talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Đình Trọng – “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm”: Sự thức tỉnh muộn màng

09/04/2010 | 11:45 sáng | 7 phản hồi

Tác giả: Phạm Đình Trọng

Chuyên mục: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

talawas – Với bài viết của nhà văn Phạm Đình Trọng, chúng tôi xin mở đầu chuyên đề “Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975” nhân 35 năm kết thúc chiến tranh tại Việt Nam. Bài vở chọn lọc từ chuyên đề này sẽ được tuyển vào số tạp chí talawas mùa Xuân, ra vào đầu tháng Năm 2010.

_________________

Viết về cuộc chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm đòi hỏi phải có cái nhìn công bằng, khách quan, lí trí, thoát khỏi thân phận công cụ tuyên truyền. Nhà thơ Nguyễn Thái Sơn đã có được cái nhìn đó trong trường ca Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm, tập trường ca vừa được Nhà xuất bản Văn Học phát hành cuối năm 2009.[1]

Những năm sáu mươi, bảy mươi thế kỉ hai mươi, hầu hết đàn ông Việt Nam đã trưởng thành đều mặc áo lính của cả hai bên chiến tuyến, đều là lính của hai đội quân đang đối đầu tiêu diệt nhau, lính quân đội Việt Nam Cộng hòa và lính quân đội Nhân dân Việt Nam khi còn ở miền Bắc, lính quân giải phóng khi vào chiến đấu ở miền Nam. Không là lính, họ là đồng bào, nhiều người còn là họ hàng, anh em ruột thịt. Nhưng chiến tranh hút họ vào lính, đẩy họ thành kẻ thù đối kháng của nhau: Bộ đội nghĩa vụ quân sự / Chọi nhau với lính quân dịch Cộng hòa!

Những học trò vừa tốt nghiệp trung học, những sinh viên đang học dở đại học bị động viên vào lính cầm súng ra trận. Những người lính có chữ đó, nhiều người có năng khiếu văn chương và tâm hồn nhạy cảm đã cầm bút viết về cuộc chiến, viết về thân phận con người, thân phận quê hương đất nước trong chiến tranh và họ đã làm nên đội ngũ nhà văn, nhà thơ quân đội của cuộc chiến tranh đó. Hữu Thỉnh. Nguyễn Trọng Tạo. Trần Mạnh Hảo. Văn Lê. Thái Thăng Long. Chu Lai. Thái Bá Lợi. Trần Nhương. Nguyễn Thái Sơn… Họ đều là bầu bạn thân thiết cùng thế hệ với tôi và tôi đã đọc đầy đủ trường ca của họ viết về cuộc chiến tranh mà chúng tôi là người lính ngoài mặt trận. Phải đến trường ca Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm thì cuộc chiến tranh vẫn được gọi là chống Mĩ cứu nước mới được nhận ra bản chất thực là cuộc nội chiến tương tàn, là bi kịch lớn của dân tộc Việt Nam, là sự tái diễn thảm cảnh đau thương người Việt giết người Việt đã từng xảy ra ở thời những vương triều suy vong: Lính họ Trịnh Đàng Ngoài / Đánh lính họ Nguyễn Đàng Trong / Lính Tây Sơn Nguyễn Huệ / Chém giết lính Nguyễn Ánh Gia Long. Thời công nghiệp, điện tử, chiến tranh không còn chỉ là động tác của cơ bắp chém, đánh như thời Trịnh, Nguyễn, thời Tây Sơn nữa mà là ấn  nút, nhấn cò, động tác nhẹ nhàng cuối cùng sau chuỗi những thu nạp dữ liệu, phân tích, tính toán điện tử: Lọat hỏa tiễn rời bệ phóng / Nổ tung trong căn hầm bên trại giặc chen chúc người. Hiệu quả hủy diệt, chết chóc của động tác nhẹ nhàng ấn nút ấy không còn tính bằng hàng đơn vị mà phải tính  bằng hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn: Người Việt miền Bắc / Người Việt miền Nam / Mỗi ngày / Bao nhiêu bom đạn / Mấy ngàn người chết!

Trước đó, trường ca viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo… mới soi rọi vào góc khuất trong đời sống tâm hồn tình cảm của người lính, người mẹ, người vợ, mới khám phá những hoàn cảnh nghiệt ngã, những  tâm thế chênh vênh của con người cá thể trong xoáy lốc chiến tranh: Vắng anh, chị bị thừa ra / Trong giỗ tết họ hàng nội ngọai (Hữu Thỉnh. Trường ca Đường tới thành phố). Thử thách với người chồng ngoài mặt trận là bom đạn, còn thử thách với người vợ ở quê lại chính là nhan sắc của chị: Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy / Cứ sợ đắm vì chị còn nhan sắc! (Hữu Thỉnh. Trường ca Đường tới thành phố). Trường ca Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh mang rõ dấu ấn của ngòi bút tài hoa và bộc lộ tấm lòng hồn hậu nhân văn của người viết và sự hồn hậu nhân văn ấy dành cho những thân phận cá thể. Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm của Nguyễn Thái Sơn là nỗi bận tâm, nỗi đau đáu cho số phận dân tộc bị xô đẩy vào cuộc nội chiến thảm khốc, lâu dài!

Vì mối quan tâm là số phận cả dân tộc, Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm không có nhân vật cụ thể mà chỉ có hai nhân vật ước lệ: Người đàn ông ra trận và người đàn bà ở lại làng quê. Hai nhân vật ấy như hai cá thể ước lệ cho thủy tổ loài người, ông Adam và bà Eva, như hai ông bà ước lệ cho tổ tiên dân tộc Việt Nam, ông Lạc Long Quân và bà Âu Cơ. Những tâm trạng sâu kín, những tình cảnh quẫn bách được nhắc đến trong trường ca là cuộc sống không bình thường, trái tự nhiên mà người đàn ông và đàn bà ước lệ phải chịu đựng do họ phải sống thiếu nhau vì chiến tranh. Người đàn ông ngoài mặt trận không phải chỉ khổ vì nằm gai nếm mật, sốt rét, bom đạn mà còn khổ vì: Chúng tôi / Những người lính đàn ông con trai / Mười chín, ba mươi tuổi /… Chúng tôi không e ngại bất kể điều gì / Chỉ khổ vì dư thừa năng lực đàn ông! Nỗi khổ của người đàn bà ở làng quê vắng bóng đàn ông càng âm ỉ thiêu đốt: Những người đàn bà khao khát tình yêu / Da thịt có gai, có lửa /… Những người đàn bà sung mãn / Đêm uống “nước sông” / Ngày ăn “cơm nhạt”! Khao khát mà chỉ có “nước lã”, “cơm nhạt”, chỉ có cuộc sống chay tịnh! Họ phải khỏa lấp sự trống vắng, thiếu thốn, xả nỗi khát khao vào những công việc bất thường, nặng nhọc: Gánh nước nửa đêm tưới đầm vườn nhãn / Xay vài thúng thóc /Giã nửa nong ngô!

Bom đạn khốc liệt! Cái chết đến từng phút từng giây: Không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử / Dễ như người lính / Nhanh như người lính / Nhiều như người lính / Đương nhiên, mặc nhiên, tất nhiên, hồn nhiên như người lính! Chết chóc như thế nên người đàn ông trở thành hồn ma cũng là lẽ đương nhiên: Chúng tôi sống bình thường rồi chết / Chưa xấu cũng chưa kịp tốt / Không thành ma quỉ, chẳng hóa thánh thần / Không phải xuống địa ngục / Không được lên Thiên Đàng / Tụ tán trên tàn cây ngọn cỏ / Ẩn trong giọt sương, tiêu dao trên ngọn sóng!

Người đàn bà lấy chồng ở với chồng được hai đêm: Mười chín năm con gái / Làm đàn bà hai đêm! Người đàn ông thành hồn ma rồi thì người đàn bà đành sống cô quả: Có chồng hai đêm / Chị chỉ là người đàn bà tập sự / Mười năm / Mười lăm năm / Hai mươi mốt năm / Vẫn chỉ sống như thời con gái! Cuộc nội chiến đau lòng như vậy thì đâu có gì để ồn ào khoe khoang, để lỉnh kỉnh huân chương, xênh xang mũ áo phô trương nhỉ?

Người lính miền Bắc mang súng AK, nói tiếng Việt. Người lính miền Nam mang súng AR15, cũng nói tiếng Việt. Hai người lính cùng một tiếng mẹ đẻ Việt Nam mà tìm mọi cách tiêu diệt nhau, mang cái chết đến cho nhau. Cái chết đến từ khẩu AR15: Chùm đạn AR15 bắn gần khoan vào trán / Găm giữa ngực / Những người lính đội mũ tai bèo đổ gục! Cái chết đến từ khẩu AK: Tốp lính Sài Gòn lò dò đặt chân lên sườn đồi / Hứng trọn những lọat đạn AK vào đầu, vào ngực! Người giết và người bị giết đều là người Việt: Người Việt thắng trận huy hoàng / Bại trận / Cũng là người Việt! Người bị giết dù ở phía nào thì người Mẹ Việt Nam vẫn phải nhận lấy nỗi đau chết chóc: Năm Nhâm Tý – bảy hai / Máu binh sĩ Sài Gòn / Máu quân giải phóng / Đỏ sông Thạch Hãn / Ướt sũng gạch vụn Cổ Thành!

Thật đau xót cho thời cuồng tín, mê muội, người Việt say sưa giết người Việt! Đau xót về một thời bi kịch của dân tộc để phải thức tỉnh về nhận thức. Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm là sự thức tỉnh đó. Sự thức tỉnh cần thiết mà muộn màng!

© 2010 Phạm Đình Trọng

© 2010 talawas


[1] Xem trích đoạn trường ca Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm của Nguyễn Thái Sơn:

http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=11352&LOAIID=1&LOAIREF=1&TGID=1805

http://lethieunhon.com/read.php/3931.htm

Phản hồi

7 phản hồi (bài “Phạm Đình Trọng – “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm”: Sự thức tỉnh muộn màng”)

  1. Nguyễn Việt Thanh says:

    “Người lính miền Bắc mang súng AK, nói tiếng Việt. Người lính miền Nam mang súng AR15, cũng nói tiếng Việt. Hai người lính cùng một tiếng mẹ đẻ Việt Nam mà tìm mọi cách tiêu diệt nhau, mang cái chết đến cho nhau.” (PĐT)

    Nhưng … Mao Trạch Đông nói với Hồ Chí Minh bằng tiếng Tàu, Khrushchev nói với Lê Duẩn bằng tiếng Nga; Johnson, Nixon nói tiếng Anh với Nguyễn Văn Thiệu. Và, cặp “Nobel Hòa Bình” Kissinger, Lê Đức Thọ thậm thụt nơi kinh thành Ba Lê hoa lệ bằng tiếng …”thật thà”!

  2. nguyen mai linh says:

    Đối với tôi, cuộc chiến Việt Nam được phát động bởi lãnh đạo cộng sản Bắc Việt, chứ miền Nam không hề có ý tưởng Bắc tiến, chiếm đánh miền Bắc. Cuộc chiến gây ra bởi Bắc Việt trở thành cuộc chiến xâm lược của làn sóng đỏ đối với miền Nam tự do mà thời đó hay gọi là cuộc chiến ý thức hệ. Cuộc chiến ý thức hệ thật sự là cuộc nội chiến, anh em Nam-Bắc tương tàn chỉ vì ý thức hệ khác nhau của lãnh đạo hai miền Nam-Bắc, trong đó lãnh đạo miền Bắc có khuynh hướng sử dụng bạo lực để giải quyết vấn đề, còn miền Nam ở tư thế gần như thụ động hoàn toàn. Thế nhưng, sau khi chính quyền ông Diệm đổ và lính Mỹ bắt đầu đổ bộ xuống miền Nam Việt Nam, thì miền Nam lại “chính nghĩa hóa” cuộc chiến, đổi trắng thay đen và cuộc chiến thành cuộc chiến chống Mỹ và Ngụy. Cái chính nghĩa ngụy tạo này được tuyên truyền không chỉ đối với người dân trong nước mà luôn cả thế giới.
    Tuy nhiên, ai là người dân Việt sẽ thấy ngay cuộc chiến này do Hồ chí Minh và Đảng Cộng sản phát động nếu không thì sẽ không bao giờ Việt Nam có chiến tranh, và Mỹ sẽ không bao giờ có cơ hội nhảy vào Việt Nam và biến Việt Nam thành nơi thử nghiệm vũ khí giữa hai khối Tư Bản Mỹ và Cộng Sản Tàu-Nga.

  3. Trung Nu Hoang says:

    Bản nhạc của Trịnh Công Sơn (TCS) nói thật rõ về bản chất cuộc chiến tranh này, theo tôi đó là bài “Gia Tài Của Mẹ” trong đó có câu: “30 năm nội chiến từng ngày”.

  4. Trương Đức says:

    “Phải đến trường ca Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm thì cuộc chiến tranh vẫn được gọi là chống Mĩ cứu nước mới được nhận ra bản chất thực là cuộc nội chiến tương tàn, là bi kịch lớn của dân tộc Việt Nam, là sự tái diễn thảm cảnh đau thương người Việt giết người Việt đã từng xảy ra ở thời những vương triều suy vong: Lính họ Trịnh Đàng Ngoài / Đánh lính họ Nguyễn Đàng Trong / Lính Tây Sơn Nguyễn Huệ / Chém giết lính Nguyễn Ánh Gia Long.”(Phạm Đình Trọng)

    Theo tôi suy luận, nhận định này chắc là của riêng tác giả Phạm Đình Trọng. Chứ ngay thời còn chiến tranh, đã có rất nhiều người Việt Nam “nhìn thấy” đó là “cuộc nội chiến tương tàn”. Chẳng hạn như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ông đã viết ra trong các tác phẩm ca nhạc của mình:
    “…Rồi từng đêm bom đạn phá
    Người Việt nhìn sao xa lạ
    Người Việt nhìn nhau căm thù.
    Một ngục tù trên quê hương
    Người Việt Nam quên nòi giống
    Người từng ngày xây uất hận…”
    (bài Ngày dài trên quê hương)
    Và tôi thấy, ngay cả trong số những nhà văn quân đội của “miền Bắc”, cũng có rất nhiều người “thức tỉnh” thực chất của cuộc Chiến tranh Việt Nam 1954-1975 từ rất sớm, chẳng qua họ không nói ra được. Lý do là vì không có được cái lòng “can đảm” của một người lính thực thụ, tuy họ cũng khoác áo lính và cầm súng đấy,… Và, dĩ nhiên, cộng với hàng trăm ngàn lý do “khách quan” khác nữa của một “anh bộ đội Cụ Hồ cầm bút”. Cái thời cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh ra đời(in lần đầu năm 1987 tên là Thân phận của tình yêu), có vẻ như là cái mốc đánh dấu giai đoạn các nhà văn quân đội “miền Bắc” bắt đầu “nhìn lại” và “lên tiếng” về cuộc nội chiến tương tàn của dân tộc Việt Nam.

  5. Trung Thứ says:

    Thưa bác Nguyễn Ước,

    Tác giả Phạm Đình Trọng thông tin về biến cố đau buồn có thật (người Việt giết người Việt), đã diễn ra trong quá khứ, trên đất nước Việt Nam: “Người lính miền Bắc mang súng AK, nói tiếng Việt. Người lính miền Nam mang súng AR15, cũng nói tiếng Việt. Hai người lính cùng một tiếng mẹ đẻ Việt Nam mà tìm mọi cách tiêu diệt nhau, mang cái chết đến cho nhau.”

    Tôi nghĩ không có gì phải phản đối tác giả đối với việc thông tin về sự kiện này. Nếu bác Nguyễn Ước có nhã ý viết một bài giải thích – nguyên nhân nào khiến người lính miền Nam dùng súng AR15 (hay một loại súng lạc hậu hơn) giết lính miền Bắc và người lính miền Bắc mang AK giết lính miền Nam – thì lại là một chuyện khác.

  6. Nguyễn Ước says:

    PĐT viết: “Người lính miền Bắc mang súng AK, nói tiếng Việt. Người lính miền Nam mang súng AR15, cũng nói tiếng Việt. Hai người lính cùng một tiếng mẹ đẻ Việt Nam mà tìm mọi cách tiêu diệt nhau, mang cái chết đến cho nhau.”

    Tiếc thật! Tại sao cho tới giờ này, với số lượng thông tin lớn lao, nhiều chiều, mà một tác giả có lương tri như Phạm Đình Trọng, vẫn cứ buột miệng theo quán tính, đánh đồng bộ đội miền Bắc với người lính miền Nam như thế! Nhân dân miền Nam và những người lính chúng tôi bị ở trong tình thế không thể không tự vệ trước cuộc “sinh Bắc tử Nam” của thanh niên miền Bắc lúc đó! Nếu không có sự tuyên truyền dối trá và thậm chí cưỡng ép độc hiểm của chính phạm hoang phí xương máu nhân dân là ĐCSVN, thì thanh niên miền Bắc đâu phải mang súng AK vào Nam để bị ngã xuống, và lúc đó, người lính miền Nam có muốn “tìm mọi cách tiêu diệt [nhau], mang cái chết đến cho [nhau]” người lính miền Bắc (như lời PĐT nói) cũng không được.

    Thêm nữa, có lẽ cần bổ sung một chi tiết, khi người lính miền Bắc mang súng AK “tối tân” vào Nam, thì người lính miền Nam lúc ấy chỉ mới có các loại súng “cổ lỗ sĩ”, tồn đọng của Thế chiến Hai, như Carbine, Garant v.v. do chính phủ Mỹ mới viện trợ từ cuối thập niên 1950.

  7. Louis says:

    Được nghỉ hè 2 tuần tôi sẽ không đi đâu chơi cả, ở nhà và sẽ đọc lại những tác phẩm để đời của nhà văn Phan Nhật Nam như Mùa hè đỏ lửa, Tù binh và Hoà bình, Dấu binh lửa, Dựa lưng nỗi chết… và những bài viết gần đây của ông. Xin trân trọng cảm ơn nhà văn đã nói lên được nỗi bi hùng của 1 nửa dân tộc trong cuộc chiến nghiệt ngã đó.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả