talawas blog

Chuyên mục:

Lại Nguyên Ân – Xuân Diệu, trong những năm 1954-1958 (1)

07/05/2010 | 8:00 sáng | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Lại Nguyên Ân

Chuyên mục: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: > >

0. Thời gian gần đây trên báo chí đôi lúc xuất hiện những bài viết về cuộc đời các nhà văn nhà thơ nổi tiếng với những thông tin có vẻ lần đầu được đưa ra với công chúng; tác giả những thông tin ấy thường bảo rằng đây là chuyện của chính tôi, hoặc chuyện của danh nhân người nhà tôi, nghĩa là rất đáng tin cậy! Thế nhưng nghĩ kỹ lại, người ta vẫn thấy những bất ổn kèm theo các thông tin ấy. Vậy làm sao có thể biết được rằng các thông tin về quá khứ kia là đúng hay là sai?

Theo lẽ thường, để có thể tin cậy được, ngay các “chuyện thật ngày xưa” do chính người trong cuộc kể lại cũng cần được kiểm chứng. Vì sao ư? Vì sự kiện của quá khứ được kể lại chậm dăm bảy năm, thậm chí vài chục năm, là loại sự kiện mà trí nhớ con người vừa khôi phục nó vừa làm méo nó. Trí nhớ không giống như chiếc thẻ ghi hình hay ghi tiếng ta biết hiện giờ. Cơ chế của trí nhớ thường là vừa giữ lại vừa làm khúc xạ cái mà nó lưu giữ; và mỗi khi cần tái công bố một dữ liệu của quá khứ, trí nhớ người ta sẽ diễn đạt theo cách vừa phục hoạt nó lại vừa hư cấu nó. Tóm lại, cái dữ kiện quá khứ mà người ta được biết qua những “hồi ức kể muộn” là khá ít đáng tin cậy; muốn tin được tình tiết nào cần phải kiểm tra tình tiết ấy. Kiểm tra bằng cách nào? Bằng đối chiếu với tư liệu nguồn (là tư liệu đương thời của những “ngày xưa” ấy) hoặc với các tư liệu thứ sinh (ví dụ hồi ức của những người cùng thời khác).

Để cụ thể hoá những điều nói trên, xin đi vào một vài trường hợp, tốt nhất là chọn được những trường hợp có liên quan đến một vài nhân vật mà nhiều người nghe biết. Xin nói đến nhà thơ Xuân Diệu (1916-85).

Vừa năm ngoái, người tự thông báo là “thừa kế duy nhất của nhà thơ Xuân Diệu”, ông Cù Huy Hà Vũ, trong bài “Có một Xuân Diệu nhà báo”, bên cạnh những tài liệu mà chỉ “người trong nhà” (thân nhân) mới có thể có để công bố, như một số bức ảnh quý hiếm chụp bộ đôi Huy-Xuân cùng Xuân Như em gái Xuân Diệu (cũng có thể gọi đó là ảnh vợ chồng Huy Cận-Xuân Như chụp cùng ông anh vợ là Xuân Diệu), ảnh Xuân Diệu chụp cùng mấy thành viên Tự lực Văn đoàn, ảnh tấm thẻ nhà báo của Xuân Diệu với tư cách phóng viên tờ Tiên phong (chữ TIÊN không có dấu huyền) của Hội Văn hoá Cứu quốc năm 1945, v.v… Vâng, các tư liệu ấy rất quý; nhưng bên cạnh đó trong bài lại có những thông tin rất… khó tin, chẳng hạn:

− lúc đó (?) với tư cách là thư ký của báo Văn, tiền thân của báo Văn nghệ, Xuân Diệu đã cho đăng các tác phẩm của Phan Khôi, Thụy An… kết quả là Xuân Diệu bị “cách” khỏi ban phụ trách tờ Văn bằng cách được cử làm trưởng đoàn nhà văn đi thăm nước bạn Hungary;

− năm 1970, Xuân Diệu được cử phụ trách tờ Tác phẩm mới của Hội Nhà văn, đã bị phê bình vì cho đăng bài tuỳ bút “Phở” của Nguyễn Tuân v.v…

Lại vừa đây trên báo Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 162 (tháng 7/2008) cũng Cù Huy Hà Vũ với bài “Có một Xuân Diệu – nhà báo cách mạng” (tr. 45-47), tương tự bài kể trên (chỉ bỏ qua phần Xuân Diệu làm báo trước 1945), tuy đã không còn giữ lại chi tiết cho rằng Xuân Diệu là người cho đăng tuỳ bút “Phở” của Nguyễn Tuân, nhưng lại đưa ra như khẳng định một sự kiện: rằng khi phụ trách tờ Tác phẩm mới, Xuân Diệu “lại bị chỉ trích vì cho đăng những bài không thật “lập trường” cho lắm”, và để cách chức ông, đưa ông về quy chế “viết văn chuyên nghiệp”, người ta đã “tạm ngừng xuất bản” tạp chí Tác phẩm mới từ số tháng 2/1976, mãi đến tận tháng 1/1987, tức 2 năm sau khi Xuân Diệu mất (18/12/1985) mới tục bản dưới tên gọi Tác phẩm văn học (về sau đổi lại là Tác phẩm mới và nay là tạp chí Nhà văn)!

Về mấy thông tin này, những ai bây giờ đang ở trạc 60 tuổi hẳn đều thấy việc cho rằng “báo Văn là tiền thân của báo Văn nghệ” − đã là chuyện sai lầm quá rõ.

Tuần báo Văn chỉ mới ra số đầu vào ngày 20/5/1957, với tư cách cơ quan của Hội Nhà văn khi đó vừa được thành lập; làm sao có thể là tiền thân của tờ Văn nghệ, cơ quan của Hội Văn nghệ Việt Nam, vốn ra mắt từ năm 1948 ở Việt Bắc?

Bài tuỳ bút nhan đề “Phở” của Nguyễn Tuân được đăng lần đầu ngay ở số 1 và số 2 của tuần báo Văn, đâu cần đợi chờ hơn 10 năm sau nữa mới được Xuân Diệu cho đăng lên Tác phẩm mới để “bị phê bình”?

Và tiếp theo, người ta có thể ngờ vực các chi tiết “hồi ức” (2007-2008) khác nữa của Cù Huy Hà Vũ, như chuyện liệu có phải Xuân Diệu đã là người đưa đăng tác phẩm của Phan Khôi, Thụy An (hồi nào? 1956 chăng?)… Còn việc Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1976 ngừng Tác phẩm mới  dưới dạng tạp chí để chuyển đổi nó thành nhà xuất bản, lại được Cù Huy Hà Vũ giải thích như chỉ là nhằm cách chức tổng biên tập của Xuân Diệu, thì quả là một hư cấu quá quy mô! Quá quy mô ở chỗ nó bao trùm cả 2 sự việc: việc ngừng Tác phẩm mới dạng tạp chí để chuyển thành nhà xuất bản vào năm 1976 vốn được nhiều người biết tới như cách “qua mặt” ông Như Phong – chủ NXB Văn học lúc đó đang tỏ ra “xấu chơi” không chịu in sách cho mấy nhà văn vai vế; còn việc lập ra tạp chí Tác phẩm văn học vào năm 1987 vốn được nhiều người biết tới như cách mà Nguyễn Đình Thi tạo ra phương tiện[1] để đối phó với tuần báo Văn nghệ lúc ấy đang nằm trong tay Nguyên Ngọc. Hãy thử hỏi những người đã cao tuổi mà đến lúc này (tháng 8/2008) còn khoẻ mạnh tỉnh táo như Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Nguyễn Quang Sáng, v.v… và cả Nguyên Ngọc nữa, xem sự thể những chuyện đó ra sao?

Tất nhiên, chạy theo để “đính chính” các chi tiết lẻ tẻ như nêu trên[2] có thể sẽ mãi mãi làm không hết những việc… vặt! Tôi nghĩ có một cách làm khả thủ hơn, là hãy để công tìm hiểu xem, trong một đoạn thời gian nhất định, Xuân Diệu như một tác gia, một nhà hoạt động trong giới văn nghệ, đã làm những gì. Tài liệu để tìm hiểu có thể là cả những hồi ức sớm hoặc muộn khác nhau của những người cùng thời hoặc hậu thế có liên quan, nhưng không thể bỏ qua nguồn tài liệu là sách báo xuất bản trong chính thời gian ấy, − một loại bằng chứng có từ đương thời mà nay vẫn còn lại đó, ít khả năng phản phúc hơn các loại nhân chứng khác. Nói đúng ra, cách làm này là một hướng rất nên theo, khi người làm nghiên cứu văn học tiếp cận một tác gia cụ thể, hoặc người làm nghiên cứu sử học tiếp cận một nhân vật lịch sử cụ thể.

Theo cách này, tôi sẽ thực hiện một ví dụ là tìm hiểu hoạt động của Xuân Diệu trong những năm 1954-58.

*

1. Xuân Diệu làm việc trong toà soạn tạp chí Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam ở Việt Bắc từ 1948, bên cạnh những thành viên khác của toà soạn là Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyễn Tuân. Ở số tạp chí Văn nghệ sau cùng trước khi các văn nghệ sĩ cùng hầu hết các lực lượng kháng chiến cấp trung ương đóng ở Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội, tức là ở tạp chí Văn nghệ số 56 (tháng 10/1954), Xuân Diệu đứng tên dưới bức thư [3] gửi giới nhà văn nhà thơ đang sống trong Hà Nội từ thời tạm chiếm, bên cạnh thư đứng tên Trần Văn Cẩn gửi các hoạ sĩ, thư đứng tên Nguyễn Cao Luyện gửi giới kiến trúc sư.

Trở về Hà Nội, tạp chí Văn nghệ đổi thể tài, từ dạng tạp chí chuyển sang dạng báo (mỗi số khoảng từ 8 đến 12 trang khổ 34×45 cm, nay gọi là khổ A3). Ban đầu, từ 1/11/1954, định kỳ dạng bán nguyệt san, đánh số từ số 57 (tiếp tục 56 số đã ra từ 1948 đến 10/1954), ra vào các ngày 1 và 15 hàng tháng; từ đầu tháng 2/1955 Văn nghệ  ra 3 kỳ/1 tháng; từ đầu tháng 7/1955, Văn nghệ ra hàng tuần.

Toà soạn báo ban đầu đóng ở 51 Trần Hưng Đạo, từ số 76 (7/7/1955) chuyển đến số 6 Quang Trung. Thành phần toà soạn (ghi trên manchette mỗi số báo) gồm: Trần Văn Cẩn, Xuân Diệu, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Cao Luyện, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi. Thư ký toà soạn từ số 57 đến số 80 (4/8/1955) là Xuân Diệu.

Từ số 81 (11/8/1955) thành phần toà soạn, ngoài số người như trên, còn có ghi thêm tên Tú Mỡ; thư ký toà soạn là Nguyễn Đình Thi.

Chỗ này cần ghi chú thêm rằng, theo cách cấu tạo thành phần chủ trì một tờ báo “đoàn thể” như tạp chí Văn nghệ từ hồi ở Việt Bắc thì cơ quan này không có các chức danh chủ nhiệm hay chủ bút; vì vậy, thư ký toà soạn giữ vai trò quan trọng nhất trong hoạt động chuyên môn của một cơ quan báo chí, tương tự chức danh Tổng biên tập hiện nay.

Từ số 121 (17/5/1956) Văn nghệ thay đổi thành phần toà soạn; các thành viên của toà soạn mới gồm: Văn Cao, Xuân Diệu, Tế Hanh, Bùi Hiển, Nguyên Hồng, Tú Mỡ, Chu Ngọc, Sỹ Ngọc; thư ký toà soạn: Nguyễn Đình Thi; thành phần này được giữ nguyên cho đến tận sau Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ hai (từ 20 đến 28/2/1957), khiVăn nghệ dạng tuần báo tạm dừng lại ở số 162 (1/3/1957) để chuyển đổi tổ chức (sẽ trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam vừa thành lập) và thể tài (sẽ chuyển sang thể tạp chí từ tháng 6/1957).

Như vậy, với tờ báo Văn nghệ thời đầu khi mới trở về Hà Nội (tháng 11/1954 – tháng 3/1957), Xuân Diệu có một thời gian ngắn tiếp tục làm thư ký toà soạn, sau được thay bằng Nguyễn Đình Thi, nhưng Xuân Diệu luôn luôn là thành viên toà soạn. Sau khi Nguyễn Đình Thi thay thế Xuân Diệu ở vai trò thư ký toà soạn, quả là báo Văn nghệ (số 82, ngày 18/8/1957) có đưa tin “nhà thơ Xuân Diệu cùng nhạc sĩ Tạ Phước lên đường đi Hungary hôm 15/8/1957 để dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách mạng Việt Nam ở Budapest và nghiên cứu văn học nghệ thuật nước bạn”. Ngoài ra, cũng đừng nên quên rằng thời gian này Xuân Diệu vẫn đang là đại biểu Quốc hội khoá 1, cho đến năm 1960 mới mãn nhiệm.

Trong thời gian Xuân Diệu giữ vai trò thư ký toà soạn Văn nghệ nói trên (từ 1/11/1954 đến 4/8/1955), có thể thấy báo đã đăng bài vở sáng tác của rất nhiều tác giả, kể cả những tác giả sau đó ít lâu sẽ can dự Nhân văn – Giai phẩm, nhưng ngoại trừ một số bài viết tham gia thảo luận về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu có thể cho là “có vấn đề”, còn lại, những bài viết khác hầu như không “có vấn đề” gì cả; khó có thể nhận định rằng thư ký toà soạn Xuân Diệu đã bị khiển trách vì cho đăng các bài vở đó.

Chính trong thời gian Xuân Diệu làm thư ký toà soạn Văn nghệ, cuộc thảo luận về tập thơ Việt Bắc và tiểu thuyết Vượt Côn Đảo đã làm sôi nổi không khí văn nghệ miền Bắc ngay sau hoà bình lập lại.

Tập thơ của Tố Hữu phát hành vào giữa tháng 12/1954 thì ngay đầu năm mới, Xuân Diệu đã cho đăng bài viết khá dài của mình liền trong 2 kỳ báo Văn nghệ  (số 62 ra ngày 15/2/1955 và số 63 ra ngày 28/2/1955) nhan đề “Đọc tập thơ Việt Bắc”. Có lẽ trong việc lên tiếng chào đón tập Việt Bắc thì bài của Xuân Diệu chỉ chậm hơn duy nhất so với bài của Xuân Trường đăng báo Nhân dân số Tết. Theo dõi kỹ tin tức, ta còn biết trong thời gian này, Xuân Diệu ít nhất có 2 lần đi nói chuyện về thơ Tố Hữu với sinh viên. Nhân tập Việt Bắc, Xuân Diệu điểm lại cả đời thơ Tố Hữu tính đến lúc đó,

“Con đường ngót 20 năm nay Tố Hữu đã đi là một con đường vinh quang kỳ diệu. Chỗ kỳ diệu lớn lao là nhà thi sĩ làm cách mạng và nhà cách mạng làm thơ, và thơ rất thành công”… “Cách mạng càng ngày càng thắng lợi, càng to lớn, đồng thời càng đưa tài thơ của Tố Hữu nở dần đến chỗ tròn đầy, lộng lẫy. Đó là sự tương quan mật thiết giữa hành động và văn chương mà Tố Hữu là điển hình đẹp nhất.”

Tất nhiên Xuân Diệu không quên chỉ ra những nhược điểm của tác giả tập thơ Việt Bắc như “nặng về tình cảm xã hội mà hầu như không nói đến những tình cảm của cá nhân”, “con người cán bộ trong Tố Hữu bao trùm con người thường”, “nặng về tổng hợp”… “bỏ mất những nỗi niềm của mỗi một con người, của mỗi cá nhân trong quần chúng”.[4]

Ngoài vai trò một nhà phê bình như trên, Xuân Diệu trong vai trò thư ký toà soạn báo Văn nghệ hẳn cũng đã giữ vai trò chính trong việc cho đăng hầu hết các bài tham gia thảo luận về tập thơ Việt Bắc. Nếu nói đến phần trách nhiệm (cần phải đưa ra để kiểm điểm chẳng hạn), thì trong số những bài đó có lẽ cần lưu ý trước hết là những bài đánh giá tiêu cực về tập thơ, ví dụ của Hoàng Yến (“Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không?”, Văn nghệ số 65, ngày 11/3/1955; bài này vốn đăng tập san Sinh hoạt văn nghệ, tiền thân tạp chí Văn nghệ quân đội, đồng thời cũng đăn báo Nhân dân trong các ngày 3, 4, và 5/4/1955), của Hoàng Cầm (“Tập thơ Việt Bắc ít chất sống thực tế”, Văn nghệ số 67, ngày 1/4/1955; “Bổ sung ý kiến của tôi về tập thơ Việt Bắc”, Văn nghệ số 70, ngày 1/5/1955), của Lê Đạt (“Giai cấp tính trong thơ Tố Hữu”, Văn nghệ số 68, ngày 11/4/1955); của Nguyễn Văn Phú (“Vài điểm non yếu trong nghệ thuật tập thơ Việt Bắc”, Văn nghệ số 69, ngày 21/4/1955).

Tất nhiên, số bài đánh giá tích cực, đánh giá cao và rất cao tập thơ của Tố Hữu mà toà soạn Văn nghệ cho đăng vẫn nhiều hơn hẳn, trong đó có bài viết của các nhà văn có tên tuổi và cũng đang có thế lực như Xuân Diệu, Hoài Thanh, Tú Mỡ, Nguyễn Đình Thi, v.v…, của các nhà văn có tên tuổi nhưng ít thế lực như Nguyễn Viết Lãm, Vũ Đình Liên, Đông Hoài, của các cán bộ chính trị như Xuân Trường, Trần Độ, Minh Tranh,… của những bạn đọc vô danh mà mà về sau sẽ có người thành danh (Phan Cự Đệ, Hoài Việt, Thẩm Lăng, Trọng Anh); điển hình về sự nhiệt tình đến mức gần như cuồng tín trong số đó là một cây bút mà về sau, khi trở nên hữu danh, sẽ được ghi nhận như cây bút “rắn” nhất, như gương mặt thô bạo hạng nhất, và, − nhờ những ứng xử trong sự kiện này chăng − về sau sẽ trở thành một quan chức có thế lực trong bộ máy quản lý ngành khoa học xã hội: Vũ Đức Phúc.

Việc báo Văn nghệ thay Xuân Diệu ở vị trí thư ký toà soạn bằng Nguyễn Đình Thi xảy ra khi Văn nghệ đăng đến kỳ thứ 3 bài của Nguyễn Đình Thi viết về tập Việt Bắc (“Thơ Tố Hữu đi vào thực tế quần chúng”, Văn nghệ số 77, ngày 14/7/1955; “Lập trường giai cấp và đảng tính, vấn đề hiện thực và lãng mạn”, Văn nghệ số 78, ngày 21/7/1955; “Nhà thơ lớn lên với thời đại”,Văn nghệ số 79, ngày 28/7/1955); và Văn nghệ ở thời bắt đầu với thư ký toà soạn Nguyễn Đình Thi sẽ đăng bài “Ý kiến kết thúc cuộc thảo luận về tập thơ Việt Bắc” của Hoàng Trung Thông (Văn nghệ số 81, ngày 11/8/1955; Nhân dân, ngày 11/8 và 12/8/1955).

Như vậy, nhân điều nói trong bài của Cù Huy Hà Vũ (2007), người ta nếu muốn cũng chỉ có quyền suy luận ở mức độ như sau: việc Xuân Diệu thôi (hoặc bị thay) chức thư ký toà soạn báo Văn nghệ hồi tháng 8/1955 có thể có liên quan đến việc thư ký toà soạn Xuân Diệu đã cho đăng những bài đánh giá tiêu cực tập thơ Việt Bắc (đã dẫn trên). Nhưng nhìn rộng hơn, cần thấy rằng việc đó liên quan đến việc báo Văn nghệ − và các cán bộ phụ trách ban Văn của Hội Văn nghệ Việt Nam khi đó − chỉnh sửa cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc, can thiệp vào tiến trình thảo luận.

Việc thảo luận về tập thơ này của Tố Hữu vốn xuất phát từ hai buổi thảo luận (mang tính chất “câu lạc bộ”) tại Phòng Văn nghệ Quân đội hồi đầu năm 1955: một, bàn về truyện Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, một, bàn về tập thơ Việt Bắc cuả Tố Hữu. Các báo Văn nghệ và báo Nhân dân xem đây là dịp tốt để đẩy mạnh phong trào phê bình văn nghệ, đã chọn một bài tại cuộc thảo luận ở Văn nghệ Quân đội (bài của Hoàng Yến) đăng lại ở báo nhà và lên tiếng mời bạn đọc tham gia thảo luận, do đó đã tạo nên một sinh hoạt văn nghệ tương đối sôi nổi tại thành phố mới tiếp quản. Rất có thể vì báo Văn nghệ đăng một số bài thiên về chê thơ Việt Bắc của Tố Hữu (nhất là các bài của Hoàng Cầm, Lê Đạt) nên những người đứng đầu Hội Văn nghệ và ban Văn của Hội đã nhận ra cuộc thảo luận đã hơi quá đà và vội ra tay chỉnh hướng thảo luận: đăng nhiều bài khen ngợi, nhất là loạt bài của Nguyễn Đình Thi, rồi nhanh chóng đăng bài của Hoàng Trung Thông, coi như ý kiến kết thúc chung cho cả hai báo Văn nghệ  và Nhân dân về cuộc thảo luận này.

Khoảng 4 tháng sau, trong vai trò một người “lãnh đạo văn nghệ”, nhân kiểm điểm tình hình văn nghệ năm 1955, Hoài Thanh nhận xét: “Về mặt phê bình cũng phạm nhiều sai lầm thiếu sót. Công tác phê bình ít được chú ý. Thỉnh thoảng có một cuộc phê bình như cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc thì lại có tính chất tự phát, thiếu chuẩn bị, thiếu mục đích rõ ràng, thiếu kết hợp với yêu cầu đấu tranh chính trị và tư tưởng” (Hoài Thanh: “Nhìn lại hoạt động văn nghệ một năm qua”, Nhân dân, ngày 29/1/1956, tr.3).

Ý kiến trên là nhận định từ phía người quản lý; còn ý kiến nhận xét về cuộc thảo luận ấy từ phía những người bị quản lý thì ta thấy bộc lộ muộn hơn. Trong không khí góp ý kiến phê bình lãnh đạo văn nghệ và chuẩn bị cho Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ 2, tức là từ cuối tháng 8/1956, trong dư luận đăng báo mới có những lời ta thán rằng những người chủ trì báo Văn nghệ đã kết thúc cuộc thảo luận về tập thơ Việt Bắc một cách “quá vội vã”, “chưa thoả mãn quần chúng” (lời Nguyễn Bính, sẽ dẫn thêm ở phần sau).

Nói như Cù Huy Hà Vũ (2007) rằng lý do Xuân Diệu bị thôi chức thư ký tòa soạn là vì đã cho đăng các bài của Thụy An, Phan Khôi, − là điều hoàn toàn không phù hợp với thực tế. Văn nghệ từ số 57 đến số 80 (thời kỳ Xuân Diệu làm thư ký toà soạn) hầu như không đăng gì của nữ tác giả Thụy An, chỉ đăng của Phan Khôi duy nhất một bài viết nhân 60 năm sinh Lý Cơ Vĩnh, nhà văn Triều Tiên (Văn nghệ  số 74, ngày 10/6/1955), bài viết này không mang dấu hiệu nào để có thể “làm án” bất cứ ai, − người viết bài (là Phan Khôi) hay người cho đăng bài (là thư ký tòa soạn Xuân Diệu)!

(Còn 3 kì)

© 2010 Lại Nguyên Ân

© 2010 talawas


[1]“Năm 1976 […] tạp chí Tác phẩm mới ngừng phát hành và Nhà xuất bản Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam ra đời. Cho đến năm 1987, do yêu cầu phát triển của văn học, tạp chí lại xuất bản với tên Tác phẩm văn học khuôn khổ 13×19cm, ra hàng tháng; Tổng biên tập là nhà văn Nguyễn Đình Thi.” (Sách: Nhà văn việt Nam hiện đại, nhân kỷ niệm 35 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam. Hà Nội: Hội Nhà văn Việt Nam xb., 1992, tr. 237.)

[2] Bài đính chính những nội dung trên đã đăng nhật báo Thể thao & Văn hoá  19/8/2008

[3] Xem: Sưu tập Văn nghệ 1948-1954, tập 7: 1954, (Hữu Nhuận và Lại Nguyên Ân sưu tầm), Hà Nội, 2006: Nxb. Hội Nhà văn, tr. 575-577.

[4] Xem trong cuốn: Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ “Việt Bắc” (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn), Hà Nội: Nxb. VHTT, 2005, tr. 27, 46, 48.

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Lại Nguyên Ân – Xuân Diệu, trong những năm 1954-1958 (1)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả