talawas blog

Chuyên mục:

Trương Nhân Tuấn – Vài dòng xin thưa cùng anh Mai Thái Lĩnh về bài viết “Ải Nam Quan trong hiện tại” (phần 1)

22/03/2010 | 10:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Trương Nhân Tuấn – Vài dòng xin thưa cùng anh Mai Thái Lĩnh về bài viết “Ải Nam Quan trong hiện tại” (phần 1)

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Chính trị - Xã hội, Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: > > >

Bài viết mang tựa đề “Ải Nam Quan trong hiện tại” của anh Mai Thái Lĩnh vừa đăng trên talawas thật công phu, kèm nhiều hình ảnh, sự kiện lịch sử rất mới. Theo thiển ý, các dữ kiện lịch sử sẽ quan trọng, vì chưa có sách vở nào ghi lại, nếu chúng được xác minh thật sự là những “dữ kiện lịch sử”. Với tinh thần ham học, cầu tiến, tôi ghi lại ở đây vài ý kiến chủ quan đặt lại vấn đề về các chi tiết lịch sử này, đồng thời đóng góp thêm một vài chi tiết về biên giới Việt-Trung, hy vọng được anh Mai Thái Lĩnh và độc giả đón nhận như là một cái nhìn từ góc cạnh khác.

1. Hiệp ước Thiên Tân 1885 có phải là một hiệp ước bất bình đẳng như Trung Quốc đã từng rêu rao hay không?

Về hiệp ước Thiên Tân 1885, ký kết giữa Pháp và nhà Thanh, anh Mai Thái Lĩnh viết như sau:

Do hoàn cảnh chính trị của thời đó, các văn kiện ký kết về biên giới không phải là một hiệp ước bất bình đẳng gây bất lợi cho nhà Thanh như phía Trung Quốc thường rêu rao mà trong thực tế, đã gây thiệt hại cho phía Việt Nam. Mãi đến hơn mười năm sau, nghĩa là sau cuộc chiến tranh Trung-Nhật (1894-1895), Trung Quốc mới chịu thiệt thòi gây ra bởi sức ép của Nhật Bản và các cường quốc phương Tây. Không thể đánh đồng Hiệp ước Thiên Tân năm 1885 với các hiệp ước bất bình đẳng sau này.”

Gần đây sử gia Trần Gia Phụng, với bài “Đại nạn Trung Hoa thời cận đại” trên talawas, cho rằng chiến tranh Pháp Trung đưa đến hiệp ước Thiên Tân 1885, là “đại nạn” của Trung Hoa thời cận đại.

Ở đây ta thấy hai tác giả Mai Thái Lĩnh và Trần Gia Phụng có cái nhìn trái ngược nhau về Hiệp ước Thiên Tân 1885. Tác giả Trần Gia Phụng cho rằng đây là một “đại nạn” cho Trung Quốc; còn tác giả Mai Thái Lĩnh, ngược lại, cho rằng hiệp ước này đem lợi lại cho Trung Quốc.

Ai đúng ai sai trong vấn đề này?

Hiệp ước Thiên Tân ký kết giữa Pháp và nhà Thanh 1885 đã đem lại những gì cho Trung Quốc, Pháp và Việt Nam? Ai có lợi và lợi về cái gì? Ai bị thiệt hại và thiệt hại về cái gì? Hiệp ước này liên quan các vấn đề: hòa bình, kinh tế và phân định lại biên giới giữa các tỉnh Hoa Nam và Bắc Kỳ.

Sử gia Trần Gia Phụng đã có kết luận về việc này qua bài bài viết dẫn trên, nhưng tôi không thấy thuyết phục, dầu bài viết cũng rất công phu. Do đó tôi có có viết bài “Nghiên cứu hiệp ước Thiên Tân 1885” gởi lên nhằm đưa ra một cái nhìn khác. Theo BBT talawas thì sẽ đăng bài này làm 4 kỳ và đăng vào đầu tháng giêng 2010. Nhưng vì lý do kỹ thuật, talawas bị tin tặc đánh liên tục trong nhiều tuần, do đó bài này bị ngưng lại. Tôi đã có ý định bỏ qua chủ đề này và không trở lại nữa. Hôm nay đọc thêm bài của anh Mai Thái Lĩnh. Thì ra hiệp ước Thiên Tân 1885 và những vấn đề chung quanh xem ra còn nhiều cái mới chưa nói tới, còn có nhiều cái nhìn khác biệt!

2. Cột 19 ngày xưa cắm ở đâu và bây giờ cắm ở đâu?

Bài viết của anh Mai Thái Lĩnh có nhiều suy luận rất thuyết phục, thí dụ: “Quả đồi mà chúng ta thấy trong tấm ảnh 13 tương ứng với khu đất ở phía đông-nam Hữu Nghị Quan, nằm giữa các điểm A, B và C, D. Đường biên giới đáng lẽ chạy trên đỉnh hoặc sau lưng quả đồi bây giờ lại chạy phía trước, dưới chân đồi.

Thật đúng là như vậy, đường biên giới theo công ước Pháp Thanh 1887 đi qua đỉnh núi chứ không phải theo đường biên giới như hình 3 dưới đây. Tôi xin đóng góp một chi tiết lịch sử vào đây để sự suy luận của tác giả Mai Thái Lĩnh trở thành một khẳng định.

Theo biên bản 21-4-1891 (hình biên bản 1), cắm mốc từ ải Chí Mã đến Trấn Nam Quan (tức cắm từ đông sang tây), cột mốc số 19 là cột mang số tạm 24 (cột 18 tại Nam Quan mang số 25), vị trí cột mốc được xác định nguyên văn tiếng Pháp như sau: “Sur le sommet en face du fort chinois Kouei Tao (3 chữ Hán là Khôn Long Lĩnh).” Tạm dịch tiếng Việt: cắm trên đỉnh, đối diện với một công sự Trung Hoa tên Kouei Tao (Khôn Long Lĩnh). Đỉnh ở đây là đỉnh một trái núi nhỏ (lĩnh).

Biên bản 1.

Ta biết, cổng Nam Quan được sử sách Việt, Pháp cũng như Hán mô tả được dựng lên ở giữa một hẻm núi (gorge), một bên là núi đá, một bên là núi đất. Theo hai tấm hình cổng Nam Quan sau đây, một tấm chụp nhìn về góc phải (hình 1), một tấm chụp góc trái (hình 2), ta thấy có hai cổng: một của Trung Quốc (cổng lớn, phía sau) và một của Việt Nam (cổng nhỏ, phía trước). Hai bên cổng là núi cao. Khoảng cách hai cổng khoảng 100m.

Hình 1

Hình 2

Khoảng cách hai cổng phù hợp với khoảng cách của cột mốc cắm tại nơi này. Theo biên bản cắm mốc ngày 19-6-1894, cộc mốc cắm tại Nam Quan tên là Trấn Nam Quan Ngoại (鎭南關外), mang số 18, cắm trên đường từ Nam quan về Đồng Đăng, cách cổng là 100m. (Nguyên văn tiếng Pháp: A environ 100m en avant de la porte de Nam-Quan).

Ta có thể kiểm chứng lại điều này trong hình biên bản 1, cột mốc tạm số 25.

Quan sát hai hình 1 và 2, ta thấy có hai bức tường xây hai bên cổng Nam Quan (của Việt Nam) song song với hai bức tường của Trung Quốc, cách đều nhau khoảng 100m, chạy thẳng lên núi.

Như thế bức tường của phía Việt Nam chắc chắn phải được xây trên đường biên giới. Khoảng cách và hướng đi của bức tường phù hợp với tinh thần của biên bản 4-7-1887 (ghi ở dưới) và biên bản cắm mốc 19-6-1894.

Ta có thể kết luận là:

Trên đỉnh núi, phía tay phải (hình 1), là cột mốc số 19.

Trên đỉnh núi, (hình 2), cột mốc 17, (xem mô tả ở biên bản 4-7-1886 ở phần dưới).

Điều cần thiết kiểm chứng, trên đỉnh núi có cắm mốc 19 phải có hiện diện một công sự của Trung Quốc kế bên.

Trên hình 1, phía góc trên cùng bên tay phải (kế cận con tem), trên đỉnh núi ta thấy thấp thoáng một kiến trúc. Nhưng vì hình mập mờ nên không thể kết luận được là cột mốc 19 cắm trên núi này hay núi kế bên? Nên biết vùng này đồi núi chập chùng, núi nối liền núi, đồi nối tiếp đồi… nhìn mút mắt.

Theo hình 3, mốc 19 (tức mốc mới số 1118). Hình này được dẫn từ nguồn Việt Nam, có thể là nguồn chính thức từ phía Việt Nam.

Hình 3

Ở đây mốc 19, tức mốc mới 1118, cắm mấp mé dưới chân của một ngọn núi. Không thấy công sự nào của Trung Quốc.

Như thế cột mốc 19, tức mốc mới 1118, trên thực địa đã không cắm đúng như mô tả của biên bản cắm mốc theo công ước Pháp Thanh 1887 (trên đỉnh núi và đối diện với một công sự của Trung Quốc).

Vị trí đúng của mốc 19 với địa hình hôm nay là ở đâu?

Quan sát hình 4,  hình 5, hình 6 và hình 7 dưới đây:

Hình 4. Công sự (đài quan sát) của Trung Quốc trên đỉnh núi.

Hình 5: công sự của Trung Quốc nhìn lại gần.

Hình 6: hình chụp toàn cảnh.

Hình 7

Ta thấy hình 4, 5 và 6 chụp một trái núi, trên đỉnh có công sự của Trung Quốc. Hình 6 cho thấy núi này bị đục thông làm hai đường hầm (tunnel) cao tốc. Cũng tấm hình này ta thấy tấm bia đá đề chữ “nam cương quốc môn đệ nhất lộ”. Lấy tấm bia làm điểm chuẩn, so sánh với cột số ki lô mét zéro ở hình 7, ta thấy cột km zéro ở về phía nam của bia đá. Điều này cho thấy cột km zéro ở về phía nam đối với ngọn núi có công sự trên đỉnh ở các hình 4, 5 và 6. Khoảng cách ước lượng từ cột km zéro đến đỉnh núi khá xa, có thể lên đến 1.000 m. Khoảng cách giữa mốc mới 1118 và đỉnh núi không thấy được trên hình, nhưng ước lượng khoảng 500m. Khoảng cách này phù hợp với lời tố cáo của nhà nước Việt Nam trong tập Những vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc do nhà xuất bản Sự Thật in năm 1979.

Trái núi này đúng là trái núi bên phải cổng Nam Quan theo hình số 1.

Như thế, ước đoán của anh Mai Thái Lĩnh: đường biên giới phải đi qua đỉnh núi là đúng. Vị trí thật của cột mốc 19 phải ở trên đỉnh ngọn núi ở các hình 4, 5 và 6.

Mốc mới 1118, nhà nước cộng sản Việt Nam tuyên truyền là cắm đúng vị trí của mốc 19 cũ, thực ra chỉ cắm trên vị trí bị dời chuyển của mốc 19.

Điều may cho chúng ta là cột mốc dời chuyển, thay đổi được nhưng nội dung các văn bản xác định vị trí cột mốc thì không thể bôi xóa hay thay đổi được. Nhờ văn bản, ta biết mốc 19 cắm trên đỉnh núi, đối diện một công sự.

Các nhà hữu trách Việt Nam hôm nay có bổn phận cắt nghĩa vì sao cột mốc 19, tức mốc 1118, đã không cắm đúng vị trí của nó. Tương tự cho cột mốc 18, cột mốc 53 (Bản Giốc), núi Khấu Mai v.v… Những người này phải chịu trách nhiệm trước quốc dân và lịch sử về những mất mát đất đai của tổ quốc cho ngoại bang.

3. Nghiên cứu bản đồ 249C

Bản đồ 249C

Bản đồ 249C bis

Bản đồ SGI vùng Nam Quan

Trên bản đồ 249C, đồ tuyến chủ trương của Việt Nam là đường đỏ, của Trung Quốc đường xanh, đường thống nhất của hai bên là đường tím.

Bản đồ 249 C bis là bản đồ của tác giả Mai Thái Lĩnh, có tô màu các vùng đất mà tác giả cho là Việt Nam bị mất cho Trung Quốc.

Theo tôi, người ta khó có thể kết luận ai đúng ai sai, ai được ai mất trên bản đồ 249C, nếu không có cái gì đó làm tiêu chuẩn so sánh.

Dựa vào đâu mà mình nói đồ tuyến của Việt Nam đúng, còn đồ tuyến của Trung Quốc thì sai? Nếu phía nào cũng cho là mình đúng thì việc tranh cãi sẽ không có lối thoát. Do đó ta phải có một bản đồ “làm chuẩn, étalonnage”.

Bản đồ có giá trị làm chuẩn được xác định ở điều I của Hiệp ước Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 30 tháng 12 năm 1999. Nguyên văn điều I:

“Hai Bên ký kết lấy các Công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc làm cơ sở, căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận cũng như các thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán về vấn đề biên giới Việt – Trung, đã giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước.”

Công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc là công ước Pháp Thanh 1887. Bộ bản đồ thiết lập theo vị trí các cột mốc của công ước này là bộ bản đồ của sở Địa Dư Đông Dương (SGI) ấn hành.

Các bộ bản đồ SGI, trước 1975 tồn trữ tại nha Địa Dư ở Đà Lạt. Ở Pháp thì hiện tồn trữ ở Trung tâm Văn khố Hải ngoại (CAOM, Aix-En-Provence).

Như thế bộ bản đồ SGI có giá trị làm tiêu chuẩn, cũng như các bản đồ vẽ theo các thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán. Nhưng bộ bản đồ SGI có tỉ lệ là 1/100.000, tức là 1.000m trên thực địa tương ứng với 1cm trên bản đồ. Do đó độ sai số sẽ rất lớn. Vì thế ta cần phải có thêm các biên bản cắm mốc đính kèm bộ bản đồ để việc đo đạc, so sánh được chính xác hơn.

So sánh bản đồ 249C với bản đồ SGI vùng Nam Quan:

Tính từ bên phải Nam Quan, đồ tuyến của Việt Nam (đường màu đỏ), có ít nhất hai điểm sai: 1/ đi qua cột mốc 19 (mà cột mốc này đã được chứng minh là không còn ở vị trí cũ). Do đó đồ tuyến của Việt Nam vùng Nam Quan có khuynh hướng đi từ tây-bắc xuống đông-nam. Trong khi bản đồ SGI, từ mốc 18 qua mốc 19 là từ tây sang đông. 2/ tại cao độ 474, đồ tuyến của Việt Nam đi lệch về phía bắc, đồ tuyến của Trung Quốc lệch xuống phía nam, trong khi đường biên giới, theo nội dung các biên bản cắm mốc, phải đi qua đỉnh 474 (và đi theo đường sống núi hay đường phân thủy). Phía bên trái Nam Quan, đồ tuyến của Việt Nam tương đối phù hợp với bản đồ SGI.

Đồ tuyến (đường màu xanh) của Trung Quốc: Bên phải Nam Quan, từ cột km zéro đường biên giới đi về phía nam, trong khi đường biên giới, theo bản đồ SGI, đi từ một điểm cách cổng Nam Quan 100m (mốc 18) sang hướng đông cho đến đỉnh núi (mốc 19), sau đó theo đường sống núi qua các đỉnh 406, 474, 610. Cột cây số zéro cách cổng Nam Quan, nhắm chừng trên các tấm hình, ít ra là 400m. Về phía trái của Nam Quan, đồ tuyến của Trung Quốc không lên đỉnh núi đá mà nương theo chân núi đá, không qua mốc 17, sau đó lại xuống quá xa về phía nam, lấy mất của Việt Nam vùng núi đá phía trước Đồng Đăng.

Đồ tuyến chính thức (đường màu tím): từ cột km zéro (cách mốc 18 khoảng 300m) qua cột mốc 19 (cắm sai vị trí, lấn xa về phía nam khoảng 400m), sau đó, thay vì đi từ tây sang đông, lại lấn xuống phía nam, tạo thành một vùng trũng (đoạn nối ray), sau đó không qua đỉnh 474 mà lại theo triền phía nam của đỉnh núi này. Như thế tại đỉnh 474, Việt Nam mất ½ trái núi.

Về phía tay trái Nam Quan, thay vì bắt đầu từ mốc 18 cách cổng Nam Quan 100m, lại bắt đầu tại cột km zéro. Như thế Việt Nam bị mất (vùng đất) từ cột km zéro cho đến đỉnh núi, bề rộng 400m, bề dài khoảng 1.000m; sau đó đồ tuyến chuyển hướng về phía nam, lấy trọn của Việt Nam vùng núi phía bắc Đồng Đăng.

Hướng đi đường biên giới, từ cột 18 sang cột 17, 16 v.v… được xác định do biên bản ngày 7-7-1886, nguyên văn tiếng Pháp, tạm dịch sang tiếng Việt như sau:

“… từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Ðồng Ðăng (cột số18, ghi chú tg), đường biên giới theo hướng Tây đi lên đến đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn binh được đánh dấu là điểm A ở trên sơ đồ kèm theo đây, sau đó đường biên giới đi từ điểm này theo đường đỉnh cao của bức tường núi đá nhìn xuống con đường Ðồng Ðăng cho đến điểm B đánh dấu trên sơ đồ (cột số 17). Ðiểm B là điểm mà con đường mòn (đường mòn này là một nhánh rẽ của con đường Ðồng Ðăng đi Nam Quan) dẫn đến làng Lung Ngieu (Lũng Ngọ 隴午, còn viết là Lộng 弄) cắt bức tường núi đá. Ðường biên giới theo con đường mòn cho đến cổng làng Lung Ngieu. Từ cổng, đường biên giới đi lên ngọn rặng núi đá bọc quanh thung lũng làng Lung Ngieu để đi đến điểm C (cột số 16). Từ điểm C đường biên giới đi về hướng Tây cho đến cửa Ki-Da (trên bản đồ ghi Khua Da, có lẽ là Cửa Du, tức ải Du).”

Như thế, kết luận của anh Mai Thái Lĩnh cũng không xa lắm. Trên bản đồ 249C bis, những nơi vạch chéo là những vùng có tranh chấp. Nhưng nơi cần điều chỉnh là: đỉnh 474 Việt Nam chỉ mất ½. Cột km zéro và mốc số 19 không đúng vị trí, vùng đất bị mất vì thế không thấy trên bản đồ.

Nghi vấn khác, cổng Nam Quan, tức Hữu Nghị Quan hiện tại, có phải là Trấn Nam Quan ngày xưa không? Nếu Hữu Nghị Quan dời về phía nam thì Việt Nam bị thiệt hại ở vùng này rất lớn. Người viết sẽ trở lại ở phần dưới.

Riêng về các thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán đã ghi ở điều I hiệp ước 30-12-1999 là các đàm phán nào? Các thỏa thuận này phải chăng là phía Việt Nam chấp nhận vị trí dời đổi của cột km zéro (thay vì cột 18), cột 19 ở dưới chân thay vì trên đỉnh núi v.v… hay những nhưọng bộ ở thác Bản Giốc, vùng Tục Lãm v.v…?

Nếu đúng vậy thì những gì chúng ta hôm nay biết chỉ mới là phần nổi của một băng đảo.

(còn tiếp)

© 2010 Trương Nhân Tuấn

© 2010 talawas

Bình luận

Không có phản hồi (bài “Trương Nhân Tuấn – Vài dòng xin thưa cùng anh Mai Thái Lĩnh về bài viết “Ải Nam Quan trong hiện tại” (phần 1)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...