talawas blog

Chuyên mục:

Trần Hoài Thư – Về thăm quê của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan và Võ Phiến

26/04/2010 | 1:00 chiều | 8 phản hồi

Tác giả: Trần Hoài Thư

Chuyên mục: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: > > > >

1.

Không thể ngờ một ngày tôi lại có mặt giữa ba ngọn tháp buồn thiên cổ để cảm nhận thế nào là dấu vết của Điêu tàn trong thơ Chế Lan Viên. Có lẽ tôi may mắn hơn nhà thơ họ Chế, bởi vì ông chỉ nhìn bóng tháp mà làm thơ, còn tôi, tôi sống với tháp, tôi ngủ trong lòng tháp, tôi được tháp che chở bảo bọc suốt gần bốn năm dài.

Hậu cứ của đơn vị tôi – đại đội 405 thám kích – nằm trên đồi Bà Gi, còn gọi là đồi Tháp Bánh Ít. Đồi có ba ngọn tháp Chàm. Theo như người địa phương cho biết, ngọn tháp ở ngay đỉnh là Tháp Vàng. Ngọn ở lưng chừng đồi là Tháp Bạc. Và ngọn ở dưới thấp nhất là Tháp Đồng. Tháp. Tháp Vàng là nơi đặt đài rada của quân đội Mỹ. Tháp Đồng là kho chứa đạn dược của đơn vị tôi. Chỉ có Tháp Bạc là trống trải, nằm ngay ở bên sân doanh trại, ngay ở cổng gác của đơn vị.

Nơi đây, ta có thể nhìn bao quát cả một khu vực quân Tuy Phước và An Nhơn.  Đó là hai yếu khu mà đơn vị tôi là một trong các đơn vị chịu trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ.

Đó là quê nhà của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Yến Lan và Võ Phiến. Những tên tuổi hàng đầu của nền văn học Việt Nam.

Hãnh diện không, được có mặt ở vùng địa linh nhân kiệt?

Vâng, người khác thì hãnh diện thật. Còn tôi thì không. Tôi đang có mặt tại một nơi mà: Về đây Bình Định ma thiêng lãnh/Mỗi bước đi rờn rợn âm hồn. Thơ tôi đấy. Ai cũng biết là xứ Bình Định này nguyên thuộc Liên khu 5, mà có lẽ hầu hết những gia đình trong vùng đều có thân nhân tập kết. Những mật khu chỉ cách Bộ Tư lệnh khoảng trên dưới 10 cây số như Kỳ Sơn hay Háo Lễ, Tân Dân, hay xa hơn là Núi Bà… Đó là những bụi gai rất khó nhổ. Ví dụ như đồi Kỳ Sơn. Chúng tôi đã trèo lên ngọn đồi đó biết bao nhiêu lần. Nhưng sau khi rút về, thì âm binh lại tiếp tục có mặt, dùng làm căn cứ địa để chọc phá Bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 BB. Để rồi, chỉ khổ là đám lính, đêm đêm thức trắng, giữ cho địch khỏi lọt vào vòng đai… Dù ngại một lần rồi sẽ ngã. Ta dắt đàn con nhỏ chắt chiu. Về thăm gò mả thăm kênh rạch. Thắm những oan hồn đang hẩm hiu….

Tại sao lại là gò mả? Bởi vì, gò mả có bờ thành, có chỗ để chắn gió, có thể chắn đạn. Bởi vì gò mả là chỗ đất cao, để chúng tôi khỏi bị dầm nước cả đêm, và có thể đặt lưng trên mặt đất khô ráo. Nhưng để đổi lại là cái ám ảnh của căn bệnh Hàn Mặc Tử đè nặng. Đè nặng từ hơi đất hơi sương hơi người chết, từ lòng huyệt lâu năm hay mới chôn: Ta có ông bà muôn năm cũ. Đội đất vỗ về giấc ngủ ta… Ông bà có thương một thằng lính sữa, xin đừng cho ta khỏi cùi phun.

Đó, một đêm như mọi đêm trên quê hương mà người dân Bình Định gọi là vùng đất địa linh nhân kiệt là thế đấy.

