẫn ghi: “Dành cho những người đàn ông vĩ đại.”

Trong nhiều cuộc hội thoại với các nhà khoa học nữ và giám đốc điều hành công nghệ nữ từ Mỹ, Châu Âu và Châu Á, có một mô hình nổi bật: Nhiều người trong số họ đã theo học các trường nữ sinh và một số lượng đáng kể có cha mẹ là nhà khoa học.

Mặc dù phần nào được bảo vệ khỏi định kiến, họ vẫn phải cân bằng giữa công việc và cuộc sống riêng tư. Nhiều người không có con (hoặc chỉ có một con), và thậm chí họ có nhiều khả năng độc thân hoặc đã ly dị hơn so với một người phụ nữ có học vấn trung bình, bà Bailyn cho biết.

Ở Philippin, Lourdes Cruz, một nhà hóa sinh học và là người được giải thưởng L’Oréal-Unesco cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm nay, là một trường hợp trong số đó. Được đào tạo tại trường nữ sinh và được khuyến khích bởi người cha là nhà hóa học, cô đã có một sự nghiệp nghiên cứu thành công tại Đại học Utah và Viện Khoa học Biển tại Thành phố Quezon. Không có thời gian kết hôn, đừng nói chi đến chuyện con cái, cô nói.

“Tôi đã dành rất nhiều thời gian trong phòng thí nghiệm và đó là ưu tiên của tôi” – cô Cruz, người nghiên cứu các ứng dụng y tế của một chất độc thần kinh trong ốc nón, nói.

Cô thường ngủ trên một tấm nệm bọt trong văn phòng của mình và đặt bộ định giờ để lấy các đo đạc về đêm trong suốt các thí nghiệm dài.

Những phụ nữ thành công trong việc dung hoà sự nghiệp khoa học với gia đình hầu hết đều cho biết họ đã may mắn theo cách nào đó. Elizabeth Blackburn, 61 tuổi, một nhà sinh học phân tử người Úc, người nhận chung giải Nobel Y học năm ngoái với Carol Greider, biết được mình mang thai con trai, vào cùng một tuần bà được bổ nhiệm tại Đại học California ở Berkeley – khi ấy bà 37 tuổi.

Bà Staffilani, 44 tuổi, được bổ nhiệm từ sớm, lúc 34 tuổi, độ tuổi mà nhiều nhà khoa học tại các học viện Mỹ chỉ mới bắt đầu đảm nhiệm chức giáo sự phụ trợ – họ có khoảng sáu năm để phấn đấu đạt được một vị trí vĩnh viễn. Khi sinh cặp song sinh, bà 36 tuổi. Vì một lúc có hai con, bà đã phải dành chỉ một nửa thời gian cho việc giảng dạy và xuất bản.

Edith Heard, 44 tuổi, một nhà di truyền học người Anh điều hành khoa sinh học phát triển và di truyền học tại Institut Curie, cho biết may mắn đã đưa bà đến Paris cùng đối tác người Pháp trong buổi đầu sự nghiệp của bà.

“Đó là một bước ngoặt”, bà Heard, người mẹ của hai đứa con, nói. “Tôi hẳn đã không thể dung hoà công việc và gia đình nếu tôi ở Anh hay ở Mỹ.”

Một số phụ nữ học cùng bà tại trường đại học ở Anh đã từ bỏ sự nghiệp khoa học khi họ có con, bà cho biết.

Bà Heard nhận trợ cấp từ một hợp đồng dài hạn với chính phủ Pháp khi bà 28 tuổi, cho phép bà thực hiện những thử nghiệm mạo hiểm thường không được tài trợ bởi các hợp đồng ngắn hạn phổ biến hơn ở nơi khác. Bà đã dành 10 tuần thai sản sau khi sinh mỗi đứa con và dựa vào hệ thống chăm sóc trẻ em do nhà nước Pháp trợ cấp. Có lẽ quan trọng nhất là, chồng của bà, cũng là một di truyền học, đã chia sẻ với bà trách nhiệm gia đình.

Cũng như vậy, Pierre và Marie Curie là những người đi trước. Nếu Marie Curie vẫn là một nguồn cảm hứng cho các nhà khoa học nữ, thì không chỉ vì bà đã nhận được hai giải thưởng Nobel, một trong vật lý và một trong hóa học; mà còn vì bà  đã có một cuộc hôn nhân lâu dài và hai người con gái thành đạt.

Pierre, người cùng bà phát hiện ra phóng xạ, đã từ chối nhận Giải Nobel Vật lý năm 1903 được trao cho ông và Henri Becquerel, trừ khi vợ ông cùng nhận nó.

Con gái của họ Irène Joliot-Curie đoạt giải thưởng Nobel trong Hóa học, cùng chồng, Frédéric Joliot, vào năm 1935. Con gái khác, Eve, người đã xuất hiện trên bìa tờ Paris Match, trở thành một trong những nữ phóng viên chiến tranh đầu tiên trong Thế chiến II và đã viết tiểu sử về mẹ của mình. Cô Blackburn đã đọc tiểu sử đó khi cô ở tuổi thiếu niên. “Tôi rất ấn tượng bởi khả năng của bà [Marie Curie] trong việc tìm thấy sự thỏa mãn lớn trong khoa học, thông điệp [ở đây] là việc dành tâm trí đầy nhiệt huyết cho khoa học là điều mà một người đáng ngưỡng mộ [như bà] có thể làm, và cuộc sống gia đình của bà là cuộc sống như con gái bà mô tả”, cô nhớ lại.

Những người chồng chia sẻ trách nhiệm gia đình đang trở nên hiếm hoi. Ông Louvard, người mà vợ có học vị tiến sĩ nhưng đã từ bỏ sự nghiệp khoa học của mình để chăm sóc cho ba người con của họ, ghi nhận: “Tôi nhận thấy hiện nay các nhà khoa học [nữ] xuất hiện tại các hội nghị cùng chồng và con của họ. Điều đó thật không thể tưởng tượng được cho đến gần đây.”

Nhưng chỉ thiện ý không thôi sẽ không đủ. “Các viện [nghiên cứu] phải thay đổi,” Cô Blackburn nói.

Bà Rosser lưu ý rằng tại Viện Công nghệ Georgia, nơi bà từng là chủ nhiệm khoa cho đến một năm trước đây, phụ nữ đã phải nghỉ phép để sinh con, giống như tất cả nhân viên nhà nước.

Cả cô Blackburn và bà Rosser đều gợi ý rằng việc ngưng đồng hồ nhiệm kỳ trong suốt thời kỳ mà các nhà khoa học – nữ và nam – chăm sóc cho trẻ nhỏ hoặc cha mẹ già có thể thúc đẩy nhiều phụ nữ theo đuổi sự nghiệp khoa học hơn. Một số trường đại học tư, như Princeton và MIT, đã làm điều này. Đảm bảo rằng tiền trợ cấp được duy trì trong suốt kỳ nghỉ phép và bao gồm cả tiền chăm sóc trẻ em ở các cấp nghiên cứu có thể là một gợi ý khác. Chìa khóa cho bất kỳ phương án nào, họ nói, là thực hiện điều này như một chế độ mặc định hơn là chế độ tùy chọn nhằm tránh việc gán nhãn xấu cho phụ nữ.

Gần đây, có hai sự dịch chuyển bắt đầu thu hút mối quan tâm của các chính trị gia và các công ty: tình trạng thiếu kỹ sư và lao động có trình độ cao khác ở phương Tây, và việc tăng số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học và công nghệ ở các nước như Trung Quốc và Ấn Độ, cũng như sự cân bằng quyền lực kinh tế đang dịch chuyển về phía đông.

Cho đến năm 2017, dự kiến ở Đức sẽ thiếu 200,000 kỹ sư, và ở Anh sẽ cần hơn nửa triệu công nhân lành nghề để đáp ứng nhu cầu năng lượng xanh, các ngành công nghiệp hàng không vũ trụ và vận tải. Trong khi đó, Mỹ đứng thứ ba từ chót bảng xếp hạng quốc tế OECD về khả năng toán học và khoa học ở cấp trung học.

Đồng thời, các nước đang phát triển – nhất là tại châu Á – đã gia tăng đóng góp của mình cho quỹ nghiên cứu toàn cầu, từ 30% trong 2002 đến 38% trong năm 2007, theo Unesco.

Chính quyền Obama đã quyết định rằng việc thu hút nhiều phụ nữ hơn trong khoa học là một ưu tiên. Trên khắp thế giới phát triển, học viện và ngành công nghiệp đang cố gắng, cùng nhau hoặc riêng lẻ, để thu hút phụ nữ vào các ngành nghề kỹ thuật với các chương trình cố vấn, các trại khoa học và chăm sóc trẻ em.

“Nguồn tài năng này là vô cùng quan trọng đối với chúng tôi”, ông Kerstin Wagner, người đứng đầu ban tuyển dụng nhân tài cho Siemens – người khổng lồ về các thiết bị điện tử Đức, cho biết. Bất chấp sự sụt giảm kinh tế, Siemens đang gặp khó khăn trong việc tuyển nhân viên cho 600 công việc kỹ thuật tại Mỹ và hơn 1,200 công việc kỹ thuật tại Đức.

“Mọi thứ đã sẵn sàng cho nhiều phụ nữ hơn thành công trong khoa học, giờ chỉ phải sắp xếp mọi thứ đâu vào đấy,” bà Dautresme tại L’Oréal Foundation nói. “Tôi tin rằng thế kỷ này sẽ chứng kiến nhiều phụ nữ hơn trở thành các nhà lãnh đạo trong khoa học.”

Nguồn: http://www.nytimes.com/2010/03/06/world/europe/06iht-ffscience.html?scp=3&sq=female%20factor&st=cse

Bản tiếng Việt © 2010 Nguyễn Trang Nhung

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Bình luận

1 phản hồi (bài “Katrin Bennhold – Nguy cơ và cơ hội cho phụ nữ trong thế kỷ 21”)

  1. Hoa Bất Tử viết:

    Đứng sau 1 người đàn ông thành đạt là một người phụ nữ tốt. Nhưng đứng sau một người phụ nữ thành đạt nhiều khi chẳng có gì. Hay, chẳng có ai.

    Vấn đề này phụ thuộc vào nhiều vấn đề: yếu tố sinh lý, khả năng tư duy não bộ, tuổi đời, xu hướng và thể chế chính trị xã hội xung quanh và ngay trong khát vọng mỗi con người.

    Đã là con người (và cần xác định con người đó sống trong một xã hội dân chủ hay một xã hội độc tài toàn trị) , ai cũng có quyền tự quyết định cuộc sống của riêng mình, chỉ có điều họ có dám từ bỏ cái này để đạt được cái kia không mà thôi. Cuộc sống không cho ta tất cả mọi thứ, nhưng đều cho ta ít nhất 1 lựa chọn.

    Đàn ông đa phần có thể vứt bỏ nhiều trách nhiệm cá nhân có thể gây tác động đến người thân để theo đuổi sự nghiệp riêng, nhưng phụ nữ vốn đa phần có xu thế muốn vứt bỏ sự nghiệp riêng để lo cho cuộc sống người thân trong gia đình. Cái nguyên tắc bất thành văn này không dễ được thay đổi 1 sớm 1 chiều từ lâu đã được hình thành trong chế độ phụ hệ, đàn ông đi kiếm đồ ăn, đàn bà ở nhà đẻ con và nấu ăn đợi chồng về.

    Nếu phụ nữ cũng muốn mang vác gánh trách nhiệm kiếm đồ ăn như chồng, thì người chồng phải thay thế vai trò của người phụ nữ, để cấu trúc gia đình nói riêng và cấu trúc xã hội nói chung được tồn tại trong phát triển bền vững. Hoặc, nếu phụ nữ cũng muốn vừa giữ thiên chức như cũ, vừa muốn vùng lên chứng tỏ mình giỏi không thua đàn ông, trong khi đàn ông vẫn cũng không chịu thay đổi mình, thì gia đình nhỏ bé đó không còn cân bằng trong trạng thái bình yên của trách nhiệm và nhu cầu đòi hỏi với xã hội. Xã hội cũng bị tác động bởi sự mất cân bằng này, ví dụ rằng những đứa con sống thiếu cha mẹ do họ li thân và không được cưu mang dạy dỗ đến nơi đến chốn.

    Cái gì cũng có cái giá của nó. Việc người ta cần nghĩ bây giờ là nên chọn cái giá nào là thích hợp nhất. Chứ nếu muốn, chẳng phải đàn ông, đàn bà ai cũng a lê hấp được cả để vứt tung mọi trách nhiệm và theo đuổi cơ hội họ nắm bắt được, để vỗ ngực (cho dù còn day dứt và khó chịu cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) tự hào rằng: Tôi là phụ nữ.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...