talawas blog

Chuyên mục:

Lại Nguyên Ân – Xuân Diệu, trong những năm 1954-1958 (3)

10/05/2010 | 6:30 sáng | 7 phản hồi

Tác giả: Lại Nguyên Ân

Chuyên mục: Hồ sơ Nhân văn - Giai phẩm, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: >

(Xem kì 1kì 2)

3b. Suốt thời gian kể trên, từ 1/8/1956 đến đại hội văn nghệ toàn quốc lần 2, Xuân Diệu hầu như ít đăng đàn; ông rất ít đăng thơ, hình như chỉ một lần, với bài Gieo mùa ở Văn nghệ số Tết Đinh Dậu (số kép 156&157, ra ngày 18/1/1957); loại ông viết nhiều hơn ở thời gian này là một số bút ký hoặc giới thiệu, điểm sách, chẳng hạn, bút ký Thăm một làng miền bắc Hung-ga-ri (Nhân dân, 30/3/1956), bút ký Cảm tưởng Mat-scơ-va (Nhân dân, 10/11/1956), bút ký Mùa xuân thắng (Nhân dân, 3/2/1957), giới thiệu Vài hình ảnh văn học Hung-ga-ry (Văn nghệ số 115, ngày 5/4/1956), đọc sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Văn nghệ số 121, ngày 17/5/1956), giới thiệu và dịch thơ Nazim Hitmet (Văn nghệ số 150, ngày 7/12/1956), đưa tin về hội nghị các nhà văn châu Á (Văn nghệ số 153, ngày 27/12/1956). Đáng kể nhất có lẽ là lần Xuân Diệu xuất hiện trên diễn đàn Đại hội Văn nghệ ở ngày họp thứ sáu, 26/2/1957, với tham luận về bệnh sơ lược trong văn nghệ (trích đăng Văn nghệ số 162, ngày 1/3/1957). Tại đại hội này, Xuân Diệu là một trong số 15 nhà văn (Nguyễn Văn Bổng, Hồ Dzếnh, Vân Đài, Bảo Định Giang, Nguyễn Công Hoan, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách, Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân,  Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung), cùng với nhiều văn nghệ sĩ thuộc các ngành khác, được bầu vào BCH Hội Liên hiệp VHNTVN.

Xin dừng lại đôi chút ở bài tham luận của Xuân Diệu; đây là lần duy nhất ông bộc lộ ý kiến trong suốt thời gian trên dưới nửa năm (tháng 8/1956 – tháng 2/1957), giữa một đời sống văn nghệ sôi động, đầy những va chạm về tư tưởng và quan niệm văn nghệ.

Về căn bệnh trong sáng tác đang được nêu ra và phân tích, Xuân Diệu cho rằng:

“Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tai hại là làm cho người ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và thiếu lý tưởng”.

Song, theo Xuân Diệu:

“bệnh sơ lược không ở trong bản chất nền văn học mới chúng ta”,

… “chúng ta không độc quyền về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ kim đông tây, đời nào và ở đâu cũng có”.

… “Số người quy bệnh sơ lược cho Đảng và cho chế độ cũng thường trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ nói đến những con người máy, những con người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn tư bản và đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi…”

Xuân Diệu nói đến những cái mà nhiều người gọi là “khuôn” trong đời sống mới:

“Những con người máy đã phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng?[1] Bế Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan Đình Giót chăng? Hay là trong phe XHCN, liệt sĩ Việt Nam Phan Đình Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov, cũng lấy mình lấp lỗ châu mai một cách công thức chăng? Vâng, chúng ta rất giống nhau, chúng ta người nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước yêu dân, cũng được Đảng dặn dò: khi cần thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho cho quyền lợi dân tộc, […..] Vâng! Nếu có một cái khuôn nào, thì đó là một cái khuôn cao cả vĩ đại, phong phú, cái khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu, hy sinh!”

Đối với những cái “sáo” hình thành trong văn nghệ cách mạng, thái độ của Xuân Diệu là bảo vệ:

“Bệnh công thức của ta rất đáng ghét, nhưng động cơ của nó là muốn nói cái mới cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là nó có hảo ý; chứ còn cái công thức cuả tư sản phản động, của văn hoá Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng…”

“Chúng ta chống và chữa những bệnh ấu trĩ của nền văn nghệ non trẻ của chúng ta, nhưng chúng ta cũng khẳng định rằng: không có chân trời mới nào hết ngoài cái văn nghệ xã hội chủ nghĩa của phe ta và cái văn nghệ tiến bộ của thế giới; chúng ta không đi tìm hang sâu vực thẳm nào khác!”

Về cách chữa bệnh sơ lược, Xuân Diệu cho là có “cách chữa chân chính” và  “cách chữa giả tạo”, cách thứ hai này, ông chống kịch liệt:

“Cách chữa giả tạo là dựa vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự tẻ nhạt bằng cách bịa ra những trò chơi quái ác, bằng cách bẻ quặt thực tế khách quan [….] Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao cá tính siêu nhân của người văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp” ra thổi giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức  bằng cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều quá sự cần thiết…”

Cách chữa chân chính, theo Xuân Diệu, là “nghiên cứu sâu thực tế cách mạng”, vì “cái mới căn bản nằm trong đời sống cách mạng”, “ta phải nói được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi vào một thứ ‘mới chủ nghĩa’, đi tìm những cá tính lập dị nào”.

“Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống lại và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng đau khổ gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”

Đọc lại những lời lẽ trên đây, không khó để thấy thành phần nghị luận chủ yếu trong đó là ngụy biện, tuy được phát ngôn một cách không kém nồng nhiệt nhưng vẫn là kết quả những suy tính kỹ lưỡng, − không nhiều suy tư về chân lý, nhưng chắc chắn là ngầm chứa rất nhiều suy tính về cách ứng xử, cách “diễn ngôn” (discours, như cách gọi sau này) ra sao để tồn tại; đối với tác giả Thơ thơ  đến lúc này thì vấn đề không chỉ là cần sống sót mà là cần được sống tốt, bất kể thời thế ra sao.

*

4a. Chúng ta tiếp tục dõi theo những nét chính trong đời sống văn nghệ từ đầu năm 1957, sau Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai. Đối với giới nhà văn, đây là năm đáng nhớ với sự ra đời lần đầu tiên ở Việt Nam một hội mang tên Hội Nhà Văn Việt Nam với những cơ sở trực thuộc nó sẽ dần dần hình thành: câu lạc bộ, tờ tuần báo, nhà xuất bản, quỹ văn học …

Việc thành lập các hội chuyên ngành cho các giới: nhà văn, hoạ sĩ và nhà điêu khắc, nhạc sĩ, kiến trúc sư, nghệ sĩ sân khấu, nghệ sĩ điện ảnh, − là chủ trương được thông qua tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần II. Hội nhà văn được xúc tiến sớm nhất.

Tất nhiên đặt trong đời sống tinh thần ở miền Bắc đương thời, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN hoặc Hội nhà văn VN và các hội chuyên ngành cùng loại, đều là những tổ chức được thành lập theo chủ trương của Đảng cầm quyền, đều là những hội được hưởng quy chế tương đương cơ quan nhà nước (biên chế và lương cán bộ nhân viên đều do nhà nước đảm bảo), − nói bằng ngôn ngữ của thời “hậu bao cấp” thì đó là những hội “quốc doanh”, hội “độc quyền”, hội “bao cấp”… 

Đại hội thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam tiến hành từ ngày 1 đến ngày 4/4/1957, có 278 đại biểu tham dự, thảo luận và thông qua bản điều lệ trong đó nói rõ: “Trên cơ sở Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam đoàn kết mọi nhà văn yêu nước và tiến bộ, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị, xu hướng nghệ thuật” (điều III).[2] Đại hội bầu ra ban chấp hành khoá đầu gồm 25 nhà văn, và nhất trí coi 25 nhà văn trong ban chấp hành này là những hội viên sáng lập và sau đấy sẽ bắt tay vào việc kết nạp hội viên vào Hội.[3] 25 nhà văn đó gồm: Nông Quốc Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Cầm, Sao Mai, Tố Hữu, Hoàng Tích Linh, Nguyên Hồng, Bửu Tiến, Xuân Diệu, Đoàn Giỏi, Phạm Huy Thông, Tế Hanh, Nam Trân, Vũ Tú Nam, Hoàng Trung Thông, Xuân Miễn, Tô Hoài, Nguyễn Tuân.

Ngày 10/4/1957, hội nghị BCH lần 1 cử ra ban thường vụ gồm: chủ tịch Hội: Nguyễn Công Hoan, phó chủ tịch: Tú Mỡ, tổng thư ký: Tô Hoài, phó tổng thư ký: Nguyễn Xuân Sanh, và 3 uỷ viên: Nguyên Hồng, Tế Hanh, Đoàn Giỏi.

Ngày 25 và 26/4/1957, hội nghị BCH lần 2 thông qua đề án xuất bản báo Văn và lập Nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Tuần báo Văn  với Chủ nhiệm Nguyễn Công Hoan, Thư ký toà soạn Nguyên Hồng và 2 uỷ viên ban biên tập là Tú Mỡ và Tế Hanh. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn với Giám đốc Tô Hoài và 3 uỷ viên ban biên tập: Hoàng Cầm, Đoàn Giỏi, Nguyễn Văn Mãi. Hội nghị này cũng quyết định lập ra ban kết nạp hội viên (trưởng: Tú Mỡ, phó: Nguyên Hồng, có một tiểu ban giúp việc), ban chế độ công tác sáng tác (trưởng: Nguyễn Công Hoan, phó: Nguyễn Xuân Sanh, có một số uỷ viên), ban nghiên cứu sáng tác (trưởng: Tô Hoài), ban văn học nước ngoài (trưởng: Nguyễn Xuân Sanh, uỷ viên: Nguyễn Tuân, Phạm Huy Thông). Ban thường vụ Hội quyết định lập cơ quan Hội, quy định biên chế cơ quan gồm một số nhà văn và một số cán bộ hành chính.

Tuần báo Văn xuất bản vào ngày thứ sáu hằng tuần, số 1 ra ngày 10/5/1957, và, − ngoài mong muốn và dự liệu của giới lãnh đạo văn nghệ hay chăng (hay vẫn nằm trong số những dự liệu ấy?), − chính tờ báo này đã làm nên một đoạn phiêu lưu nữa, như giọt nước không mấy to hoặc nặng, nhưng lại là giọt nước làm tràn ly: với nó và sau nó, sự đấu tranh giữa những khác biệt trong nội bộ nền “văn nghệ cách mạng” này được công nhiên chuyển thành đấu tranh giữa “ta” với “địch”, một số “đồng chí” trong hàng ngũ được chuyển thành những “kẻ thù” và bị trừng phạt, bị trục xuất khỏi hàng ngũ, bị làm cho ô nhục bằng ngôn từ và bằng áp đặt sự phân biệt đối xử.

Ta hãy quan sát kỹ hơn những gì xảy ra với tuần báo Văn.

Văn là tuần báo ra ngày thứ sáu, chuyên về “sáng tác, phê bình, giới thiệu, sinh hoạt văn học, tin văn thơ”. Thành phần bài vở chính trong mỗi số là đăng sáng tác thơ văn, phê bình tiểu luận, chuyện nghề văn, thời sự văn hóa văn nghệ; một phương diện phục vụ chính trị không thể thiếu của báo là mảng hoạt kê và châm biếm chính trị: tranh đả kích, thơ trào phúng trong các mục “mũi nhọn”, “bia miệng”, đối tượng luôn luôn là “đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm”.

Văn có nét thông thường ở hầu hết các tờ báo của giới nhà văn: phần trang nhiều nhất dành đăng sáng tác thơ văn, dư luận văn nghệ. Có lẽ nét mới thấy rõ ở nó so với tuần báo Văn nghệ  trước đấy là việc phản ánh sinh hoạt câu lạc bộ Hội nhà văn, hoặc những thông tin khá hồ hởi xung quanh những ngày đầu hoạt động của Hội nhà văn, nhất là những động thái triển khai việc xét kết nạp hội viên đợt đầu tiên…

Tuy nhiên, vào lúc đã ra được 10 số đầu, tờ tuần báo của Hội Nhà văn như bị dội nước lạnh khi trên tạp chí Học tập, cơ quan lý luận chính trị của trung ương Đảng Lao động VN, số 7/1957, xuất hiện bàiTuần báo Văn và con người thời đại  của tác giả Thế Toàn (Trịnh Xuân An), theo đó, những sáng tác đăng tải trên 10 số Văn đầu tiên được đánh giá khá tiêu cực: chủ đề của nhiều văn, thơ đăng ở đây “toàn là những thứ lượm lặt ngoài rìa cuộc sống”, “không ăn nhập gì với cuộc sống, không dính dáng gì đến những con người vĩ đại và dũng cảm của thời đại chúng ta”; tóm lại, theo Thế Toàn, “Tờ báo hầu như xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, tách rời những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng”.

Trước sự phê bình của tạp chí Học tập, ban biên tập tuần báo Văn  và không ít nhà văn đã có phản ứng khá gay gắt. Lần lượt, các ý kiến của thư ký tòa soạn Nguyên Hồng (Tuần báo Văn và một số bài của báo cần được nhận định như thế nào? // Văn số 15, ngày 16/8/1957), của Nguyễn Văn Bổng (Nhận lại phương hướng qua việc phê bình tuần báo Văn // Văn số 20, ngày 20/9/1957), Lê Minh (Xây dựng con người thời đại // Văn số 21, ngày 27/9/1957), Tô Hoài (Góp thêm vài ý kiến về con người thời đại // Văn số 22, ngày 4/10/1957), Nguyễn Tuân (Phê bình nhất định là khó // Văn số 23, ngày 11/10/1957), Tế Hanh (Cùng đặt một số vấn đề // Văn số 26, ngày 1/11/1957), ở những mức độ khác nhau, hầu hết (đúng ra, trừ một số ý trong bài của Nguyễn Văn Bổng) đều bộc lộ thái độ không tán đồng sự phê bình của tạp chí Học tập.

Việc những người chủ trì báo Văn coi sự góp ý của tạp chí Học tập chỉ như sự phê bình của tờ “báo bạn”, của “đồng nghiệp” − có lẽ đặc biệt gây tự ái nơi tâm lý những người nhân danh báo chí của Đảng cầm quyền. Dưới dạng một bài đọc sách, − đây là bài nói chuyện của Trường Chinh tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần II được in thành sách riêng, − hai nhà báo của tạp chí Học tập, Hồng Chương và Trịnh Xuân An, lên tiếng nhắc nhở các nhà văn và Ban biên tập tuần báo Văn; nhan đề bài viết (Học tập, số 8, tháng 8/1957) được hai ông này đặt bằng mệnh lệnh thức: Phải thấu suốt đường lối văn nghệ của Đảng. Bút ký sau khi đọc cuốn “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” của đồng chí Trường Chinh, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc cần phê phán ảnh hưởng của tư tưởng tư sản trong sáng tác văn nghệ. Ý nghĩa cảnh cáo lộ rõ trong đoạn kết:

“Chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những thiên hướng lệch lạc đi trệch ra ngoài đường lối văn nghệ của Đảng. Chúng ta cũng kiên quyết phản đối thái độ của một số cán bộ đảng viên phụ trách văn nghệ phạm khuyết điểm sai lầm được báo chí Đảng giúp đỡ phát hiện khuyết điểm sai lầm mà không chịu khiêm tốn kiểm điểm và thành tâm sửa chữa, trái lại, lại đả kích và mạt sát báo chí Đảng. Thái độ đó rõ ràng là không lợi cho việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ.”

Nhận xét về cách phê bình của hai ký giả trên tạp chí Học tập, Nguyễn Tuân (báo Văn số 23) nhắc lại mấy câu hỏi của Nguyên Hồng “Có phải vì giáo điều, sơ lược, công thức, nên mới có sự nhận thức và phê phán như thế? Có phải vì tác phong quan liêu, trịch thượng và cái lối đao to búa lớn nên mới có sự nhận xét như thế?”, và Nguyễn Tuân tỏ rõ ý kiến mình:

“Trong việc đánh giá, đặc biệt nhất là ba ông Thế Toàn, Hồng Chương và Trịnh Xuân An đã có những “thái độ trịch thượng và cái lối nói đao to búa lớn”. Tôi cũng đồng ý với ông thư ký tòa soạn báo Văn về cái nhận xét này. Thêm nữa, cá nhân tôi lại còn cảm thấy mấy ông đó đã làm cho người đọc phải hiểu rằng các ông đang lấy Đảng ra để “dọa” anh em viết bài báo”.

Đáp lại sự nhận xét trịch thượng cho rằng giới nhà văn chưa biểu hiện được “con người thời đại”, Nguyễn Tuân lên tiếng như là tiếng nói chung của giới mình:

“ Theo chỗ tôi biết thì đã có một số hiện tượng hách dịch đối với văn nghệ phẩm, xuất phát từ một số người phê bình cũng như từ một số cán bộ chính trị. Tôi rất đồng ý là văn nghệ sĩ, mà nhất là văn nghệ sĩ có tài, càng cần phải khiêm tốn. Nhưng chung quanh, nhất là những người có trách nhiệm về phán đoán cái này cái kia, đề nghị cũng làm như vậy cho. Tôi tán thành cái ý kiến là những “sĩ” của các ngành văn nghệ chúng ta chưa có gì là ghê gớm lắm đâu, về trình độ tư tưởng trình độ văn hóa trình độ nghề nghiệp còn phải học cho nát xương lòi da ra, học cho đến chết mà chắc gì đã nắm hết được quy luật của sự sống. Nhưng cũng không nên vì nó chỉ là “sĩ” của Việt Nam mà đánh giá nó quá thấp quá tồi về khả năng nhạy cảm đối với thực tế khách quan, cho nó là mít là xoài tất trong mọi cảm xúc phiền toái và vĩ đại của thời đại vừa gieo neo vừa lớn lao hiện nay của chúng ta. Trong mọi thực tiễn Việt Nam nói chung các mặt, nếu đã có những tác giả còn non nớt, nếu đã có những tác phẩm yếu xoàng, thì cũng đã có một số cán bộ thực hiện chính trị một cách cũng không được cao tay gì lắm. Đối với nghệ phẩm, anh đến với nó (nhất là thứ tạo ra ở bản xứ) mà anh tham lam quá đáng hoặc hung hăng một cách không cần thiết, thì nó biến mất….”