Nằm trên một nghĩa địa dưới đồi Kỳ Sơn, thuộc Gò Bồi, tôi nói với tôi, đây là quê hương của nhà thơ Xuân Diệu… Qua An Nhơn, tôi bảo lòng, đây là quê nhà của Yến Lan, tác giả bài thơ “Ông lái đò” đã được phổ thành ca khúc. Và hơn ba năm nương dưới ba ngọn tháp, tôi nhủ mình, đây là những ngọn tháp Chế Lan Viên. Ba người thơ tiền chiến này, đang ở ngoài Bắc, đang cố nặn óc để làm những bài thơ kích động đám trẻ miền Bắc sinh Bắc tử Nam để giết chúng tôi. Chỉ có mỗi một mình nhà văn Võ Phiến. Nhưng ông thì xa cách chúng tôi quá. Ông đã để quê nhà (nhan đề một tác phẩm của Võ Phiến) của ông cho chúng tôi bảo vệ, gìn giữ, và dung thân tại Sài Gòn rồi. Không biết ông có biết quê nhà của ông giờ đây những đứa trẻ của một thời bắt trẻ đồng xanh (tên một truyện ngắn của Võ Phiến) nay đã trở lại, và chúng tôi đang giẫm trên quê nhà của ông, để gìn giữ, bảo vệ, để sáng ra còn nghe tiếng trống trường vẳng lên từ chợ Huyện, chợ Dinh, hay An Nhơn Bình Định, để những chuyến xe lam bắt đầu xuất hiện trên đường, hay những ghe thuyền tấp nập trên sông Gò Bồi, cho phiên chợ sớm… Có người trong chúng tôi đã nằm xuống, tức tủi, im lặng, không một lời ai điếu.

Tôi cố tìm một bài văn của ông viết về đám trẻ chúng tôi, sau bài “Bắt trẻ đồng xanh”, nhưng tìm không thấy. Cũng buồn chứ.

Nhưng nếu ông không viết, thì tôi viết.

Nhưng mà cần gì. Những người lính của tôi, có khi nào cầm đến tập Văn hay Bách Khoa mà đọc. Họ còn có những chuyện khác để lo sau khi hết hành quân. Vợ con, tán gái, hay nhậu nhẹt… Có lẽ tôi là người quá vị kỉ chăng.

2.

Trong dòng binh lửa, nhất là đối với người lính ở đơn vị biệt lập, mang mũ rừng thay nón sắt, mang súng nhẹ, không biết áo giáp là gì, thì mạng sống quả là đếm từng ngày.

Vậy mà tôi đã sống sót sau gần 4 năm (từ tháng 9-66 đến tháng 7-1970)!

Ai cũng bảo là tôi được may mắn. Vâng thì may mắn. Có điều sự may mắn ấy, nếu một hai ngày, thì còn có thể tin được, chứ gần 4 năm, thì thật khó tin.

Tôi không thể biết, hay không thể giải thích. Tôi không hề thuộc một câu kinh, dù của Phật hay của Chúa, trừ Nam mô A Di Đà Phật hay Amen. Tôi chẳng ăn chay hay đi xưng tội. Nhưng tôi kính sợ Tháp. Kính sợ một đôi mắt nào vô hình đang có mặt trên ngọn đồi Bà Di, đang nhìn tôi. Có sống bên tháp, mới thấy được những điều linh thiêng này. Đối với tôi, tháp không còn là những tầng gạch cũ gắn chặt ngàn năm một cách vô tri nữa. Mà trái lại, chúng có linh hồn. Chúng thiêng liêng. Chúng không phải là dấu vết của sự hưng phế của một triều đại, một cơ đồ, nhưng chúng là một cõi cốt xương được kết tụ bởi những hồn oan uổng tử, bị chết thảm. Những hồn oan ấy trôi dạt trong cõi đất trời, tích lũy tại chốn này, bởi  không một lời cầu siêu, không một câu kinh cho chúng siêu thoát…

Tôi đã chứng kiến cảnh sét đánh ngay vào ngọn Tháp Vàng. Nghe nói, có người lính Mỹ bị thương hay chết. Có lẽ thần linh đã trừng phạt vì tội mang ô uế vào tháp chăng. Riêng trong đơn vị tôi, những người lính thâm niên vẫn hay kể là trước kia, cứ mỗi lần ông đơn vị trưởng mang gái lên đồi qua đêm, thì thế nào sau đó, đơn vị  cũng gặp rủi không ít thì nhiều.

Từ sự tin tưởng ấy, cứ mỗi lần đơn vị xuống đồi để làm những chuyến tăng phái, hay đột kích, tiếp viện, hay thám sát, tôi vẫn đứng dưới tháp mà cầu nguyện. Như ngày nào tuổi nhỏ, tôi đã lên Tháp Bà, ở cuối cầu Xóm Bóng Nha Trang để cầu khẩn cho mẹ tôi.

Để rồi những phép lạ này đến phép lạ khác.

Mà mỗi lần nhớ lại, phải giật mình run sợ.

Có nên nhắc lại không về một buổi chiều trước khi xuống đồi để thực hiện cuộc làm ăn đêm, khi hạ sĩ nhất Ký say rượu thách thức tôi bắn y. Và tôi đã cuồng trí, mất hết bình tĩnh để nòng súng vào lưng y. Bóp cò. Vậy mà lẫy có cứng ngắc!

Có nên nhắc lại không, đáng ra ngày ấy là ngày không trực đại đội, có nghĩa là khỏi đi đầu, vậy mà hôm ấy, trung đội tôi được lệnh đi đầu… để rồi, thoát khỏi trận phục kích của địch!

Có nên nhắc lại, chỉ trong một trận, mà khi ra quân với 6 sĩ quan, thì 4 người đã nằm xuống trong một cuộc hành quân.

Có nên nhắc lại, viên đạn nào như dịu dàng cắt một mảnh thịt trên đầu vú trái, ngay ở con tim tôi. Chỉ lệch một phân thì chắc chắn tôi đâu còn có ngày ngồi ở đất Mỹ để viết những dòng chữ này!

Và nhiều, rất nhiều chuyện khác, nhớ lại, để giật mình kinh sợ, mà thầm cảm tạ Ơn Trên. Thương quá thân thể mình. Thương quá cuộc đời của mình. Và càng thương thì càng cảm tạ. Cảm tạ những ngọn tháp của tôi. Chúng là mái nhà của tôi. Trước khi xuống đồi, thưa Bà, xin Bà phù hộ cho con, như ngày nào còn thơ, tôi vẫn từng cầu khẩn cho mẹ tôi bớt khổ. Và khi trở về, từ xa, thấy bóng tháp mờ hiện giữa nền mây, thì lòng lại bồi hồi không tả.

Nhất là những đêm trăng, với nhiệm vụ là sĩ quan tuần tra, tôi đi rảo các vọng canh. Khi ấy, chắc chắn là chỉ có mình tôi một vầng trăng lạnh dõi trên đỉnh tháp. Dưới chân là nền gạch vụn nhô lên như ngôi mồ vĩ đại. Và cái bóng tháp hiu quạnh soi cùng bóng những hàng rào phòng ngự.

Chính vì nỗi tin tưởng ấy, tôi không thể chấp nhận việc mang ô uế đến với tháp. Nhưng tôi không thể. Đám lính Mỹ có lối đi riêng không qua trạm kiểm soát của đơn vị. Tôi chỉ có cây viết. Và tôi đã viết truyện “Bóng Tháp”, lấy từ việc sét đánh lên đài rađa như là một sự trừng phạt của đấng quyền năng về tội làm tháp ô uế. Truyện đăng hai kỳ trên tạp chí Bách Khoa. Sở kiểm duyệt đã kết tội bài viết có lợi cho địch, bêu xấu quân đội đồng minh. Chỉ tội nghiệp cho ông Lê Ngộ Châu, phải khổ lắm mới mang được về tòa sọan vài trăm tập và bôi đen một phần của bài văn.

*

Tôi vẫn còn nhớ, hình như vào khoảng năm 1969 thì phải, Bắc quân mang một lực lượng cấp tiểu đoàn tấn công vào thị trấn Đập Đá, cách đồi Bà Gi khoảng vài cây số về phía Bắc. Trong trận này, binh chủng thám kích được sự tiếp trợ của sư đoàn Mãnh hổ Đại Hàn đã tạo một chiến thắng lớn.

Lính phe Bắc chết nằm la liệt ở ruộng đồng gần Đập Đá. Đến nỗi sau trận đánh, xe ủi của quân đội Đại Hàn đã phải đào nguyên cả cái hố lớn và sâu để lấp chôn xác họ. Tôi nghe nói trên cả trăm người chết.

Và hố này gần một tháp Chàm gần khu vực giao tranh.

Có hai người hạ sĩ quan mới ra trường đã tử trận. Một cái tang đau cho gia đình thám kích chúng tôi.

Chuyện đào hố chôn xác người đã làm trí óc tôi lóe lên một đề tài về một sự tái diễn của lịch sử. Và cái nhân quả trong triết lý nhà Phật.

Nhưng chưa có dịp để hoàn thành ý nghĩ này.

Đợi đến một lần dừng quân chờ xe sư đoàn đến rước về hậu cứ, tôi mới thật sự kê giấy để viết dưới ánh đèn pin quân đội. Đêm ấy, chúng tôi nghỉ chân bên một ngọn tháp sau một cuộc hành quân gian khổ. Điêu tàn của dân Hời bây giờ nhường lại Điêu tàn của dân tộc tôi. Đây là truyện thứ hai tôi viết về tháp, với tựa đề “Đêm Chiêm Thành”. (Xin xem phần Phụ Lục)

(trích Cảm tạ văn chương)

© 2010 Trần Hoài Thư

© 2010 talawas

Phản hồi

8 phản hồi (bài “Trần Hoài Thư – Về thăm quê của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan và Võ Phiến”)

  1. Phùng Tường Vân nói:

    Đốt Lò Hương Cũ

    Phát biểu của Nguyễn Việt Thanh, gần như một thứ hoài niệm, khiến tôi lại cứ muốn được mời các bạn “về (thăm) một xóm quê”, vâng chỉ một đọan ngắn thôi :

    “Tôi đứng cách xa mười đám ruộng trông vào xóm tôi trong buổi chiều vắng vẻ. Ở phương Tây có một đám mây đậm mầu lặng lẽ nhìn một đám mây đậm mầu lặng lẽ ở phương Đông. Cuối xóm, lại một đám mây đỏ bầm đứng yên lặng bên cạnh dăm cái tầu dừa cũng yên lặng, không phe phẩy một lá nhỏ. Hai bên định đương đầu nhau hàng giờ. Nhưng rồi đám mây buồn bã xịu mầu xuống, tái dợt dần, chuyển ra xanh lạt, rồi xanh đậm. Trên đầu dẫy núi tím, mây vẩy tê tê, màu xám. Dần dần bao nhiêu vẩy tê tê đều hóa ra lông chim phơi phới, và trở mầu thâm đen…

    Tôi ngẩn ngơ lạc lõng, ra chiều chiều, những buổi chiều long trọng như thế xung quanh xóm tôi vẫn hằng bố trí một cuộc mây núi bốn bề thi nhau, đùa nhau, vây nhau, biến hóa đổi mầu thay sắc lặng lẽ bao la trong một trò chơi lớn mà cả xóm gò chẳng ai hay biết đến !

    Nhìn một ánh lửa đỏ loe ở nhà Bái Công nhảy chấp chới trong bếp, tôi tự nhiên cảm thấy tất cả cảnh côi cút bé mọn ở cái sinh hoạt của cư dân xóm gò. Qua bao nhiêu thời gian rồi ! Bao nhiêu lần gió thổi cờ bay phất phới trên cao…

    Tôi muốn kể chuyện dâu bể của xóm tôi. Nhưng quả rằng xóm quê tôi tầm thường chẳng phải là nơi linh địa. Cho đến những điều dâu bể cũng tầm thường nhạt nhẽo, chẳng thành chuyện ra hồn. Chỉ nghe một cái gì buồn rả rích như từng giọt, từng giọt của trận mưa dai dẳng kéo dài, kéo dài qua…qua cái gì? Qua suốt mấy chục năm dài chưa dứt sao ?”

    (Về một xóm quê, Võ Phiến)

  2. Nguyễn Việt Thanh nói:

    Cảm ơn anh Trần Hoài Thư về hình ảnh tang thương đau đớn lạ kỳ của ba ngọn tháp Bánh Ít. Qua bài viết, tôi cảm nhận nó đã thành máu thịt của anh.
    Cảm ơn bác Phùng Tường Vân đã dẫn lại một bài thơ rất tuyệt của Yến Lan về BĐ.

    Dòng sông Côn chảy đến đây, rẽ làm đôi ôm ấp ngọn đồi với ba tháp của người chiến binh năm nào, để rồi nhập một đổ ra bến Gò Bồi: quê hương của cụ Đào Tấn và quê ngoại Xuân Diệu.

    Ngay dưới chân ngọn tháp về phía bắc là Tu viện Nguyên Thiều, người sáng lập tu viện này là Hòa Thượng Thích Huyền Quang. Oái ăm thay, đây cũng chính là nơi giam hãm thân xác tứ đại của ông cho đến lúc lìa đời. Không biết lúc anh Trần Hoài Thư ở đó, đã có ngôi chùa này chưa?

    Ba ngọn tháp này đã là nguồn cảm hứng cho “Những ma hời sờ soạn khóc trong mưa” của “Điêu Tàn”.
    Và, dòng sông chảy qua đây cũng là nguồn chính để Nguyễn Mộng Giác dựng nên một “Sông côn mùa lũ”.

    Tôi đã lên đỉnh đồi này khoảng cuối thập niên 80. Vào một buổi chiều. Nhìn ba ngọn tháp vàng vọt đổ nát, bên cạnh la những lô cốt nham nhở vết đạn, bao quanh bởi những hàng rào kẽm gai. Ngọn gió chiều lay lắt những bụi cây dại, như biết bao nhiêu hồn tử sĩ vương vất trong buổi chiều tà.

    Gần đây, tôi trở lại nơi đây. Người ta đang “làm mới” ba ngọn tháp này. Nhìn những phấn son lòe loẹt tô phết trên những tường gạch rêu phong ngàn năm, tôi thoáng ngậm ngùi.

    Lẽ đời có sinh có diệt, ba ngọn tháp này rồi cũng sẽ chịu chung số phận bể dâu, hưng phế.

    Nhưng lẽ nào, nó phải chết theo kiểu thế này ư?

    Nếu tôi được phép khuyên anh Trần Hoài Thư một lời, thì tôi sẽ khuyên anh hãy giữ mãi ký ức tang thương bi hùng của một thời về ba ngọn tháp. Đừng nên trở về tìm lại. Ba ngọn tháp này đã không còn là ba ngọn tháp ngày xưa của anh. Cái ngày xưa của anh đã chết. Nó đã chết mà chưa bao giờ được nhắm mắt!

  3. Phùng Tường Vân nói:

    @Trương Đức

    Rượu ngon xin khất bạn hiền,
    Diễn đàn chẳng tiện huyên thiên…tửu đồ .

    Vạn cảm !

  4. Trương Đức nói:

    @bác Phùng Tường Vân,
    Xin cám ơn bác về cái sáng kiến “thư giãn” và bài thơ rất hay của Yến Lan mà bác ghi lên đây. Tôi đọc xong bài thơ là cảm thấy ngay mình được “thư giãn” hẳn 99%, thiếu một “ly… rượu” nữa là “đi” đến 100%. Ấy là ý tôi muốn hỏi bác một chút “thông tin” trong bài thơ: Cái câu “Rượu ân tình – Bình Định – xứ lên men.”, có phải là nhà thơ Yến Lan nói về Rượu Bàu Đá nổi tiếng của Bình Định không ạ? Chả là đợt về VN ăn Tết vừa rồi, tôi có dịp đi ngang qua Bình Định, và có mua 2 “vò” Rượu Bàu Đá để mang sang cho “ông già” tôi, bác ạ! Uống rượu và ngâm vịnh thơ ca là cái thú vui tuổi già của ông cụ, nhất là những khi có rượu ngon và thơ hay, là ông cụ nhà tôi cứ “tì tì”!:) Nói đến rượu, tôi nhớ đến nhà văn Trương Tửu và người bạn của ông, nhà thơ Nguyễn Vỹ. Tiện đây, tôi xin gửi đường link dẫn tới bài thơ “Gửi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ, cũng mong các bác “thư giãn” một chút cùng tôi!:)
    http://thinhanquangngai.wordpress.com/2010/04/14/nguyen-tac-c%E1%BB%A7a-g%E1%BB%ADi-tr%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BB%ADu-nguy%E1%BB%85n-v%E1%BB%B9/

  5. Phùng Tường Vân nói:

    Trời Bình Định

    Nhân tác giả mời về thăm quê của những nhà thơ, nhà văn kiệt xuất của Bình Định, tôi nhớ trong một truyện của Võ Phiến, ông có dùng hai câu thơ của Yến Lan sau đây làm đề từ :

    Trời Bình định có thương em lẻ chiếc
    Em nằm nghe xanh biếc của trời buồn

    Giữa lúc trên mạng này đang khá rộn ràng những “tiếng sắt tiếng vàng”, tôi mong được mời quần hào “thư giãn” chút chút, đọc trọn bài thơ có hai câu trích dẫn trên đây, tìm lại cho hồn mình một chút âm âm

    Bình Định 1935
    Yến Lan

    Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt
    Đàng chờ xe, sông nước ước mong thuyền.
    Tịch-dương-liễu không biết mình đang biếc,
    Tương tư trời tương tư nhạc triền miên.

    Mây nổi đó nhưng hồn chừng xa xứ,
    Trăng cô liêu trắng mộng hồ xa nao?
    Xe lỗi hẹn với người trong lữ thứ,
    Những cánh thuyền muôn dặm cũng hư hao.

    Ôi Bình Định, mây chia trời cách biệt,
    Nhúng bâng khuâng trong giá lạnh sương hoa.
    Nhà ngơ ngẩn, những tường vôi keo kiết,
    Nam-quách sầu, Đông-phố lạnh, Tây-môn xa.

    Cây lặng lẽ gượng làm bầy hải đảo,
    Thuyền bồ câu nghiêng buồm trắng trôi ven.
    Tăm chiêu mộ nổi trên dòng nước dạo,
    Rượu ân tình – Bình Định – xứ lên men.

    Đường lăng lắc chảy trong quầng nắng nhạt.
    Nhớ thương từ vườn chuối vương đưa.
    Giấc Trang Tử đêm vầy theo hội hát.
    Cuối đôi làng xam xám dệt tơ mưa.

    Ôi Bình Định tự thành cao, trao gửi,
    Buồn xế tà qua mấy cửa rêu xanh.
    Nơi đến đọng những vũng chiều lạnh đợi,
    Buổi trăng gầy, gió lụy xuống mong manh.

    Đây tôi sống trong xanh nghiêm thánh thất:
    Đèn lưu ly hao sáng mộng tràn đầy.
    Lan can đỏ xuống dần từng bậc,
    Hồn cuộn dần bậc bậc khói hương xây.

    Hồn tôi loảng trên bệ vàng thếp chảy,
    cùng hồn trưa quấn quýt lấy giao lân.
    Tám phương bạn – chợp hàng mi – mộng thấy
    Xứ tâm tình, vàng rộn lá thu phân.

    Nhánh tòng, bá có đau vì xứ sở,
    Chớ quặn mình thêm nức nở hồn tôi.
    Không được sống, xin cho cùng được thở,
    Vạn-lý-tình trong gió ngọt xa xôi.

    Trời Bình Định có thương Em lẻ chiếc,
    Em nằm thương xanh biếc của trời buồn.
    Trên đài trán thơ hằng lên vọng nguyệt,
    Trăng còn nương thuyền nhạc khuất trong sương.

    Hoa tư tưởng phân thân chìu gió trải,
    Trời hoa tiên, hồ hải nói trong tâm.
    Ôi Bình Định, sao nằm trong mãi mãi
    Đĩa dầu vơi, tim cháy ngọn âm âm…?

  6. Trần Hoài Thư nói:

    Xin dược cám ơn quí anh Trần Văn Tích và Phùng Tường Vân đã chỉ giùm những lỗi lầm trong bài viết của tôi.

    Trân trọng

  7. Trần Văn Tích nói:

    Bạn Trần Hoài Thư,
    Theo tôi thì ma thiên lãnh (“thiên” không có g) chứ không phải ma thiêng lãnh; còn “cùi phun” thì “phun” phải có g đằng cuối. Nhà thơ Yến Lan có đúng là tác giả bài thơ đã được phổ nhạc “Ông lái đò” không? Trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh-Hoài Chân, Yến Lan chỉ có bài “Bến My Lăng”
    với hai câu cuối :
    Bến My-lăng còn lạnh, bến My-lăng
    Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.

  8. Phùng Tường Vân nói:

    Thư Nhà

    “…Ông đã để quê nhà (nhan đề một tác phẩm của Võ Phiến) của ông cho chúng tôi bảo vệ, gìn giữ…” (Trần Hoài Thư)

    Xin được thưa lại với anh Trần Hoài Thư một chi tiết nhỏ: thực ra Võ Phiến không có một tác phẩm nào có nhan đề là “Quê Nhà” cả, có nhiều phần là anh nhầm với Thư Nhà đấy .

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả