talawas blog

Chuyên mục:

Heinz Schütte – Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954-1960 (7)

04/04/2010 | 1:00 chiều | Chức năng bình luận bị tắt ở Heinz Schütte – Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954-1960 (7)

Tác giả: Heinz Schütte

Category: Hồ sơ Nhân văn - Giai phẩm
Thẻ: > >

Bản dịch của talawas

7. Giai phẩm

Điều gì đã xảy ra trong giới văn nghệ sĩ và trí thức Hà Nội thời gian này? Như tôi đã nói, tạp chí Giai phẩm mùa Xuân do Hoàng Cầm chủ trương đã được xuất bản nhân dịp Tết nguyên đán tháng 3 năm 1956. Trong số báo này, các tác giả đã không viện dẫn đến Liên Xô hay Trung Quốc, mà họ chọn Trường Chinh, nhà tư tưởng hàng đầu của Đảng, bằng việc trích dẫn báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” năm 1948, trong đó Trường Chinh viết: “Không có phê bình, không có luận chiến, phong trào văn nghệ nước ta êm đềm quá, trầm mặc quá… Phê bình với thái độ phụ trách, với ý định chân thành, với lời lẽ khiêm tốn thì chẳng những không có hại mà còn giúp cho nhau thêm tiến bộ và hiểu nhau thêm. Xuất phát từ đoàn kết mà phê bình để tăng cường đoàn kết, như thế mới thật là đoàn kết chân chính.” Điều này thì giới văn nghệ đồng ý. Nhưng đây mới là điều Trường Chinh thực sự muốn nói: “Phê bình chúng tôi đề nghị đây là phê bình đúng nguyên tắc, phê bình trong kỉ luật dân chủ, không phải ‘tự do phê bình’. Có thể có những kẻ mang tâm mượn phê bình để gieo rắc sự chia rẽ, nghi ngờ trong hàng ngũ dân tộc, để cung cấp tài liệu cho địch hại ta. Những kẻ đó không phải là phê bình mà là quấy rối, không phải thật tâm cầu tiến bộ mà là khiêu khích. Địa vị của chúng không ở trên đàn ngôn luận của một nước dân chủ, mà phải ở trong nhà tù của chính quyền nhân dân.[1] Định nghĩa của Trường Chinh về phê bình” như vậy là hết sức rõ ràng, và cũng rõ ràng như vậy là số phận của tất cả những ai không chấp nhận định nghĩa đó.

Các văn nghệ sĩ của Giai phẩm mùa Xuân hồi đó đều là thành viên của một cơ quan hay tổ chức chính thống, như Phòng Văn nghệ Quân đội, Hội Văn học Nghệ thuật hay ban biên tập của một tờ báo nào đó. Có thể nói rằng, hầu hết họ đều đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp, trừ vài người tập kết ra Bắc theo Hiệp định Genève. Các tác giả của Giai phẩm đều khao khát chống công thức, tìm cái mới, nói tiếng nói chân thực của văn nghệ sĩ[2]. Đặc biệt có hai bài thơ trong tập này gây phẫn nộ cho giới lãnh đạo văn nghệ. Một là bài “Mới” của Lê Đạt với những câu như:

Những kiếp người sống lâu trăm tuổi

Y như một chiếc bình vôi

Càng sống càng tồi

Càng sống càng bé lại[3]

Trong Giai phẩm mùa Thu 1956, tập II, nhà giáo, nhà Hán học, nhà báo kiêm nhà hoạt động chính trị Phan Khôi (1887-1960)[4], trong bài xã luận “Ông bình vôi” đã giải thích bài thơ của Lê Đạt, đại ý, cái bình vôi thường dùng để ăn trầu, dùng lâu ngày thì trong lòng nó sẽ đầy cặn, còn miệng nó sẽ tum húm lại. “Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày,… cũng như pho tượng đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng ông.” Và điều đó có nghĩa là Lê Đạt đã cả gan tấn công vào các bậc tiền bối, các đồng chí đàn anh trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng. Nhà thơ Xuân Diệu, người được “cách mạng tái sinh”, đã quật lại Lê Đạt như sau: “Được sự giáo dục của Đảng, những con người cũ trong chúng ta càng ngày càng bé lại thật, cố gắng thu hẹp cái cá nhân chủ nghĩa của mình càng nhỏ càng tốt, để cho con người mới, con người tập thể càng lớn mạnh lên: đó là điều đáng vui mừng của chúng ta![5] Khi Phan Khôi phê bình tập thơ được trao giải văn học năm 1954-55, tập Ngôi sao của Xuân Diệu, là có những câu “bí hiểm không hiểu nghĩa được”, thì bị một người trong Ban Tuyên giáo cãi lại:  thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao? Và Phan Khôi đã bật ra câu này: “Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng, chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu…”.[6] Đây chính là điểm chia rẽ, dẫn tới một trường hỗn loạn các cuộc cãi vã với những quan điểm không còn dung hòa được với nhau.

Bài thơ thứ hai gây phẫn nộ là bài “Nhất định thắng” của Trần Dần, một bài thơ dài hơn 500 câu chịu ảnh hưởng phong cách của Maiakovsky. Giới lãnh đạo văn nghệ thấy đây là một tác phẩm “phản động một cách tinh vi[7]. Bài thơ kể về cuộc sống và tình yêu của một cặp vợ chồng trẻ trong cái mùa đông mưa tầm tã ở Hà Nội năm đầu tiên sau chiến tranh, về sự chật trội, khốn khó của đời sống vật chất, về tương lai bất định và về cuộc di cư của hàng vạn người vào Nam để chạy chốn cái nghèo – những chủ đề cấm kị của một chế độ mới đang trên đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Những ngày ấy bao nhiêu thương xót

Tôi bước đi

Không thấy phố

không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa

trên màu cờ đỏ.

Những hình ảnh đau xót được thay thế bằng đòi hỏi:

Đất nước khó khăn này

Sao không thấm được vào Thơ?

….

Tôi ước ao tất cả mọi người ta

Đòi thống nhất phải đòi từ việc nhỏ

– từ cái ăn


cái ngủ

chuyện riêng tư

– từ suy nghĩ

nựng con

và tán vợ…

Trần Dần đã không khắc họa những hình ảnh công nông binh anh hùng như bộ máy tuyên truyền đòi hỏi, bởi vì: “Những câu hỏi đi giữa đời chỏng ngỏng/ Ôi! Xưa nay người vẫn thiếu tin Người/ Người vẫn kinh hoàng trước Tương Lai[8]. Trần Dần nói về quân đội anh hùng, về cuộc đấu tranh thống nhất, về niềm tin vào chính nghĩa của miền Bắc, nhưng: “… tôi cúi mặt trước đèn?/ Gian nhà vắng chuột đêm nó rúc./ Bao nhiêu lo lắng hiện hình ra./ Hừ! Chúng đã biến thành tảng đá// chặn đường ta! Em ơi thế ra/ Người tin tưởng nhất như anh// vẫn có những phút giây ngờ vực.” Hệ quả là, trong một cuộc họp của Ban Thường vụ Hội Văn học và Nghệ thuật tháng 2.1956, bài thơ đã bị đem ra phê phán và báo Văn học của Hội được lệnh phải vạch trần tính chất phản động của bài thơ cũng như con người Trần Dần. Trước đó, cuối tháng 1.1956, tạp chí Giai phẩm đã bị tịch thu.[9]

Ở Hà Nội tôi được nghe kể, hồi đó Trần Dần đang được cử đi tham quan cải cách ruộng đất ở nông thôn nên không hay biết về việc in bài thơ. Vào một ngày tháng 2 năm 1956, Trần Dần cùng Tử Phác bị bắt và đưa lên một chiếc xe nhà binh, vì “vi phạm kỉ luật quân đội” (ra khỏi trại ban đêm không có giấy phép)[10]. Hồi đó Trần Dần sống cùng một cô gái tiểu tư sản theo đạo Thiên chúa (vì vậy cô gái bị cáo buộc là gián điệp) tại ngôi nhà nhỏ ở phố Sinh Từ[11], và điều này bị xem như một sự phản bội giai cấp[12], nhất là với một người vừa là đảng viên vừa là quân nhân như Trần Dần. Để thoát khỏi hầm giam nằm sâu dưới lòng đất, nhà thơ nhanh trí đã giả vờ tự tử bằng cách cứa dao lam vào cổ, khiến giới lãnh đạo Đảng và quân đội bị một phen bối rối. Trong thời gian bị cấm trại, Trần Dần đã phải viết kiểm thảo. Các cán bộ lãnh đạo tư tưởng-văn hóa muốn chỉ ra những nhận thức lệch lạc của Trần Dần và kéo ông về khối những người tin tưởng. Một mặt giới lãnh đạo không muốn mất thể diện (bởi nếu không thì chẳng khác gì họ chấp nhận sự nghi ngờ vào quyền lực của họ), mặt khác Trần Dần là một công cụ tuyên truyền đáng giá cho công cuộc giải phóng miền Nam và củng cố miền Bắc.

Nguyễn Đình Thi (cũng như Huy Cận) là người không bao giờ muốn từ bỏ niềm tin vào sứ mệnh của mình trong việc xây dựng một xã hội mới với những con người mới. Là một nhà thơ gốc tiểu sư sản, Nguyễn Đình Thi đã tìm thấy địa vị của mình ở chủ nghĩa xã hội và ông được Đảng – lương tâm của thời đại – ủng hộ về tinh thần. Suốt đời mình, Nguyễn Đình Thi luôn là người bạn trung thành của quyền lực. Ông không vòng vo, mà đi thẳng vào vấn đề: “Văn nghệ phải xây dựng được ý thức mới, tâm hồn mới cho nhân dân ta, theo phương hướng chủ nghĩa yêu nước và lý tưởng xã hội chủ nghĩa[13]. Văn nghệ sĩ dù ở vị trí nào cũng đều phải là cánh tay nối dài của Đảng, là những người góp phần xây dựng mục tiêu thần thánh của Đảng và chịu trách nhiệm trước Đảng. Song điều đó cũng có nghĩa rằng Đảng cũng chờ đợi sự tham dự của văn nghệ sĩ vào dự án của mình, vì như chúng ta đã thấy, văn nghệ sĩ được Đảng xem như những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (bên cạnh các mặt trận kinh tế, chính trị và quân sự). Chính điều đó đã cho phép các văn nghệ sĩ một không gian nhất định để đàm phán. Và lúc này họ vẫn quyết tâm tận dụng triệt để không gian này.

Giai phẩm là cuộc tấn công công khai đầu tiên của giới trí thức văn nghệ sĩ vào đường lối lãnh đạo công thức cứng nhắc của Đảng, và Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô đã tiếp cho họ thêm sức mạnh. Một ngày tháng 3 năm 2002, Nguyễn Đình Thi đã kể với tôi rằng, thời gian ngắn sau khi trở về từ Moskva, Trường Chinh có nói với ông thế này: “Mấy người làm Giai phẩm mùa Xuân thực ra đều là anh em kháng chiến mình cả. Cậu thấy ở Hà Nội này, cứ vào mấy hiệu sách mà xem, còn đầy sách của đế quốc đấy, đầy sách chống cộng đấy, vậy mà người ta có làm gì đâu. Lại đi thu cái tạp chí của anh em quân ta. Phải thay đổi gấp thôi.”[14] Và nhà văn Nguyễn Tuân, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật, thời gian này cũng công khai tự phê bình: “Anh em văn nghệ không muốn quay lưng lại Đảng, họ thừa nhận Đảng đã cho họ hướng đi, họ chỉ mong có tự do trong nghệ thuật. Câu hỏi quan yếu nhất lúc này là liệu văn nghệ có được phép phát huy tất cả khả năng của mình hay không?”[15] Việc câu hỏi của Nguyễn Tuân sẽ nhận được câu trả lời tích cực, và phê bình lãnh đạo văn nghệ là được phép, là điều mà phần đông văn nghệ sĩ đã không còn nghi ngờ nữa, bởi vì “sau khi những sai lầm đẫm máu của Stalin bị vạch trần, sau những bi kịch trong cải cách ruộng đất và trong các cuộc thanh trừng của Đảng, tình hình đã thay đổi nhanh chóng”.[16] Giai phẩm ra liền hai số, số mùaThu tập 1 và số mùa Thu tập 2. Tiếp đó, Giai phẩm mùa Xuân cũng được tái bản. Theo đề nghị của Nguyễn Đình Thi, tất cả văn nghệ sĩ đều được triệu tập tham gia lớp học 18 ngày do Hội Văn nghệ tổ chức từ 1 đến 18.8.1956 để học tập các quan điểm của Marx về dân chủ trong văn nghệ và tiến hành việc tự phê bình.[17] Lớp học này đánh dấu một bước ngoặt. Các bên tranh luận gay gắt. Đường lối lãnh đạo của Đảng và quan điểm của văn nghệ sĩ đối nghịch với nhau chan chát. Đối với các cán bộ văn nghệ thì thơ ca không phải là việc riêng tư mà là việc chung; thơ ca cần có tính phục vụ thay vì chỉ biểu lộ cảm xúc[18]. Trong một bài đăng trên Nhân văn số 3, họa sĩ Sĩ Ngọc viết rằng, những người viết Nhân văn-Giai phẩm bị gán cho danh hiệu “bất mãn” với cuộc sống khó khăn ở miền Bắc, và từ bất mãn đã nảy sinh phản ứng giai cấp. Đây là một sự kết án hết sức nặng nề, bởi những kẻ “bất mãn” thường được hiểu là chống cách mạng. Sĩ Ngọc lật ngược lại, bằng cách quy kết giới lãnh đạo là “những đứa con của phong kiến, đế quốc”, những kẻ quen dùng những luận điệu cũ là di chứng của thời thiếu dân chủ trước đây để kết tội những người dám phê bình mình là bất mãn. Sĩ Ngọc viết rằng, nếu những người Nhân văn sai thì quần chúng sẽ có đủ sáng suốt để nhận định. Trong khi giới lãnh đạo lại tìm cách bịt miệng những người phê bình mình, như thế là khinh thường quần chúng, hoặc sợ quần chúng sáng suốt mà biết sự thật. Vì vậy lúc này, lãnh đạo muốn giữ uy tín thì cần phải tự phê bình thành khẩn. Sĩ Ngọc cho rằng những sai lầm trong cải cách ruộng đất và những sai lầm trong chính sách văn nghệ và trí thức là rất nặng nề, và tất nhiên là giới văn nghệ sĩ bất mãn với những sai lầm này, những sai lầm làm tổn hại và kìm hãm văn hóa văn nghệ. Ông viết: “Bất mãn với những cái sai lầm là chính đáng. Chỉ có kẻ nào thỏa mãn với cái sai kẻ ấy mới là kẻ có tội.[19] Sĩ Ngọc chống lại các cán bộ văn nghệ chỉ biết quan tâm lợi ích của mình.

Hội nghị Trung ương lần thứ 10 của Đảng Lao động Việt Nam đã tạo ra một “không khí dân chủ”[20], vì vậy trong lớp học 18 ngày đáng nhớ đó, công tác trao giải thưởng văn học 1954-55, đặc biệt tập thơ Ngôi sao được trao giải Nhì của Xuân Diệu, bị phê phán gay gắt. Tờ Văn nghệ của Hội Văn học và Nghệ thuật đã mở ra cuộc tranh luận bằng những bài tự phê bình của các lãnh đạo văn nghệ.[21] Trong khoảng thời gian từ tháng 8.1956 tới đầu năm 1957 đã xuất hiện một loạt các tờ báo đầy tinh thần hứng khởi như Đất mới của Hội Sinh viên, Trăm hoa của Nguyễn Bính[22], và những tờ khác như Nói thật, Tập san phê bình… Ngay cả những tờ báo chính thống như Nhân dân của Đảng hay Cứu quốc của Mặt trận Tổ quốc cũng không cưỡng được làn sóng tự do bày tỏ ý kiến và tự do thảo luận về các chủ đề như chính sách văn hóa, vai trò của trí thức trong chủ nghĩa xã hội và tự do dân chủ. Thậm chí những sinh viên và học sinh nôn nóng còn muốn xuống đường biểu tình, nhưng do một dịch cúm[23] bùng phát, các trường phổ thông và đại học ở Hà Nội đã bị đóng cửa ngày 2.5.1957.

Bà xã luận “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” của Phan Khôi đăng trên Giai phẩm mùa Thu tháng 9.1956[24] phản ánh không khí ngột ngạt của đời sống trí thức văn nghệ sĩ hồi đó và phản ứng của họ với Đảng và các cơ quan lãnh đạo văn nghệ. Phan Khôi viết trên cương vị một nguời đã tham gia kháng chiến, người không nghi ngờ gì vào tính chính đáng của chế độ sau cuộc đấu tranh dài gian khổ giành độc lập. Đối với Phan Khôi thì chế độ miền Bắc đương nhiên là chế độ tốt. Tuy nhiên ông muốn xóa bỏ lối lãnh đạo mệnh lệnh trong văn hóa, kìm hãm tư tưởng, những lề lối hình thành trong những năm cuối của cuộc kháng chiến. Nhà văn lão thành này đòi hỏi phải có phê bình – không chỉ phê bình nội bộ – mà phê bình công khai. Ông viết: “Tôi muốn nói sự thực. Nhưng có người bảo rằng ‘có những cái sự thực không nên nói’. Tôi không tin. Đó là ở dưới chế độ nào kia, chứ ở dưới chế độ của chúng ta, đã lấy phê bình, tự phê bình làm võ khí, thì còn có cái sự thực nào là cái sự thực không nên nói?”. Về việc phê bình có thể bị địch xuyên tạc, ông nói: “Cái thời kì ‘đóng cửa dạy nhau’ đã qua rồi, ngày nay chính là ngày có mâu thuẫn gì giữa nội bộ cần phải giải quyết trước mặt quần chúng nhân dân, không nhờ ánh sáng của quần chúng nhân dân soi rõ cho, thì không thể giải quyết nổi… Còn như sợ ‘bên địch xuyên tạc’ thì chỉ là cái cớ mượn để mà giấu kín im ỉm. Bên địch hà tất đợi đến có cái gì mới xuyên tạc?… Đã là bên địch thì nó cứ dựng đứng chuyện lên…”.[25] Ông nhấn mạnh rằng không ai đòi hỏi tự do bừa bãi cả, mà nguời ta chỉ yêu cầu được tự do trong nghệ thuật. Bởi vì, “phần nghệ thuật nầy là phần riêng của văn nghệ, chính trị không bao biện được…”.[26]

Theo Phan Khôi, chính đường lối văn nghệ của miền Bắc sau khi hòa bình lập lại là lý do dẫn tới sự ra đời của Giai phẩm, mà trong đó các tác giả thể hiện sự bất bình với lãnh đạo. Ông đề cập đến trường hợp Trần Dần bị “hỏi tội” tại trụ sở Hội Văn nghệ vì trong bài thơ “Nhất định thắng” đã dám sử dụng chữ “Người” viết hoa, chữ lâu nay vốn chỉ để xưng Hồ Chủ tịch. “Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao”, Phan Khôi viết, “chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ”.[27]

(Còn tiếp)

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] Trường Chinh 1994, tr.271.

[2] PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.022.

[3] Xem Hoàng Văn Chí 1964, tr.236; tham khảo thêm Hoang Giang 1987, tr.12.

[4] Xem Jamieson 1995, tr.109/11. Ông ngoại Phan Khôi là Tổng đốc Hoàng Diệu, người đã treo cổ tự vẫn khi Hà Nội thất thủ. Bản thân Phan Khôi từng bị tù 9 năm ở Côn Đảo.

[5] Xem Jamieson 1995, tr.265; tham khảo Hoàng Văn Chí 1964, tr.237.

[6] Tóm tắt bài xã luận “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” của Phan Khôi, Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr. 015.

[7] Về tình hình văn hóa (Zur kulturellen Situation), Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.023.

[8] Từ: Giai phẩm mùa Xuân, 1956, Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.007-011.

[9] Về tình hình văn hóa (Zur kulturellen Situation), Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420.

[10] Đại sứ Pfützner, Hà Nội, tháng 11.1956, Phong trào đối kháng của văn nghệ sĩ chống đường lối của Đảng Lao động về công tác văn nghệ, tại PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.032. Theo nhiều nguồn tin của các trí thức ly khai còn sống ở Hà Nội thì Tố Hữu đã ra lệnh cho Văn Phác, Trưởng Phòng Văn nghệ quân đội, bắt Trần Dần. Lệnh của Tố Hữu được đưa ra trong một cuộc họp lãnh đạo văn nghệ để bàn về tập Giai phẩm, trong đó nhà thơ Chế Lan Viên là người đã mở màn châm ngòi cuộc tấn công Trần Dần.

[11] Nay là số 6 Nguyễn Khuyến.

[12] Trung úy Hoàng Cầm cũng bị quân đội ép phải bỏ người vợ mà ông kết hôn năm 1956, bởi cô này bị coi là “tư sản” và đã ở lại Hà Nội trong kháng chiến, nơi cô làm công việc y tá. Vì vậy Hoàng Cầm đã ra khỏi quân đội. Trò chuyện với Hoàng Cầm ở Hà Nội 23.11.1948.

[13] Báo cáo nhân danh Ban chấp hành Hội Văn nghệ tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 2, ngày 28.2.1957, trích theo Tongas 1960, tr.336.

[14] Trò chuyện với Nguyễn Đình Thi ở Hà Nội 26.3.2002.

[15] Nguyễn Tuân, tại: Về tình hình văn hóa (Zur kulturellen Situation), Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr.018. Thậm chí Tố Hữu, người cứng rắn nhất trong những người cứng rắn, dưới ảnh hưởng của Đại hội 20 cũng trở nên hoang mang, khi ông tuyên bố: “… thời gian qua đã có những sai lầm nghiêm trọng phải sửa đổi trong công tác văn nghệ và trí thức. Tất cả những sai lầm đã xảy ra đều là do định hướng yếu kém về tư tưởng.” Nt, tr.020.

[16] Boudarel 1990, tr.160-161. Tham khảo thêm: Kommuniqué der vietnamesischen Regierung zur innenpolitischen Lage in der DRV – 1956, tại: PolA, AA, MfAA/A 11621.

[17] Trò chuyện với Nguyễn Đình Thi ở Hà Nội 26.3.2002. Nguyễn Đình Thi cho biết, trong lớp học này, người ta đã sử dụng bản dịch Marx ra tiếng Pháp của Jean Fréville tại Éditions sociales francaises.

[18] Jamieson 1995, tr.270.

[19] Sĩ Ngọc, Nhân văn số 3, 15.10.1956, tại: NAA, A 463/17, tr. 23-25.

[20] “Ví dụ đầu tiên là các đại biểu quốc hội tại Đại hội 3 ở Hà Nội đã phê bình hoàn toàn tự do về tình hình thành phố và thảo luận về các giải pháp. Đây thật sự là điều mới mẻ trong đời sống chính trị.” Về tình hình văn hóa (Zur kulturellen Situation), Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr. 023.

[21] Tự phê bình của Ban thường trực Hội Văn nghệ Việt Nam được công bố ngày 2.10.1956. Tham khảo: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr. 020-021.

[22] Theo nhiều nhân chứng kể lại thì Nguyễn Bính –  “một người gần như mù chữ, vô chính phủ, một nhà thơ thứ thiệt” – được Ủy ban Tuyên giáo của Đảng ứng tiền để ra báo chống lại Nhân văn – nhưng, vì là “một nghệ sĩ đích thực” nên chẳng bao lâu tờ báo của Nguyễn Bính cũng nhanh chóng trở nên gai góc.

[23] Có dịch cúm xảy ra thật và nó đã được lợi dụng. Thao khảo: Tongas 1960, tr.313.

[24] Theo lời nói đầu của Nhà xuất bản Minh Đức thì Giai phẩm mùa Thu được ấn hành để: “góp phần vào việc chuẩn bị Đại hội Văn nghệ toàn quốc, để phát huy và đẩy mạnh tự do sáng tác văn nghệ theo phương châm trăm hoa đua nở, chúng tôi xuất bản tập Giai phẩm mùa Thu gồm có nhiều bài của nhiều tác giả bản sắc khác nhau, khuynh hướng khác nhau. Mỗi tác giả chịu trách nhiệm bài viết của mình.” Xem: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr. 023.

[25] Tóm tắt bài viết của Phan Khôi, tại: PolA, AA, MfAA/A 8420, tr. 013.

[26] Theo Hoàng Văn Chí 1958, tr.79. Một bản dịch khá đầy đủ bài xã luận của Phan Khôi có tại Hoa Mai o.J. tr.29-41. Tôi sử dụng cả hai nguồn, mặc dù không nguồn nào đầy đủ.

[27] Nt, tr. 81-82.

Bình luận

Không có phản hồi (bài “Heinz Schütte – Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954-1960 (7)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...