Lúc này, đến lượt Tạp chí Văn nghệ vào cuộc. Tạp chí này đã tái xuất hiện từ tháng 6/1957 với tư cách cơ quan của Hội Liên hiêp Văn học nghệ thuật Việt Nam, ra hàng tháng, đánh số từ số 1 nhưng ghi rõ trên manchette là tờ tạp chí “xuất bản từ 1948 trong kháng chiến”; chủ nhiệm là Đặng Thai Mai, thư ký tòa soạn là Nguyễn Đình Thi. Chính trên tạp chí này đã có những bài phê phán những sáng tác được coi là có những lệch lạc về tư tưởng, ví dụ Thao thức của Đoàn Giỏi (bài phê bình của Nguyễn Văn Bổng, TCVN s. 5, th. 10/1957), Một ngày chủ nhật của Nguyễn Huy Tưởng (bài phê bình của Vũ Đức Phúc, TCVN s. 7, th. 12/1957).

Với tư cách Tổng thư ký Hội LHVHNTVN, thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ, Nguyễn Đình Thi có bài báo dài Tuần báo Văn với phương hướng sáng tác và phê bình hiện nay (Tạp chí Văn nghệ số 5, tháng 10/1957, tr. 113-136).

Có phần tán thành nhận định của Thế Toàn và Nguyễn Văn Bổng, đề cập đến các sáng tác đăng 10 số đầu báo Văn, Nguyễn Đình Thi cho rằng “Chúng ta chưa nhìn rõ cái thực tế tiến dần lên chủ nghĩa xã hội của đời sống chung quanh ta được báo Văn phản ánh lên thế nào” … “Tình hình đó không thể coi là bình thường được”.  Nguyễn Đình Thi còn phân tích đánh giá về một số bài đăng trên các số Văn, trong đó đặc biệt tỏ rõ dị ứng với các bài thơ Một giọng đàn, một dòng sông (Hoàng Yến, s. 5), In dấu chân (Hoàng Cầm, s. 15), Lời mẹ dặn (Phùng Quán, s. 21), hoặc ý kiến của Trần Dần Nhìn lướt qua thơ văn gần đây (s. 12). Tuy vậy, cũng có phần chia sẻ với Nguyên Hồng trong phản ứng trước sự phê bình đầy công thức và máy móc của tạp chí “Học tập”; Nguyễn Đình Thi viết:

“Nguyên Hồng phản ứng mạnh với cái khuynh hướng máy móc, giáo điều nó quan niệm con người mới trong văn học nghệ thuật như một thứ người gỗ, mà không hiểu nổi cái phức tạp phong phú của đời sống và tâm hồn con người, nó cũng không hiểu văn học nghệ thuật và không nắm được cái thực tế đang chuyển biến của sự sáng tác. Cái khuynh hướng cứng nhắc ấy, chúng ta đã phê phán nó khá nhiều trong thời gian vừa qua, nhưng không phải đã hết. Nó duy trì những bệnh sơ lược, khái niệm, những thái độ đơn giản và độc đoán trong vấn đề tư tưởng và nghệ thuật. Cái khuynh hướng máy móc đơn giản ấy đã có biểu hiện trong bài của Thế Toàn, rõ rệt nhất là trong những nhận xét của Thế Toàn về mấy bài như Phở, Gió, Bích-xu-ra, v.v… Và cái thái độ gò ép, áp đảo ấy cũng thấy trong một bài của Hồng Chương và Trịnh Xuân An tiếp theo bài của Thế Toàn trên tạp chí Học tập số 8. Tôi cho thái độ đó là không đúng”.[4]

Chỉ tìm hiểu qua những gì đăng báo còn lại đến hôm nay thì hẳn là khó có thể biết hết những gì đã thực sự diễn ra trong đời sống thực của văn nghệ một thời đã qua. Nhưng người đang viết những dòng này chưa có thêm phương tiện gì khác hơn là tài liệu in công khai còn lại trên giấy báo. Dù sao cũng có thể thấy những thị uy và uốn nắn đối với tuần báo Văn đã không gây được hiệu quả cụ thể. Nói như Tế Hanh, trong số bài vở đăng trên tuần báo “Văn”, “những bài Nguyễn Đình Thi cho tốt không phải ít hơn những bài xấu, kể cả trong 10 số đầu. Thế thì nên kết luận thế nào?”

Rất có thể vì vậy, tuần báo Văn cứ đi tiếp nhịp đi của mình. Trong số những tác phẩm được đăng trên tờ này sẽ có thêm khá nhiều những thảo luận về các vấn đề của thơ, thảo luận về việc nên hay không nên tái bản các tác phẩm ra đời trước cách mạng, sẽ đăng thơ của Xuân Diệu, Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Trung Thông, Trần Dần, Lê Đạt…, văn của Nguyễn Huy Tưởng, Bùi Hiển, Hồ Dzếnh, Thụy An, Nguyễn Dậu, Trần Dũng Tiến,…, tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân, Trương Chính, Trần Thanh Mại, v.v…  Trong số những tác phẩm đăng lần đầu ở đây, sẽ được nhắc nhở sau này là các tác phẩm như thơ Hãy đi mãi (Trần Dần, s. 28, ngày 15/11/1957), Lời mẹ dặn (Phùng Quán, s. 21, ngày 27/9/1957), Bão (Tế Hanh, s. 32, ngày 13/12/1957), văn: Đống máy (Minh Hoàng, s. 34, ngày 27/12/1957), Ông Năm Chuột (Phan Khôi, s. 36, ngày 10/1/1958), là truyện dịch Phòng số 6 của Chékhov đăng liền hơn 10 số đầu, là các tiểu luận Nguyễn Tuân viết về Thạch Lam, về Kim tiền  của Vi Huyền Đắc, v.v…

Tất nhiên không khó để trừng trị những nhà văn cứng đầu ở tuần báo “Văn”; và trong việc này, tờ Học tập ra hàng tháng không thể thuận lợi so với tờ Nhân dân ra hàng ngày. Từ cuối tháng 11/1957, hàng loạt bài vở các loại từ tờ nhật báo lớn nhất miền Bắc lúc ấy chĩa mũi nhọn vào báo Văn. Ban đầu nhắm vào từng tác phẩm cụ thể, ví dụ thơ Lời mẹ dặn (bài của Trúc Chi, Nhân dân, 24/11/1957), tranh biếm họa “Phương pháp xây dựng văn nghệ” của Trần Duy (bài của Phượng Kim, Nhân dân 8/12/1957), truyện ngắn “Đống máy” (bài của Đặng Phò, Nhân dân 12/1/1957), gợi cho dư luận sự gắn nối “Văn” với “Nhân văn”  (Vũ Đức Phúc: Từ “Con người Trần Dần” đến “Đống máy”, Nhân dân 2/2 và 3/2/1958). Lại còn mượn đến những tên tuổi nào đó, nói rằng đó là của “anh em ở miền Nam” (Một bức thư của anh em từ Sài Gòn gửi cho chúng ta: D. và T.: Chúng tôi không đồng ý với báo “Văn”/ Nhân dân 17/1 và 18/1/1957). Rồi tiến tới nhận định bao quát (bài của Như Phong: Góp ý kiến với các đồng chí có trách nhiệm ở báo “Văn”/ Nhân dân, 9/2, 10/2, 11/2 và 12/2/1957). Sau nữa là đăng tự kiểm điểm của một số “yếu nhân” của báo “Văn” dưới tiêu đề Các đồng chí ở báo “Văn” bắt đầu tự phê bình, lần lượt là Nguyên Hồng (Nhân dân 2/3/1958), Tô Hoài (Nhân dân 12/3/1958), Tế Hanh (Nhân dân 14/3/1958); lại nữa, không kiềm chế lời mạ lỵ nếu sự tự phê bình của họ chưa được coi là thành khẩn (câu viết sau đây cho thấy sự hạ nhục người bị phê bình:“trường hợp Nguyên Hồng, vì thái độ chưa thật thà thành khẩn và cũng vì trình độ nhận thức quá thấp nên mức tiếp thu rất hời hợt” − N.D., Để chuẩn bị một thời kỳ văn học nghệ thuật phát triển tươi tốt hơn nữa/ Nhân dân 9/3/1958).

Bên cạnh báo Nhân dân, tham gia phê bình báo “Văn” còn có nhiều báo khác: báo Cứu quốc với các bài của Đông Hoài, Bùi Huy Phồn, Đặng Vũ Khiêu, Tú Mỡ, Nguyễn Mạnh Hào, Nguyễn Kiến Giang, v.v…; báo Thống nhất với các bài của Trịnh Xuân An, Hồng Chương, Vũ Đức Phúc, Lê Xuân Vũ, v.v…

Trên thực tế, việc phê bình tuần báo “Văn” chuyển dần hòa dần vào đợt đấu tranh chống Nhân văn – Giai phẩm diễn ra liền sau đó.

Ở tuần báo “Văn” số 37 (ngày 17/1/1958), tòa soạn có lời “kính gửi các bạn yêu quý của báo Văn”, theo đó, “sau 8 tháng làm việc, báo Văn thấy cần phải kiểm điểm công tác trong thời gian qua, rút kinh nghiệm cho công việc mới, chấn chỉnh mọi mặt,… vì lẽ đó, báo sẽ nghỉ 2 kỳ ….”  Trên thực tế, đấy chính là lời cáo chung của tờ tuần báo này; lời hẹn của báo về tờ “Văn” số tết cũng không thành sự thực vì BCH Hội nhà văn không cho phép thực hiện.

Ngày 6/1/1958, Bộ chính trị trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết Về việc chấn chỉnh công tác văn nghệ, phát động một chiến dịch đấu tranh tư tưởng “quét sạch tư tưởng “Nhân văn” là biểu hiện của tư tưởng thù địch về mặt chính trị, đồng thời cũng là biểu hiện nghiêm trọng của quan điểm văn nghệ tư sản”.[5] Những đợt học tập tập trung dài ngày cho văn nghệ sĩ được tổ chức sau đó, − mà về sự việc này người ta chỉ được biết qua một vài hàng tin vắn trên một số tờ báo, − có thể đã là diễn trường chính của cuộc đấu tranh theo chủ trương nói trên; thật ra, người ta chỉ có thể biết đến chúng thông qua phần nổi là những phê phán rầm rộ trên báo chí miền Bắc từ khoảng giữa tháng 2/1958 đến tháng 6/1958.

Sự phê phán, rủa sả và đấu tố rầm rộ này là sự tiếp tục những phê phán đã có từ vài năm trước, nhất là vào cuối năm 1956; song, suốt thời kỳ đó dù sao vẫn nằm trong quy ước của sự phê bình “trong nội bộ nhân dân”, tức là ít nhiều còn tôn trọng đối tượng bị phê phán, thậm chí ít nhiều chấp nhận có ý kiến trao đổi qua lại. Nhưng đến lúc này, khi mà người ta đã tuyên bố gạt phía bị phê phán sang hàng ngũ kẻ thù thì chỉ còn sự biểu dương lực lượng của một phía: phía những người phê phán có số lượng hết sức đông đảo. Trong hàng loạt những ý kiến bày tỏ một phẫn nộ đại chúng này rất khó thẩm định sự thật của những nội dung tố giác, dù nó hệ trọng đến đâu; sự kiện thấy được chỉ là sự tố giác.

Riêng ở giới văn nghệ, có thể hình dung cuộc phê phán này trên Tạp chí Văn nghệ các số 10 (tháng 3/1958), 11 (tháng 4/1958), 12 (tháng 5/1958), 13 (tháng 6/1958), mở đầu bằng bài của Đặng Thai Mai: Căn bản vẫn là vấn đề lập trường tư tưởng, và tạm kết bằng báo cáo của Tố Hữu đọc tại cuộc họp tổng kết hôm 5/6/1958. Trên các bài đấu tranh ấy, những thành viên bị coi là đầu sỏ của nhóm Nhân văn như Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Trần Duy, Thụy An, Trần Thiếu Bảo bị phê phán như đấu tố kẻ thù, những cây bút liên quan như Phùng Cung, Phùng Quán, Văn Cao, Hoàng Tích Linh, Đặng Đình Hưng, Trần Lê Văn, v. v… cũng không được đối xử tốt hơn.

Như đã biết, sau sự kiện này, Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Phùng Cung bị ngồi tù nhiều năm. Riêng trong Hội nhà văn: 3 người gồm Trương Tửu, Thụy An, Phan Khôi “bị khai trừ hẳn ra khỏi hội”; 2 người gồm Trần Dần, Lê Đạt bị khai trừ khỏi hội trong thời hạn 3 năm; Hoàng Cầm bị khai trừ khỏi Ban chấp hành; Hoàng Tích Linh bị cảnh cáo và được rút khỏi Ban chấp hành; các hội viên khác từng tham gia các số Nhân văn và các tập Giai phẩm (các văn bản thường không nêu tên) bị cảnh cáo.[6] Tuy nhiên, những hình phạt mà ban đầu hoặc mang dạng án phạt của luật pháp, hoặc có khi chỉ là kỷ luật trong nội bộ đoàn thể (khai trừ, treo bút,…) kết hợp với xử lý hành chính (buộc cư trú xa thủ đô, bị theo dõi bí mật, buộc theo các nhóm văn nghệ sĩ đi thực tế xuống các địa phương …) trong thực tế đời sống miền Bắc những năm về sau (1958-85) sẽ trở thành những trừng phạt vĩnh viễn về mặt xã hội và công dân. Ấy là chưa nói đến không ít những người khác, vốn không dính líu gì tới sự kiện này, về sau sẽ vô tình trở thành liên lụy, bị tù đày hoặc phân biệt đối xử.[7]

Một vài diễn biến bề sâu của cuộc đấu tranh ấy, từ khoảng những năm 1990 cũng đôi khi được hé lộ lẻ tẻ qua một vài hồi ức.

Sau đợt đấu tranh này, từ 25/5/1958, Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản báo Văn học với thư ký tòa soạn là Nguyễn Đình Thi (chức thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ từ tháng 6/1958 chuyển sang cho Hoài Thanh), tự coi là tờ báo hoàn toàn mới “với tinh thần mới và tên mới”; khẩu hiệu “Vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” được gắn lên manchette tờ báo của Hội Nhà văn VN kể từ thời điểm ấy. Trong lời ra mắt của mình, báo Văn học tuyên bố rằng tuần báo Văn trước đây đã “bị tư tưởng Nhân văn lũng đoạn” nên đã xa rời đường lối văn nghệ của Đảng, rằng các trang báo Văn “đã bị hoen ố vì những bài của nhóm Nhân văn” mà sự độc hại của chúng còn cần tiếp tục diệt trừ! Nghĩa là tuần báo Văn không xứng đáng để được kế tục!

Có lẽ, trong lịch sử các cơ quan báo chí của Hội Nhà văn Việt Nam, nếu hầu hết các cơ quan đều được vinh danh, thì chỉ có riêng tuần báo Văn là bị nguyền rủa ngay cả khi nó đã không còn tồn tại.

(Còn 1 kì)


[1]“người phá kho bom Tân Sơn Nhất” ở đây ý nói nhân vật thiếu niên họ tên Lê Văn Tám, theo báo chí từ 1946 và nhiều năm về sau, là người đã tẩm xăng vào mình xông vào đốt kho bom ở địa điểm trên; do đây đã có một số truyện ký và kịch viết về đề tài này, trong số đó có kịch “Lửa cháy lên rồi” của Phan Vũ, được giải nhì về kịch trong giải thưởng văn học của Hội Văn nghệ VN 1954-55. Sau này đã xác minh đây không phải là sự kiện và con người có thực, nhưng điều này cũng chưa hề được thông tin chính thức.

[2] Nội dung điều III trong Điều lệ Hội Nhà văn 1957 nói trên là dẫn theo tường thuật của Đào Vũ, Hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam, đăng Tạp chí Văn nghệ, số 1, tháng 6/1957, tr. 109-118.

[3] Về các chi tiết liên quan đến Đại hội I Hội nhà văn VN và những người được coi là “hội viên sáng lập”, tôi căn cứ vào tường thuật của báo Văn và Tạp chí Văn nghệ  đương thời, theo đó số người tham dự đại hội I là 278; còn chuyện tư cách hội viên thì tại đại hội đã được bàn thảo và đi tới nhất trí: chỉ 25 nhà văn được bầu vào ban chấp hành khoá I được coi là “hội viên sáng lập” mà thôi. Sau đại hội, ban chấp hành đã tiến hành xét kết nạp hội viên trong một thời gian dài; một tiểu ban được lập ra để giúp việc này; phiên họp BCH từ 15 đến 18/8/1957 đã xét (bằng bỏ phiếu kín, lấy các trường hợp 50% + 1phiếu) được 127 người, sau đó xét kết nạp thêm 6 trường hợp là nhà văn các dân tộc thiểu số, cộng với 25 nhà văn là uỷ viên chấp hành; như vậy có 158 hội viên dự định được kết nạp lần thứ nhất. Trong khi đó, một số tài liệu do cơ quan Hội Nhà văn biên soạn sau này (cuốn sách mang tên Nhà văn Việt Nam hiện đại, biên soạn và in 1992; và 2 cuốn cũng mang tên ấy, soạn lại và in vào các năm 1997, 2007) thường nêu thông tin: có 165 đại biểu dự đại hội I và tất cả số người đó đều là “hội viên sáng lập”. Song điều này không phù hợp với các thông tin từ báo chí đương thời. Chưa rõ con số 165 hội viên đợt I (những người được ghi bằng ký hiệu A từ A1 đến A165 trong cuốn sách trên, bản in 1992) xuất xứ từ đâu.

[4] Bài viết này khi đưa vào cuốn Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ hiện nay (Hà Nội: Nxb. Văn hóa, 1957, tr. 55-94) Nguyễn Đình Thi đã xóa bỏ những câu phê bình 2 ký giả tạp chí Học tập (trong đó có câu dẫn trên), đồng thời xóa bỏ những đoạn đồng tình với các nhà văn khác của tuần báo Văn khi họ bênh vực nội dung lành mạnh ở truyện ngắn Bích-xu-ra của Thụy An, một trong những tác phẩm đăng báo Văn bị ký giả Thế Toàn nêu đích danh để phân tích chỉ trích trên tạp chí Học tập.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 19: 1958. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia, 2002, tr. 6-7.

[6] Từ nguồn báo chí đương thời, các thông tin xử phạt cụ thể này khá mờ nhạt, rất ít rõ ràng, và hoàn toàn không đầy đủ. Điều đáng kể nữa là thường có sự mâu thuẫn lẫn nhau giữa các nguồn tin. Chẳng hạn, sách “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (biên soạn và in năm 1992 đã dẫn trên) không ghi tên Thụy An và Trương Tửu trong danh sách hội viên, nhưng thông báo của Hội nghị BCH HNV khóa I ngày 2&3/7/1958 (đăng báo Văn học số 5, ngày 5/7/1958) lại cho biết Thụy An và Trương Tửu bị khai trừ; vậy điều hiển nhiên là 2 người ấy đã từng là hội viên!

[7] Những trường hợp loại này, xảy ra ở các địa phương khác nhau, là không ít; ví dụ sinh viên Trần Niêm của khoa ngữ văn ĐHTH Hà Nội, nhà báo Tuân Nguyễn (1933-83; xem cuốn Nhớ Tuân Nguyễn, Hà Nội, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008); hoặc một trường hợp theo lời kể của nhà thơ Tế Hanh: người thợ đã may complet cho Phan Khôi và Tế Hanh đi Trung Quốc dự lễ kỷ niệm Lỗ Tấn năm 1956, sau này nhân tình cờ gặp lại Tế Hanh đã cho biết ông ta bị đưa đi cải tạo gần 10 năm chỉ vì đã từng may quần áo cho Phan Khôi, một phần tử Nhân văn – Giai phẩm! Tế Hanh đã kể chuyện này nhiều lần với nhiều người, trong số đó có tôi; và tôi được biết, có cả nhà thơ Thanh Thảo.

Phản hồi

7 phản hồi (bài “Lại Nguyên Ân – Xuân Diệu, trong những năm 1954-1958 (3)”)

  1. Trần Văn Tích nói:

    Ở Đông Đức cũ cũng từng xảy ra những vụ bắt giữ, tù đày như từng xảy ra ở VNDCCH và Bắc Hàn khiến đương nhân khốn khổ đã đành mà gia đình cũng tan nát; truyền hình và báo chí Đức chiếu hoài, kể hoài. Nên tôi chán chẳng muốn kể góp với bà con nữa.

  2. Thanh Nguyễn nói:

    @Nhanviet:
    Văn nghệ thời 53-58 của ông Xuân Diệu có cái gì khác ngoài chính trị?

    Những áng văn-chính-trị mang phong cách tuyên huấn như đoạn trích sau thì mọi người không ít thì nhiều cũng đã rõ rồi còn gì? Và qua mấy chục năm nay đâu có thiếu lời, và đâu có thiếu người “nâng bi, điếu đóm”?

    (Trích)
    “Bệnh công thức của ta rất đáng ghét, nhưng động cơ của nó là muốn nói cái mới cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là nó có hảo ý; chứ còn cái công thức cuả tư sản phản động, của văn hoá Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng…”

    “Chúng ta chống và chữa những bệnh ấu trĩ của nền văn nghệ non trẻ của chúng ta, nhưng chúng ta cũng khẳng định rằng: không có chân trời mới nào hết ngoài cái văn nghệ xã hội chủ nghĩa của phe ta và cái văn nghệ tiến bộ của thế giới; chúng ta không đi tìm hang sâu vực thẳm nào khác!”

    “Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống lại và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng đau khổ gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”
    (Hết trích)

    Đọc, biết, rồi để mà khinh. Với cái kiến thức chính trị lõm bõm và ăn nói bá láp như vậy thì thử hỏi ông Nhanviet có nên bàn đến chăng?

    Những số phận như Bác Thợ May (viết hoa), hoặc nhân cách của ông Tuân Nguyễn mới thực sự đáng nhắc đến, đáng bàn đến.

  3. Nhanviet nói:

    Cả một bài công phu của Lại Nguyên Ân mà các vị chỉ mỗi còm về vụ đi tù của người thợ may. Chả thấy ai bình luận những gì ông Ân nói về nhân vật chính, Xuân Diệu, là thế nào.

    Diễn đàn Talawas ngày càng bó hẹp vào chuyện chính trị, thành ra độc giả của trang này có vẻ cũng ngày càng thu hẹp lại. Bài hay của Lại Nguyên Ân, nhưng độc giả cũng chỉ nhặt ra chi tiết “chính trị” để mà bàn.

  4. Trần Quốc Việt nói:

    Gởi bác Phùng Tường Vân và Thanh Nguyễn,

    Nhân bác Phùng Tường Vân nhắc đến ông thợ may áo cho Phan Khôi, tôi xin phép talawas cho tôi đăng lại một phản hồi cũ của tôi gởi cho bài chủ về học giả Nguyễn Kiến Giang của tác giả Nguyễn Thanh Giang như là sự chia sẻ chung với bác Phùng Tường Vân và Thanh Nguyễn

    “Tôi đọc lời giới thiệu sau dưới tên của bài trên trang chủ mà bỗng thấy một rùng mình quen thuộc như đã đọc đâu đó.

    “Ông tâm sự: “Cho đến bây giờ tôi cũng không biết là tôi có tội gì nữa cơ. Nghe người ta bảo là tôi phản động, tay sai nước ngoài, thì cũng nghe nói thế thôi, chứ còn trên thực tế từ giam ở xà lim mấy năm, và mấy năm quản chế, khoảng gần 10 năm. Khi tôi trở về Hà Nội với tư cách là một người công dân thì tôi cũng không biết là tôi có tội gì. Cho tới nay cũng không ai nói với tôi là tôi có tội gì nữa.””

    Và rồi tôi nhớ ra câu chuyện như sau về bà Kim Young Soon ở Bắc Hàn:

    Vào năm 1970 công an mật Bắc Hàn ập vào nhà bà bắt đi bà, cha mẹ ruột của bà, cùng chồng bà, ba con trai, và người con gái của bà. Họ bị giam vào một nhà tù khét tiếng nhất tên là Yodok mà khi nghe tên người Bắc Hàn nào cũng sợ.

    Cuộc sống trong tù đã làm tan nát gia đình bà. Cha mẹ của bà chết vì đói, một người con trai chết đuối trong tù, một người con trai khác bị tử hình năm 1989 vì tội vượt biên. Chồng bà bị đưa đi giam ở trại khác, tại một” nơi không có ngày về” như lời bà nói. Bà vĩnh viễn không bao giờ gặp lại chồng. Bà ra tù vào năm 1979. Bà cho biết: “Trong nhiều năm trời tôi không biết mình bị bắt vì tội gì.”

    Ở Bắc Hàn, chế độ thường bắt giam kẻ có tội và cả thân nhân của họ như trong trường hợp của bà Kim Young Soon. Đa số tù nhân ở nhà tù Yodok đều là tù không án và họ không bao giờ biết họ bị bắt vì tội gì. Số lượng tù thân nhân bị bắt ăn theo vượt xa số lượng người bị buộc tội.

    Mãi nhiều năm về sau bà Kim tin là bà biết câu trả lời. Một nhân viên tình báo Bắc Hàn gọi điện thoại cho bà biết bà có vấn đề vì bà là bạn học thời trung học và đại học với Song Hye Rim, người tình bí mật của Kim Chính Nhật. Chế độ muốn xoá sạch mọi dấu vết lịch sử về mối quan hệ thầm kín này. Nhân viên tình báo đó đã cảnh cáo bà Kim Young Soon rằng: “Nếu bà nói với ai người phụ nữ này có thật, chúng tôi sẽ không tha thứ cho bà.”

    Năm 2003 bà và người con trai còn lại đào thoát thành công đến Nam Hàn, con người con gái duy nhất bà phải cho người ta làm con nuôi để cho con gái thoát khỏi vết nhơ lý lịch về cả gia đình bị ở tù ở Yodok. (Theo tờ Los Angeles Times, ngày 27 tháng Giêng năm 2010)

    Quay lại Việt Nam, theo trang mạng BBC ngày 16 tháng 7 năm 2009 trong bài viết về nhà thơ Tế Hanh vừa qua đời: xin trích

    “Có một câu chuyện sau này, trong thời Đổi Mới, được Tế Hanh kể lại.

    Trước khi Tế Hanh và Phan Khôi đi Trung Quốc, hai ông đến một tiệm may áo comlê.

    Mấy chục năm sau, hồi thập niên 1980, Tế Hanh tình cờ gặp lại người thợ may đó, và được cho hay “vì tôi may áo cho ông Phan Khôi, sau này họ bắt tôi đi cải tạo gần chục năm”.

    Có ai đì tù 10 năm vì lỡ may áo cho khách hàng, người mà trong tương lai sẽ thành “phản động”, có ai đi tù cùng với cả gia đình chỉ vì lỡ có người bạn đi học ngày xưa, người trong tương lai sẽ lọt vào mắt xanh của lãnh tụ rồi sẽ bị giết chết.

    Ôi! tù không án, tội không rõ, hay tội không đáng là các bi kịch trong các xã hội cộng sản.

    Từ ông Nguyễn Kiến Giang là người tài mà bị bầm dập đến như vậy đên bà Kim Young Soon đến người thợ may áo cho Phan Khôi. Bi kịch cá nhân là phản chiếu cái bi kịch của cả dân tộc.

    Hôm nay ở Việt Nam người ta vẫn nói “cột đèn có chân nó cũng đi (vươt biên)”

    Hôm nay theo lời bà Kim Young Soon, Bắc Hàn là nơi “ngay cả thú vật cũng xấu hổ khi phải sống ở đấy (Theo Chirstian Science Monitor ngày 9 tháng 3 năm 2010)”.

  5. nguyen mai linh nói:

    Trong nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ấy thì những ai không bị ở tù, thì cũng nghi ngờ lắm bác Phùng ơi! Nếu làm văn hoá thì phải bẻ cong ngòi bút, là dân thường thì phải cong lưng, uốn lưỡi. Được như thế thì mới khỏi ở tù thôi bác ơi! Nhưng cái tù ngoài cũng đáng sợ lắm bác, đôi khi còn đáng sợ hơn ngồi trong tù. Trong tù còn được hưởng Độc Lập (Xà lim chỉ có mình ta) và Tự Do (Tư tưởng), còn ở trong cái tù ngoài thì mất hết.

  6. Thanh Nguyễn nói:

    Ông Phùng Tường Vân,
    Cái xã hội như vậy khiến cho nhà văn, nhà báo, nhà thơ… người ta phải buột miệng văng tục “đù mạ” để bù lại cái nỗi bất bình trong người.

    http://www.talawas.org/?p=19220

    Nghĩ lại, cái xã hội mà khi muốn nhận xét về nó thì chẳng có từ nào chính xác bằng. Mọi lý luận, mọi ngôn ngữ, mọi kiến thức đông-tây-kim cổ nào cũng phải rạp mình kính nể trước cái từ “đù mạ”.

  7. Phùng Tường Vân nói:

    “… người thợ đã may complet cho Phan Khôi và Tế Hanh đi Trung Quốc dự lễ kỷ niệm Lỗ Tấn năm 1956, sau này nhân tình cờ gặp lại Tế Hanh đã cho biết ông ta bị đưa đi cải tạo gần 10 năm chỉ vì đã từng may quần áo cho Phan Khôi, một phần tử Nhân văn – Giai phẩm! Tế Hanh đã kể chuyện này nhiều lần với nhiều người, trong số đó có tôi; và tôi được biết, có cả nhà thơ Thanh Thảo. (Lại Nguyên Ân)

    Bị ở tù mười năm chỉ vì một tội danh như vậy, thiết tưởng trong nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ấy thì những ai chỉ cần không bị ở tù cũng đã có thể tự coi mình như được hưởng Độc Lập và nhất là Tự Do và Hạnh Phúc lắm lắm rồi !

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả