talawas blog

Chuyên mục:

Hạnh Đào – Lại 30 tháng Tư

29/04/2010 | 7:00 sáng | 13 phản hồi

Tác giả: Hạnh Đào

Chuyên mục: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975
Thẻ:

Tôi sinh ra chỉ vài tháng sau ngày 30.4.75. Mỗi năm, trước và sau ngày này khó tránh việc nghĩ về cuộc chiến đã qua và những hậu chấn của nó. Tôi cho là mình may mắn, không sống trong thời chiến nhưng lại đủ gần để tiếp cận với nhân chứng (và bản thân cũng là nhân chứng của thời hậu chiến).

Tôi sinh ra và lớn lên trong hòa bình, nhưng dấu vết chiến tranh (đã) vẫn lẫn quất đâu đó, từ khi tôi ý thức được. Nó hiện diện ở đời sống dù muốn hay không, với bản khai lý lịch “ba là sĩ quan ngụy, đã được (bị) cải tạo”. Nó là sự nhắc nhở như một món nợ (máu) với nhân dân, đúng hơn là với chính quyền, dù chúng tôi tưởng đã trả xong ngày ba tôi được thả về, khi ông đập gãy đôi nạng gỗ quăng xuống sông từ chiếc cầu đá qua con đường làng, như quăng bỏ đi một thời quá khứ đầy máu, nước mắt và uất nhục mà sau này tôi mới hiểu. Đôi nạng gỗ đó đã không trôi đi, nó vướng lại trong đời sống chúng tôi.

Nó ở những tháng năm kế tiếp, khi ba tôi chỉ có thể xoay quanh những việc làm tạm bợ và công an thì thường tới “hỏi thăm”, như một bản án treo không hạn định.

Nó ở trong những cặp mắt nghi hoặc, hay lấm lét sợ sệt khi có bóng dáng công an, thời ấy, như những hung thần.

Nó ở không khí căng thẳng trong gia đình khi mỗi người (lớn) đều mang cảm giác bất mãn, thất bại và không lối thoát.

Nó ở bản khai lý lịch ba (từng) là sĩ quan ngụy, thành phần gia đình là trí thức tiểu tư sản (dù lúc ấy, chúng tôi chẳng còn chút “tư sản” gì).

Nó ở con số phân loại của lý lịch khi anh chị tôi thi vào đại học.

Nó ở sự phân biệt “cũ” và “mới”, như là nhạc cũ, sách cũ, hình cũ, đều phải nghe, xem lén lút (dù lúc đó tôi vẫn còn nhỏ).

Chúng tôi đã bị đẩy dần qua phía bên kia ranh giới, không phải tự trèo qua “vì mặc cảm là người của phía bên kia” như “họ” vẫn nói. Có ai tự nguyện làm công dân hạng hai?

Tôi nhớ lần đầu xem phim Cuốn theo chiều gió, hình ảnh Ashley trở về bại trận, tơi tả, tôi đã vô cùng ngạc nhiên, thế thôi à? Không có trại cải tạo, không có kinh tế mới, không có cảnh người bất kể mạng sống băng rừng, lao ra biển. Hòa bình ấy, thống nhất ấy, đã hơn trăm năm trước. Vấn đề ở người Việt hay ở người cộng sản?

Tới phiên tôi thi vào đại học, may mắn, số phân loại lý lịch đã biến mất. Dấu vết chiến tranh bắt đầu lùi dần vào quá khứ.

Tuy nhiên, từ khi rời Việt Nam, tôi lại tìm tới quá khứ, với lịch sử. Thoát được sự chép, đọc và trả bài, với cách học tự do (suy nghĩ và phát biểu), được tiếp cận với nhiều thông tin lẫn nhân chứng, là cơ hội để tôi đặt câu hỏi, so sánh, suy ngẫm và tìm câu trả lời.

“Tại sao bạn và dân tộc bạn tới đây?” là câu hỏi mà tôi được hỏi và tự hỏi, nhiều lần. Tại sao người ta không bỏ nước, trốn chạy khi chiến tranh leo thang và đẫm máu, mà lại phải ra đi khi hòa bình, thống nhất? Những cuộc ra đi kéo dài tới tận bây giờ dù có thể phải trả giá bằng tài sản, hạnh phúc, phẩm giá, thậm chí cả tính mạng.

Mọi nguyên nhân, ít, nhiều đều qui về hay liên quan, ảnh hưởng, hậu quả từ cuộc chiến Việt Nam 54-75.

Liệu chiến tranh có phải là giải pháp duy nhất và chủ nghĩa cộng sản là phương tiện duy nhất để thống nhất đất nước? Chúng ta đã làm được gì ngoài việc nhớ những gì cần nhớ và quên những điều muốn quên? Ngoài vô vàn những lời tung hô và ngụy biện, có lời xin lỗi nào?

Xác người Việt trải dài, bao gia đình ly tán, những ranh giới giữa lòng người, và những hậu chứng tinh thần của chiến tranh (với người dân cả hai miền) và hòa bình (với người dân miền Nam), có con số thống kê nào ghi lại đủ? Ngoài việc đổ lỗi bên này, bên kia, thế lực quốc tế, thế lực thù địch, có ai thấy mình có trách nhiệm?

Cách đây vài hôm, về nhà, thấy ba mẹ tôi đang xem buổi họp báo của ông Thiệu ở Cali năm 90, trong DVD Quảng Trị, tôi hỏi: “Ông ấy có xin lỗi không?” Mẹ nói: “Ổng nói – ổng chịu trách nhiệm về thất bại của miền Nam, nhưng không một lời xin lỗi”. Phải chăng đó là văn hóa của người Việt? Người càng lớn, quyền càng lớn, trách nhiệm càng lớn, lỗi càng lớn thì sự “nhận lỗi và xin lỗi” càng là chuyện không thể nào? Dù sao, ông vẫn còn can đảm để mở một cuộc họp báo, đối diện và nhận trách nhiệm với bà con.

Bên này, vẫn còn không ít người mặc lại quân phục cũ, đeo huy chương (đem theo khi bỏ chạy hay mua ở một tiệm nào đó?), không chỉ loại bỏ chữ “cựu” trước cấp bực, mà một số còn không quên tự thăng chức theo năm tháng. Họ tự ca tụng hay ca tụng nhau những chiến tích lẫy lừng. Tự huyễn hoặc mình, hậu chứng chiến tranh hay tâm lý tự mãn? Những người lãnh đạo, những người từng tham nhũng, những người từng đào ngũ, có ai thấy mình đã gián tiếp góp phần vào biến cố 30.4.75?

Bên kia, tiếp tục những bài ca chiến thắng cùng công việc thao túng, cắt xén lịch sử. Họ có thể bắt tay với Mỹ, với Trung Quốc, sao không thể với đồng bào của mình? Họ có thể giúp tìm MIA, tưởng niệm những người lính Trung Quốc đã bỏ mình ở Việt Nam, nhưng đã làm gì cho những người đã nằm xuống và thương phế binh (hai bên), những người đã chết ở những trại cải tạo, trên đường vượt biên?

Nghị quyết 36 ngày 26.3.2004 khiến không ít người kỳ vọng, chờ đợi. Nhưng, thay cho lời xin lỗi, nhà nước Việt Nam vào tháng 6.2005 đã gây áp lực với chính quyền Malaysia, đục bỏ tấm bia tưởng niệm những thuyền nhân đã bỏ mình (vừa được kiều bào dựng vào dịp 30.4.2005), tấm bia tưởng niệm những người không may, không có cơ hội thành Việt kiều,  Họ có thực lòng muốn hòa giải với quá khứ?

Tin rằng (những) lời xin lỗi chính thức, thành tâm của những người có trách nhiệm (và lương tâm) có thể xoa dịu được vết thương chưa lành, và tin rằng nó có hiệu quả hơn hẳn mười Nghị quyết 36 hay hai mươi Hội nghị Việt kiều.

Vấn đề hòa giải, hòa hợp đơn giản là sự bất cập trong quan niệm. Bên này coi đó là việc chìa tay của kẻ chiến thắng, một sự hợp tác, điển hình, có thể là một (hay nhiều) cuộc họp báo, lời xin lỗi, đối thoại, và những chính sách, nghị quyết công bằng cho mọi kiều bào (từ ngàn, trăm hay dù chỉ chục dặm!). Bên kia coi đó là sự thần phục của người chiến bại, trên tinh thần kẻ góp tiền, người góp quyền, điển hình, là Đại hội Việt kiều (ngàn dặm) vừa qua.  Không thống nhất được quan niệm, kêu gọi, tranh luận việc hòa giải hòa hợp hay không cũng bằng thừa.

Lịch sử, chúng ta không thể thay đổi, nhưng giá trị của nó không chỉ ở những vòng hoa chiến thắng mà còn ở những bài học từ lỗi lầm và thất bại. Còn nhớ lần viếng thăm Viện Bảo tàng Holocaust ở Washington DC, chúng tôi đã dừng lại thật lâu trước bức tường ở lối vào, được khắc hàng chữ: “We who did not go their way owe them this. We must make sure that their deaths have posthumous meaning. We must make sure that from now until the end of days all humankind stares this evil in the face… and only then can we be sure it will never arise again.” Ronald Reagan.

Cuộc chiến đã qua 35 năm, tàn dư vẫn còn đó. Được cái gì? Một nước Việt Nam hôm nay, vẫn chưa từng biết tới tự do, dân chủ thật sự, con người thì vô cảm trong một xã hội vô cảm đầy bất an?

Vô cảm là sản phẩm của việc bị bịt tai, bịt mắt, khóa miệng 35 năm, lâu ngày thành tự bịt, tự khóa? Người ta không có lỗi khi bị biến thành như vậy, nhưng có thể tránh trách nhiệm của từng cá nhân vô cảm đã và đang tạo thành một xã hội vô cảm? Người không biết là thiếu trí, có trí mà chấp nhận là thiếu dũng. Sợ cũng là chuyện tất yếu dưới một chế độ độc tài, và để nhận “sợ”, nhận “hèn” cũng cần một chút hay nhiều chút dũng khí và trung thực.  Chọn lựa quay lưng là một biện pháp an toàn. “Khi không (chưa) thể thay đổi xã hội chỉ đành thay đổi môi trường sống, nếu có cơ hội”, đây cũng là điều tôi từng nói với bạn bè, khi họ hỏi tôi “có nên đi hay không?” Có lẽ, khi thay đổi môi trường (thoát được cái sự sợ) con người sẽ thoát được sự vô cảm chăng?

Tôi thực sự không biết, nếu không rời Việt Nam, liệu bây giờ tôi (và nhiều người khác ở hải ngoại) có là một (hay nhiều) người vô cảm không?

Tàn cuộc đất nước hôm nay, bất kể vì nguyên nhân nào, cũng cần được dọn dẹp. Nhiều người thấy, nhiều người biết, và dĩ nhiên vẫn còn rất nhiều người quay lưng, và một số khác tiếp tay xả rác và coi đó là cơ hội vàng son để kinh doanh rác. Không có thay đổi từ trên trời rơi xuống, cũng không có phép màu để một ngày rác tự động biến mất. Không phải ai cũng có khả năng và can đảm để đứng ở tuyến đầu. Không phải tôi, tôi biết vậy. Nhưng tôi biết tôi có thể là một phần của đám đông. Không có đám đông, những người ở tuyến đầu sẽ cô độc biết mấy? Sự đấu tranh và hy sinh của họ không phải oan uổng và vô nghĩa hay sao?

Trước khi có thể dọn sạch rác, cần một số đông, thật đông, nhất là trí thức nhìn thấy rác và không xả rác.

Gia nhập đám đông, trước hết bằng sự tìm hiểu và lòng quan tâm. Không chỉ đọc, tôi thường gởi những bài viết chia sẻ với bạn bè ở Việt Nam. Một vài người ủng hộ, trao đổi, bàn luận (không nhất thiết tán đồng), còn số đông khác im lặng. Họ không đọc, không muốn đọc, không dám đọc, hay đọc mà chưa muốn lên tiếng… tôi hiểu và thông cảm. Tôi biết họ không vô cảm, bằng chứng là chưa có ai bảo tôi ngừng gởi. Tôi tin một ngày nào đó họ sẽ đọc, sẽ chuyển tiếp và chia sẻ cho bạn bè họ.

Thế hệ trước (cả Bắc lẫn Nam) đã mất tự chủ và phạm nhiều sai lầm, nhưng ít ra đa số họ đã sống bằng lý tưởng và trách nhiệm với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ và bằng cả mạng sống, đây là điều đáng ngưỡng mộ và học hỏi. Còn chúng ta, đã làm được gì?

Dù sao tôi vẫn cứ hy vọng.

25.4.2010

© 2010 Hạnh Đào

© 2010 talawas

Phản hồi

13 phản hồi (bài “Hạnh Đào – Lại 30 tháng Tư”)

  1. Tri Ngộ nói:

    Cái chữ “rác” của bạn cần phải được định nghĩa rõ ràng. Rủ người ta đi dọn rác thì phải nói cho rõ là rác do ai vất, và ở đâu ? Dọn dẹp thì sẽ có những dụng cụ gì ? Dọn bằng tâm hài hoà hay bằng tâm sân hận ? Dọn như thế nào để không bị mất mát và gây đổ vỡ thêm (tức là thêm rác) vì biết đâu trong rác chẳng có hoa ?

  2. Lê Văn nói:

    Xin cám ơn t/g Hạnh Đào. Bài viết đã mang lại cho cá nhân tôi niềm hy vọng.

  3. Lee Can nói:

    MỘT HOÀI NIỆM… (tiếp)

    Thời gian đó quả là một chuỗi ngày tháng vô tư thú vị. Chúng tôi không làm gì hơn là kéo nhau đi rong, đi tắm biển, ngồi tụm năm tụm ba tán gẫu, quan sát các anh bộ đội, có khi hỏi chuyện với vẩn với họ nữa. Những người qua kẻ lại trông cũng sáng sủa, thảnh thơi hơn trước, trừ mấy “ông ba mươi” non choẹt nhưng mặt mũi cô hồn. Gia đình tôi cũng hạnh phúc không tả được, vì ba và anh rể (tương lai) tôi, lính VNCH, tưởng đã chết mất xác hay mất tích, nhưng bất ngờ đã trở về.

    Nhưng ngày vui cũng qua nhanh. Tình hình thay đổi rõ khi chúng tôi trở lại trường lớp để học một khoá chuyển tiếp (hay gì gì đó) chuẩn bị cho niên học hoàn toàn mới. Bọn tôi lả người vì những buổi họp, giờ chính trị dài vô tận, rã chân và điếc tai trong những buổi mítting cũng dài vô tận.

    Cái đói cũng ập đến trong thời gian này. Mẹ tôi cứ phải chạy đông chạy tây vay cơm mượn gạo và luôn miệng than phiền, Gạo bên Bà Rịa đầy cả mà ở đây mình không được mua. Cũng có tin có gia đình đã ăn trộm cháo heo của nhà hàng xòm.

    Lúc đó cũng bắt đầu có những vụ rải truyền đơn chống cộng, những tiếng súng nổ lác đác trong đêm nghe đâu là do quân giải phóng rượt đuổi tàn quân trên núi….

    Về sau còn những chuyện khác nữa. Những chuyện làm người ta luôn nhìn sự vật theo một cái khung méo mó hơn là nó được các nhà tâm lí xem như thông thường nơi con người.

    Nhưng 35 năm đã qua. Cái khung đó chắc cũng sắp đến lúc gỡ bỏ được. Hi vọng …

  4. Lee Can nói:

    MỘT HOÀI NIỆM 30 THÁNG 4

    30 tháng 4 năm 1975, và một hai ngày trước đó, là khởi đầu cho một khoảng thời gian đầy niềm vui cho anh chị em tôi và lũ bạn hàng xóm cùng trang lứa.

    Nơi tôi sinh ra và lớn lên, Vũng Tàu, vẫn là nơi yên bình nhất miền Nam trong suốt những năm chiến tranh. Những gì xảy ra một vài tháng trước 30/4 do đó vượt quá sức tưởng tượng của chúng tôi – có lẽ nhất là chị tôi và tôi, do chúng tôi ở trong đoàn cứu trợ của Gia đình Phật tử, được đi nhiều nơi và nghe kể, chứng kiến nhiều chuyện hãi hùng, thương tâm.

    Thành phố lúc đó như cong oằn vì những tin tức về một cuộc chiến ngày càng đến gần hơn, cũng như những tin đồn đủ loại và những bàn tán vô tận của người lớn về sự bại trận không thể tránh khỏi, một cuộc tắm máu toàn diện, những vụ đấu tố chắc chắn sẽ có khi VC vào, v.v. và v.v. Không hiểu lắm về những chuyện kể đó, nhưng tôi hoang mang, sợ lây theo cái sợ hãi, âu lo của người khác.

    Làm gia tăng cường độ cho nó là những cảnh chứng kiến tận mắt, như lính đi cướp phá, bắn giết nơi các hàng quán, những biệt thự và nói chung nhà giàu có. Và không chỉ lính -về sau được nghe đó là lính rã ngũ-, mà còn những người địa phương theo đóm ăn tàn nữa. Những chuyện này xảy ra nhiều, quá nhiền khiến ngay một đứa trẻ nít như tôi lúc ấy cũng biết thầm lo. Làm sao mà biết nhà mình, không vô phúc lọt vào mắt xanh của bọn người đó, dù rằng trong nhà bây giờ có thêm hàng chục người khác?

    Lúc đó, cũng như thông thường, ba tôi và người anh rể vắng nhà. Những người mới trong nhà là khách lạ, người tị nạn từ miền Trung. Trước đó khá lâu, mẹ tôi đón họ về vì lòng thương. Nhà không có đủ chỗ nên nhiều người phải ăn ngủ ngoài sân. Không ngờ sự có mặt của họ lại giúp mẹ con chúng tôi yên tâm hơn rất nhiều, và có thể cũng nhờ đó nhà tôi -trông cũng khang trang, lại nằm gần đường lộ nhưng xa cách những nhà khác- tránh được nạn cướp phá.

    Người tị nạn từ miền Trung, và lính, lúc đó thấy ở khắp nơi trong thành phố. Đình, chùa, trường học,…làm như chỗ nào có khoảng trống, chỗ ấy đầy nghẹt người tị nạn. Trường tôi học nhanh chóng trở nên trơ trọi vì những cây phượng ở trong sân và chung quanh trường bị đốn mất. Ngay cả chùa Linh Sơn vốn thanh tĩnh và rất đẹp, nhưng chỉ sau một hai ngày cho người tị nạn ở thì cây cảnh cũng bị chặt, ao hồ cũng cạn cả nước, và bàn ghế học giáo lí v.v. cũng biến thành củi đun.

    Theo bà chị làm công việc cứu trợ ở đây cũng như các nơi khác, tôi nghe được nhiều chuyện kinh hoàng thương tâm mà họ trải qua trên đường tị nạn. Chẳng hạn câu chuyện vợ con một sĩ quan bị lính của ông hãm hiếp trên tàu rồi giết chết, vất xác xuống biển, ngay trước mặt ông này.

    Nhưng đó là chuyện nghe được. Hãi hùng, không quên được là nhìn tận mắt cảnh những xác người trương phình trôi dật dờ trên mặt biển, hoặc ghê gớm hơn nữa, những xác người thâm đen và như rỉ nước vì bị chèn chặt như cá hộp trong một vài chiếc xà lan thấy ở căn cứ Hải quân gần ngã tư Giếng nước ….

    Nghe, chứng kiến, cảm nhận những gì xảy ra chung quanh trong những ngày đó, tôi thấy mình như đang bị sốt, như đang chạy ngược chạy xuôi trong một thế giới bít kín, hư ảo và ghê rợn, một thế giới giống như một quả bóng căng cứng đang chờ đúng lúc để nổ tung. Cảm giác này càng ngày càng lớn dần, và nó trở nên đáng sợ vào một ngày gần 30 tháng 4. Những ồn ào, hỗn loạn trước đó bỗng dưng biến mất. Cả thành phố chìm trong sự vắng lặng chết chóc. Mọi người đang chờ đợi cuộc tử chiến giữa quân VNCH và “cộng quân” đang tiến đến từ phía tỉnh Phước Tuy.

    Nhưng suốt ngày không có gì xảy ra. Đến đêm thì có một loạt đạn đại bác ngắn ngủi nhắm vào đài vi ba trên Núi Lớn. Từ đó cho đến suốt ngày hôm sau không có gì xảy ra nữa. Không có gì ngoài sự vắng lặng. Vắng lặng gần như tuyệt đối.

    Hôm đó chúng tôi không ra ngoài. Nhưng nhìn ra đường cũng biết mọi người đều như mình, và lính VNCH thì biến mất tăm mất tích từ lúc nào. Rồi bỗng dưng trong nhà tôi có người bật khóc, rồi nhiều người khác khóc theo. Họ sợ những việc tàn tệ mà bộ đội mang tới. Nhưng, một lần nữa, không có gì tàn tệ xảy ra cả khi bộ đội vào. Họ vào lúc nào cũng không ai biết.

    Không hiểu do tin từ đâu mà bọn trẻ chúng tôi không hẹn mà cùng nhau kéo ra đường xem bộ đội. Chúng tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Họ đi theo một hàng dọc thật dài. Có người mặt mày dữ tợn, nhưng cũng có những gương mặt hiền lành, thân thiện. Nhiều người cười chào chúng tôi dù không ai nói lời nào. Tất cả đều gầy gò, thấp bé, nhợt nhạt, và càng có vẻ gầy gò, thấp bé, nhợt nhạt hơn trong bộ quần áo lính có màu kì cục và thùng thình.

    Chiến tranh đã qua, dù nó chưa bao giờ thật sự đến với chúng tôi.

  5. “Lấy chí nhân để thay cường bạo
    Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn”
    Nhưng sẵn sàng vì chủ nghĩa ngoại bang
    Ta giải phóng, giải phóng lời tự thú

    Lấy bạo quyền, ta giải phóng dân chủ
    Lấy độc tài, ta giải phóng tự do
    Lấy lầm than, ta giải phóng ấm no
    Lấy rừng rú, ta giải phóng thành phố

    Lấy dốt nát, giải phóng người thức ngộ
    Lấy ngu đần, ta giải phóng văn minh
    Lấy thù sâu, ta giải phóng nghĩa tình
    Lấy dối lừa, ta giải phóng sự thật

    Lấy tiểu nhân, giải phóng người chân chất
    Lấy nỗi buồn, ta giải phóng niềm vui
    Lấy nước mắt, ta giải phóng nụ cười
    Lấy đau thương, ta giải phóng hạnh phúc

    Lấy ngoại lai, giải phóng tình dân tộc
    Lấy bạo tàn, ta giải phóng nhân sinh
    Lấy máu tanh, giải phóng sự yên bình
    Vì vô sản, giải phóng người tư bản

    Ta giải phóng, vinh danh người Cộng Sản
    Giải phóng người, ai sẽ giải phóng ta?

    tác giả: Dzu Kaka

  6. Hoà Nguyễn nói:

    Một bài phỏng vấn tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trên VOA nhân ngày 30-4 rất đáng đọc và suy ngẫm, tuy vài luận điểm (chính) có thể không được đồng tình từ nhiều phía.

    Xin giới thiệu:

    Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng 4 dưới mắt Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ

    http://www1.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/vietnam-war-a-perspective-from-hanoi-4-29-10-92469969.html

  7. kl nói:

    Cám ơn Hạnh đã nói thay những điều mà thế hệ trẻ (hệ lụy của chiến tranh) muốn nói. Mong dân tộc Việt Nam ngày càng đòan kết và xóa bỏ những thù hằn của chiến tranh để cùng nhau xây dựng đất nước và bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam. Hy vọng thế hệ trẻ càng ngày càng có sự quan tâm nhiều hơn đối với đất nước và không còn là người vô cảm, vô tâm với tình hình Việt Nam.

  8. Nguyễn Việt nói:

    Ngày 30.4 cách đây 35 năm, tôi ở phía những nguời chiến thắng, tiếp quản các đô thị mới “giải phóng”.

    Từ đó đến nay tôi đã được đọc nhiều tâm sự, nhiều bài viết về số phận của những người được giải phóng. Nhưng đây là một bài viết gây ấn tượng mà tôi được đọc vào đúng buổi sáng hôm nay, ngày 30.4.2010.

    Cảm ơn Hạnh Đào và tôi chỉ mong những kẻ làm tắc dòng chảy lịch sử hãy tỉnh ngộ, để cho đôi nạng không còn ám ảnh cuộc sống con cái bạn nữa.

  9. Hoàng Trường Sa nói:

    Xin cám ơn bài viết chững chạc và cân bằng của tác giả trẻ HẠNH ĐÀO và xin kính mời quý vị đọc thêm bài dưới đây của Nhạc sĩ TÔ HẢI (mà cá nhân tôi chia sẻ nhiều điểm):
    HÒA HỢP-HÒA GIẢI? KHÔNG BAO GIỜ! NẾU….

  10. Phùng Tường Vân nói:

    “Cứ đốt lò hương cho đến sáng
    thử xem mưa gió đến bao giờ” !

    (Ông Tú Hải Văn)

  11. Trung Nu Hoang nói:

    Bài viết HAY và THẤM lắm ! Xin Cám Ơn tác giả Hạnh Đào.
    Thời gian 35 đã đủ sâu lắng để có cái nhìn tỉnh táo và sáng suôt về những cái Đúng / cái Sai cũng như những hệ lụy của cuộc chiến tàn khốc, đã dẩy lùi đất nước vào vị thứ gần … chót trên vũ đài quốc tế !

  12. nguyen mai linh nói:

    Chính quyền Việt nam Cộng sản thì rất ghét đám đông, thậm chí rất sợ. Bởi vì, chính những việc làm của đám đông trong quá khứ, đã tạo nên những thành quả cho họ ngày hôm nay, nhưng đám đông bây giờ, nếu có thể họp và đoàn kết lại, thì đó chính là lực lượng phế bỏ đi quyền hành mà họ đang có và nắm giữ.

  13. Thanh Nguyễn nói:

    @Hạnh Đào:
    - Tôi tình nguyện cùng đứng chung trong đám đông của bạn.
    Cảm ơn bạn về một bài viết thật tuyệt!

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả