talawas blog

Chuyên mục:

Trương Nhân Tuấn – Vài dòng xin thưa cùng anh Mai Thái Lĩnh về bài viết “Ải Nam Quan trong hiện tại” (phần 2)

22/03/2010 | 11:00 sáng | 1 phản hồi

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Chính trị - Xã hội, Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: > > >

4. Nam Quan và Hữu Nghị Quan

So sánh các tấm hình 1, 2, 8 và 9.

Hình 8

Hình 9

Ta thấy kiến trúc Nam Quan ở các hình 1, 2, và 8 thì giống nhau: có hai tầng lầu và các cửa sổ hình vuông. Kiến trúc Nam Quan trong 3 hình này là một. Thời điểm được xây dựng từ năm 1883 (lúc tường bị Négrier giật sập) hiện hữu cho đến trước chiến tranh Trung-Nhật 1937.

Trong khi đó ở hình 9 thì kiến trúc Nam Quan có 3 tầng lầu và các cửa sổ hình vòm. Kiến trúc này còn thấy hiện nay.

Trong bài viết từ nhiều năm trước, tôi đã đặt nghi vấn: cổng Nam Quan đã xây đi xây lại nhiều lần nhưng nó có xây trên nền cũ hay là dời đi nơi khác?

Đến nay vẫn chưa thấy dữ kiện nào thuyết phục có thể xác định việc này.

Tấm bia gỗ (hình 10) dưới đây ghi lại lịch sử Nam Quan như sau:

Hình 10

Tấm bia gỗ viết bằng 3 thứ tiếng (Hán, Anh và Việt); nội dung tiếng Việt:

Hữu Nghị Quan xây vào nhà Hán, đến nay đã vào khoảng 2000 năm, đã từng đổi tên 6 lần, tên trước là Ung Kê Quan, sau lại đổi tên Giới Đầu Quan, Đại Nam Quan, đến đầu nhà Minh lại đổi tên Trấn Nam Quan, tháng 1/1953 đổi tên Hữu Nghị Quan. Lầu thành bị chiếm 5 lần trong thời gian chiến tranh chống Pháp và chiến tranh chống Nhật, xây dựng lại hai lần. Thành hiện nay xây dựng lại vào năm 1957, lầu thành có 4 tầng, cao 27m, diện tích chiếm đất khoảng 180m vuông, tầng dưới xây bằng đá hình chữ nhật, môn lầu thành là hình tò vò, cửa tò vò trong cao 10m, dưới rộng 8m, cửa tò vò ngoài quan cao 5,8m, dưới rộng 6,6m, đường đi dài 15,9m. Tầng hai là phòng triển lãm, trong phòng này đều trưng bày các tranh ảnh và thực vật trong chiến tranh Trấn Nam Quan. Tầng 3 là phòng gặp mặt ngoại vụ Trung Việt. Tầng 4 là trưng bày các loại tranh ảnh của cửa khẩu nổi tiếng Trung Quốc. Phía trên ngoài tường thành trên quốc huy nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, cờ đỏ năm sao trên cán cờ tại gác thượng tung bay. Trên cửa lầu thành có lắp vào chữ “Hữu Nghị Quan” viết bằng nguyên soái Trấn Nghĩa làm bằng đá ngọc Hán bạch.”

Như thế, kiến trúc Nam Quan ở hình 9 chỉ mới xây vào năm 1957.

Điều này hợp lý, vì trong chiến tranh Pháp-Nhật và Trung-Nhật, sẽ đề cập ở phần dưới, bắt đầu từ năm 1937, chấm dứt sau khi Nhật đầu hàng 1945. Vùng biên giới Việt Trung đã có những trận chiến khá lớn giữa quân đội Nhật và Hoa hay giữa Nhật và Pháp. Các trận chiến này ít nghe nói tới. Trong các trận đánh này có thể kiến trúc Nam Quan cũ đã bị Nhật đánh sập.

Nhưng nghi vấn vị trí của Nam Quan có thay đổi lúc xây lại hay không thì vẫn không chứng minh được (với các bằng chứng cụ thể, khoa học).

5. Về “lai lịch bất minh của tòa nhà kiểu Pháp”

Xét hai tấm hình 11 và hình 9.

Hình 11

Ta thấy trong hình 9 có bóng tòa nhà ở hình 11. Như thế tòa nhà ở hình 11 được xây trên đất Trung Quốc. Đây cũng là một sự kiện kiện đáng chú ý. Tuy nhiên, có một số chi tiết cần được kiểm chứng hay xét lại.[1]

Xét tấm hình 12 dưới đây, trích từ bài của anh Mai Thái Lĩnh, có nguồn từ tác giả Chân Mây.

Anh Mai Thái Lĩnh so sánh hình 12 và hình 11 như sau: “Bây giờ chúng ta tiếp tục xem xét hai tấm ảnh do Chân Mây sưu tầm. Tác giả chú thích ảnh 30 như sau: “Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng). Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)”. Tòa nhà này rõ ràng là của quân đội Pháp. Ảnh chụp cho thấy tù binh người Pháp người nằm kẻ ngồi trong tư thế bại trận. Những người lính đứng gác là người Nhật. Điều rất dễ nhận ra là hình dáng của tòa nhà này rất giống với Tòa nhà Pháp Quốc nằm ở phía sau Hữu Nghị Quan ngày nay.”

Sau đó anh Mai Thái Lĩnh kết luận: “Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940. Sau này, khi xây lại Hữu Nghị Quan, phía Trung Quốc đã dời cửa quan đến một vị trí khác trên lãnh thổ Việt Nam, vì thế tòa nhà kiểu Pháp lọt vào lãnh thổ Trung Quốc. Và để hợp lý hóa việc một ngôi nhà có kiến trúc kiểu Pháp lại nằm trên lãnh thổ Trung Quốc, các quan chức của Đảng cộng sản Trung Quốc đã bịa đặt ra câu chuyện “Lâu đài Pháp Quốc được xây dựng dưới thời vua Quang Tự”.”

Hình 12

Về cái gọi là “Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng)”,  “Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)” mà anh Mai Thái Lĩnh dẫn từ tác giả Chân Mây thì tôi sẽ trở lại phần sau.

Điều rõ ràng là hai kiến trúc ở hai hình 11 và 12 không giống nhau để kết luận như anh Mai Thái Lĩnh được. Tòa kiến trúc hình 11 xây cất theo lối “loggia”, tức là trụ cột có vòng trang trí, dưới đế và trụ đỡ vòm, chừa ra một hành lang (hàng ba) rộng rãi như hình 13 dưới đây:

Hình 13

Trong khi các trụ cột của hình 12 thì không có trang trí gì hết.

Chỉ khác biệt ở chỗ này đủ để kết luận hai kiến trúc ở hai hình 11 và 12 không thể giống nhau.

Nên biết, hiện nay, không chỉ ở việt Nam, mà nhiều thành phố các tỉnh Hoa Nam vẫn còn rất nhiều kiến trúc Pháp được xây dựng từ thời đầu thế kỷ 20. Vùng Hoa Nam là vùng thuộc ảnh hưởng kinh tế và chính trị của Pháp. Tại Côn Minh (Vân Nam) có nhiều dãy phố cất theo lối Pháp. Tại Long Châu, tòa lãnh sự của Pháp được xây theo lối Pháp. Ở vùng nhượng địa Quảng Châu Loan (bán đáo Quỳnh Châu, Quảng Đông), cả một khu phố lớn được xây cất theo lối Pháp. Ở Thượng Hải, mỗi khu phố là một nét kiến trúc khác nhau, có nơi giống Anh vì là tô giới Anh, có nơi giống Pháp vì thuộc tô giới Pháp v.v…

Ta không thể dựa vào lý do tòa nhà xây theo lối Pháp mà kết luận rằng nhà đó của Pháp.

Về dữ kiện tòa nhà trên hình 12 với ghi chú của tác giả Chân Mây mà anh Mai Thái Lĩnh ghi lại: “Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng) Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)” thì có rất nhiều nghi vấn. Trước hết dựa vào dự kiện nào để cho rằng những người trong hình là “liên quân Pháp-Việt thuộc trường sĩ quan Đồng Đăng”? Và dựa vào đâu để cho rằng những người này “bảo vệ Nam Quan”?

Trước hết, “trường sĩ quan Đồng Đăng”: Đồng Đăng là một huyện nhỏ, nếu không nói là một làng nhỏ gần biên giới, cách Nam Quan 2km5. Dưới thời Pháp thuộc, Đồng Đăng có một đồn binh gồm vài chục lính biên phòng. Đây là một vùng còn rất nghèo của Việt Nam, huê lợi chính ngày xưa là cây hồi (đinh hương). Dân số phần lớn là người dân tộc gốc Tày, Nùng. Về việc đào tạo sĩ quan Pháp, chắc chắn có người rành hơn tôi sẽ lên tiếng góp ý. Nhưng nếu có một trường sĩ quan của Pháp ở Việt Nam, hợp lý thì trường này sẽ ở các nơi an ninh, như Đà Lạt, Nha Trang… Người ta không thể dựng một trường đào tạo sĩ quan, những người chỉ huy tương lai, ở một vùng biên giới cực bắc, đèo heo hút gió, việc tiếp liệu khó khăn, thường xuyên bị thổ phỉ quấy nhiễu.

Để dữ kiện này có giá trị lịch sử và để kết luận trong bài có giá trị thì anh Mai Thái Lĩnh cần phải đưa các tài liệu xác minh việc này.

6. Chiến tranh Pháp Nhật và “liên quân Pháp Việt bảo vệ ải Nam Quan” (sic) trên vùng biên giới Việt Trung

Nếu tôi chưa nghe ai nói đến “trường sĩ quan Đồng Đăng”, thì tôi cũng như chưa hề đọc tài liệu nào nói về liên quân Pháp-Việt “bảo vệ ải Nam Quan”. Để tìm hiểu, sau đây là sơ lược chiến tranh Pháp-Nhật trên biên giới Việt-Trung.

Từ năm 1931 đến 1935 quân Nhật lần hồi xâm nhập vùng phía bắc Trung Hoa, chiếm đóng  Mãn Châu. Đến năm 1937 thì chiến tranh bùng nổ toàn diện. Quân Nhật chiếm Bắc Kinh ngày 29 tháng 7 năm 1937, đến tháng 11 thì chiếm luôn Thượng Hải. Lo ngại quân đội của Trung Hoa được sự trợ giúp từ bên ngoài, như Pháp từ biên giới phía Nam, (vì từ Hải Phòng, Pháp đã mở đường xe lửa đi thẳng đến Vân Nam, thêm một đường đường từ Hải Phòng đi Lạng Sơn), do đó phía Nhật tìm cách chặn con đường tiếp viện này. Những vận động ban đầu là chính trị – ngoại giao, vì Nhật vẫn e ngại sức mạnh quân sự của Pháp. Vì thế, từ 1937 đến tháng 6-1940, kết quả của Nhật vẫn không đến đâu. Quân đội Trung Hoa vùng Hoa Nam, nhờ được trợ giúp từ bên ngoài, nên quân Nhật gặp nhiều kháng cự mãnh liệt. Nhưng sau khi Pháp thua Đức tháng 6 năm 1940, Nhật bắt đầu gây sức ép, quân sự và ngoại giao, buộc Pháp nhượng bộ các đòi hỏi của họ: Đó là đóng cửa biên giới với các tỉnh Hoa Nam, cho Nhật sử dụng các phi trường ở miền bắc, chấp thuận cho quân Nhật vào Bắc Kỳ để làm cầu tiếp viện cho đạo quân đã đổ bộ trước đó tiến chiếm và bình định Vân Nam và Quảng Tây. Nhưng ý đồ của Nhật là hất chân Pháp ra khỏi Đông Dương.

Tháng 6 năm 1940, vừa khi Pháp đầu hàng Đức, đạo quân Nhật có mục tiêu xâm chiếm Vân Nam và Quảng Tây, có mặt tại vùng biên giới Việt-Trung. Đạo quân này đổ bộ lên Pakhoi vào tháng 12 năm 1939, chiếm đóng Nam Ninh và tiến dần sang phía tây bằng những con đường bảo hộ dọc theo biên giới. Đạo quân này có mặt tại đây một mặt để chặn tiếp việc của quân Hoa Nam đến từ phía Hải Phòng. Nhưng cũng nhằm để tấn công, hất chân Pháp ra khỏi Đông Dương.

Toàn quyền Đông Dương lúc đó là tướng Catroux. Vì muốn giữ quyền lợi của Pháp tại Đông Dương, ông yêu cầu Anh và Hoa Kỳ giúp để chống lại áp lực của Nhật. Nhưng yêu cầu giúp đỡ của ông này với Anh và Hoa Kỳ đều không có kết quả. Anh muốn tập trung lực lượng sang Châu Phi. Hoa Kỳ từ chối vì vẫn còn giữ thái độ trung lập. Do đó Catroux bắt đầu nhượng bộ các đòi hỏi của Nhật. Ngày 20 tháng 7 Catroux trao quyền Toàn quyền Đông Dương cho đô đốc Decoux (và đi theo lực lượng kháng chiến của Charles De Gaulle). Ngày 2 tháng 8, Decoux buộc phải cho phép quân đội Nhật được quyền đi qua Bắc Kỳ, đồng thời nhượng quyền sử dụng các sân bay ở các tỉnh miền Bắc. Đến ngày 30 tháng 8 thì một thỏa ước giữa Pháp và Nhật được ký kết, trong đó có khoản Nhật phải cam kết tôn trọng các quyền lợi của Pháp tại Viễn Đông. Ngược lại, Pháp đồng ý cho Nhật những dễ dàng ngoại lệ và tạm thời về an ninh quân đội (l’ordre militaire) tại Bắc Kỳ. Nhưng vì Pháp muốn kéo dài thời gian, nên dùng dằng về phương cách đổ quân và sử dụng các phi trường. Ngày 3 tháng 9 hội nghị giữa tướng Martin, chỉ huy trưởng quân đội viễn chinh, với tướng Nichihara, chỉ huy tối cao quân Nhật tại Đông Dương để bàn các việc này. Nhưng việc thương lượng kéo dài làm mất kiên nhẫn tướng lãnh ở trận mạc. Đạo quân Nhật ở Quảng Tây do tướng Ando cầm đầu, ngày 6 tháng 9, dàn quân dọa nạt quân Pháp tại Lạng Sơn làm áp lực. Nhưng cũng có thể mục tiêu của Nhật là đánh giằn mặt nếu Pháp không chịu nhượng bộ hay nhường chỗ cho Nhật vào Đông Dương. Đạo quân thứ 5 của tướng Nakamura bắt đầu ra tay tấn công. Ông dàn quân trên một mặt trận dài 70 km, từ Chí Mã đến Na Cham. Trong đêm 22 tháng 9 quân Nhật đồng loại tấn công các đồn Đồng Đăng, Chí Mã, Lộc Bình, Thất Khê, Na Cham… Ngoại trừ đồn Na Cham, tất cả các đồn còn lại đều bị thua trước quân Nhật.  Lạng Sơn như thế bị đe dọa nặng nề. Đêm 24 quân Nhật đã vào Lạng Sơn. Sáng ngày 25 Kỳ Lừa, ở đối diện cửa bắc thành Lạng Sơn, bị  pháo kích dữ dội. Cuối cùng lúc 16 giờ 30, quân Pháp ở Lạng Sơn đầu hàng. Cuộc chiến biên giới Phật-Pháp chấm dứt sau 3 ngày ác chiến, gây cho Pháp tổn thất nặng nề.

Về mặt trận phía biển, do quân Nhật còn nghi kỵ, sợ quân Pháp giở trò, mặc dầu đã ký hiệp ước cho phép quân Nhật đổ bộ lên Hải Phòng, nhưng quân Nhật quyết định đổ bộ lên Đồ Sơn với sự yểm trợ của không quân. Các cuộc dội bom đã gây tổn thất lớn trong dân chúng. Cuối cùng đạo quân của tướng Ando gồm 30.000 người đổ vào Bắc Kỳ cùng với quân trang, quân dụng, xe tăng, đại bác. Phải mất 30 ngày mới ổn định xong việc đổ quân của đạo quân này.

Trở lại vấn đề, ta thấy, quân Pháp không “bảo vệ Nam Quan” như tác giả Chân Mây viết mà tác giả Mai Thái Lĩnh dẫn. Quân Pháp đã không bảo vệ được chính họ, bảo vệ được đất của họ bảo hộ, từ các mặt trận trải dài 70 km trên biên giới, các đồn Chí Mã, Đồng Đăng, Thất Khê, Bảo Lộc… đều bị quân Nhật pháo kích nát tan, quân lính phải rút về Lạng Sơn. Rốt cục quân Pháp tại Lạng Sơn cũng phải buông súng vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 25 tháng 9.

Trong khi đó Nam Quan là của người Hoa, xây trên đất Trung Hoa. Lý do nào mà Pháp phải “bảo vệ Nam Quan” cho người Trung Hoa?

Tôi nghĩ rằng, tấm hình số 12 là tấm hình chụp quân Pháp buông súng tại Lạng Sơn. Chỉ có ở Lạng Sơn là địa điểm duy nhất quân Pháp phải bỏ súng trước quân Nhật. Tòa kiến trúc trong tấm hình này có thể là đồn binh nơi quân Pháp đóng quân.

Như thế, muốn sự kiện “liên quân Pháp-Việt bảo vệ Nam Quan” trở thành một sự kiện lịch sử, để kết luận trong bài có giá trị, anh Mai Thái Lĩnh cũng cần đưa các bằng chứng xác minh việc này.

6. Kết luận

Chắc chắn việc mất đất cho Trung Quốc là việc có thật. Mọi người đều phẫn nộ. Trước sự hèn hạ quá lố của nhà cầm quyền hiện nay đối với Trung Quốc, như không có phản ứng nào trước các hành động hung hăng của hải quân Trung Quốc ở biển Đông, lại còn cho phép Trung Quốc vào khai thác bô-xít trên vùng Tây Nguyên, cho phép các công ty người Hoa mướn rừng trên những vùng biên giới, bất chấp nguy cơ nước mất nhà tan. Trong khi đó nhà nước này lại đàn áp dã man những trí thức yêu nước như Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức v.v… bằng những bản án chỉ có vào thời phong kiến hay ở các xứ mọi rợ… thử hỏi người trí thức nào có chút lương tâm lại không phẫn hận, lên án? Nhưng khi ta nổi nóng với cái chế độ hèn hạ này, viết những bài lên án bằng những bằng chứng không kiểm chứng được hay bằng chứng sai, thì ta lọt vào bẫy của họ. Mục tiêu của các nhà cầm quyền hung bạo là làm mất uy tín hay hề hóa những người chống họ. Họ muốn làm cho tiếng nói của những người chống họ không còn được sự tin tưởng nơi người dân. (Không tính đến việc phía Trung Quốc cũng muốn hạ uy tín của các học giả người Việt). Một người bị mất uy tín thì nói ra không còn ai tin. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên thận trọng các nguồn tin trên internet. Đây là một môi trường tốt để kẻ xấu tung tin theo lối nhiễu loạn thông tin. Nếu không cẩn thận kiểm chứng thì ta sẽ sa vào cạm bẫy của họ.

© 2010 Trương Nhân Tuấn

© 2010 talawas


[1] Về trích dẫn từ trang www.sinoviet.com: “Năm Quang Tự đời Thanh, tri phủ Thái Bình Cam Nhữ Lai tái dựng lại lầu ải bằng một kiến trúc lâu đài kiểu Pháp (Pháp Quốc Lầu), dỡ bỏ Miếu Quan Đế và Đền Chiêu Trung. Sau này tuy có tiến hành nhiều lần tu bổ, nhưng vẫn giữ nguyên mạo diện Pháp Quốc Lầu. Trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, thành lầu lại bị phá hủy, nay chỉ còn lại tầng dưới tức là cổng thành hình vòm.”

Theo tôi, chúng ta không nên dẫn những nguồn không kiểm chứng được. Nguồn dẫn trên là một nguồn không thể kiểm chứng. Dữ kiện đưa ra có nhiều điểm sai ấu trĩ mà mọi người đều biết như nhân vật Cam Nhữ Lai. Làm thế nào ông Cam Nhữ Lai một đại thần nhà Minh triều Ung Chính, làm án sát tỉnh Quảng Tây, người sửa chữa cổng Nam Quan năm 1725, lại tái sinh vào làm quan lại thời Quang Tự nhà Thanh? Họ đưa những nguồn tin sai lạc này ra để làm chi?

Bình luận

1 phản hồi (bài “Trương Nhân Tuấn – Vài dòng xin thưa cùng anh Mai Thái Lĩnh về bài viết “Ải Nam Quan trong hiện tại” (phần 2)”)

  1. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tôi có một vài sơ suất trong bài viết, xin bổ túc thêm như sau :
    1/Đoạn viết : « Theo biên bản 21-4-1891 (hình biên bản 1), cắm mốc từ ải Chí Mã đến Trấn Nam Quan (tức cắm từ đông sang tây), cột mốc số 19 là cột mang số tạm 24 (cột 18 tại Nam Quan mang số 25), vị trí cột mốc được xác định nguyên văn tiếng Pháp như sau: “Sur le sommet en face du fort chinois Kouei Tao (3 chữ Hán là Khôn Long Lĩnh).” Tạm dịch tiếng Việt: cắm trên đỉnh, đối diện với một công sự Trung Hoa tên Kouei Tao (Khôn Long Lĩnh). »
    Trong đoạn : « Sur le sommet placée en face du fort chinois Kouei Tao (3 chữ Hán là Khôn Long Lĩnh) » ở trên viết thiếu chữ « placée ».
    2/ Thiếu phần chú thích :
    Chú thích :
    Các tấm hình 1, 2 và 8 : hiện nay phổ biến rộng rãi trên internet. Nguồn nguyên thủy những tấm hình này là các văn khố, các thư viện, các tuyển tập cá nhân… Pháp (hay các nước khác).
    Các tấm hình biên bản 1 và hình bản đồ SGI : nguồn từ Trung Tâm Văn Khố Hải Ngoại Pháp (CAOM), hồ sơ phân định biên giới 1885-1887 do tác giả sưu tập.
    Các tấm hình 4, 5, 6, 9, 10 : Nguồn từ nhà báo Nguyễn Huy Minh (báo Thể Thao & Văn Hóa) nhân dịp làm phóng sự về buổi lễ «kết thúc phân trình cắm mốc biên giới Việt Nam–Trung Quốc» tổ chức tại Hữu Nghị Quan ngày 23-2-2009.
    Hình bản đồ 249C : nguồn dẫn từ ông Nguyễn Ngọc Giao
    Các tấm hình 3, 7, 11 và 12 : dẫn từ bài « Ải Nam Quan trong hiện tại » của tác giả Mai Thái Lĩnh.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...