talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Văn – Tính đỏng đảnh của ngôn ngữ

24/05/2010 | 12:00 chiều | 49 Comments

Tác giả: Phạm Văn

Category: Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: >

Bài này ghi lại những nhận xét lan man về ngôn ngữ từ những gì mắt thấy, tai nghe. Các tài liệu tham khảo được liệt kê không đầy đủ ở cuối bài.

*

Ngôn ngữ là sản phẩm của con người và cũng chướng như con người. Ít người chú ý đến công trình của các nhà ngôn ngữ vì bị cho là khó hiểu và thiếu giá trị thực tế, nếu tính ra đồng tiền và khối lượng hạnh phúc trong cuộc sống vội vã này. Bàn về ngôn ngữ nhiều khi dẫn đến kết luận sai, nhưng chẳng làm mấy ai làm om sòm, trừ phi biết sai nhè ra mà cứ cãi bướng, và tâm lý bầy đàn dẫn đến hành động dồn kẻ cãi bướng vào đường cùng một cách có thể nói là tàn nhẫn. Sự biến đổi của ngôn ngữ có rất nhiều phi lý, thường chẳng theo quy luật rõ ràng nào, và chẳng có nhà độc tài hay nhà ngôn ngữ học nào có thể bắt người ta phải luôn viết hay nói theo một quy luật vĩnh cửu nào.

Khi loài người bắt đầu sống đàn đúm thành nhóm, ngôn ngữ biến đổi theo quá trình phát triển từ những nhóm lẻ tẻ sang xã hội-quốc gia có văn hoá nhất định, rồi đôi khi từng nhóm riêng lẻ của quốc gia-xã hội lại có khuynh hướng trở về với ngôn ngữ bầy đàn từ hồi chưa có cái gọi là văn hoá. Cùng với khuynh hướng của xã hội, cách diễn tả có thể trở nên cầu kỳ hay giản dị, làm dáng hay tục tĩu, được hay bị chính trị hoá. Nhưng chính trị hoá việc tìm hiểu đặc tính của ngôn ngữ chắc hẳn là dấm dớ, nhất là nếu dùng chính trị để đi đến kết luận “đúng-sai”, “chính thống-phi chính thống”, “hay-dở”, “chuẩn-không chuẩn”… cho một cách phát biểu nào đó. Có thể nói ngôn ngữ là một trong nhiều biểu tượng của tiến hoá tự do theo quá trình chọn lọc tự nhiên tương đối vô chính phủ của loài người. Chính trị hoá công việc tìm hiểu khoa học nói chung, và ngôn ngữ nói riêng, chỉ là tự nguyện đánh mất tự do của mình.

Một người bạn của người viết bài này có lần nói đại khái rằng sau hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của Trung Quốc, người Việt nói tiếng Hán như người Hán cùng thời mỗi khi tiếp xúc với họ. An Dương Vương nếu cần nói tiếng Hán chắc sẽ phát âm tương tự như Tần Thủy Hoàng hay dân miền nam Trung Quốc thời ấy. Thi Sách có lẽ nói tiếng Hán như Tô Định pha chút âm miền núi Tam Đảo và đồng bằng sông Hồng.

Đến năm 939, Ngô Quyền giành được độc lập từ nhà Nam Hán, người Việt ngày càng tách rời kẻ đã đô hộ mình, vì thế dân Việt giữ cách phát âm tiếng Hán thời Đường hay thời Ngũ Đại, và ít thu nhập thêm cách nói mới phát triển sau đó tại nội địa Trung Quốc. Trong khi ấy, ngôn ngữ của người Hán trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã thu nhận ảnh hưởng cách phát âm của các dân tộc từ phía bắc Trung Quốc nên biến đổi đi. Có thể đoán rằng nếu sống lại trong thế kỷ 14, Đường Minh Hoàng sẽ ngâm thơ, vịnh phú với Nguyễn Trãi dễ hơn với Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương. Về sau, các vị quan người Việt đi sứ sang Tàu đôi khi phải dùng bút để giao thiệp.

Việt Nam bị chia cắt nhiều lần trong lịch sử khiến cho tiếng Việt ở các vùng phát triển theo một số chiều hướng khác nhau. Trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, vùng đất Chúa Trịnh cai trị vốn là nơi đặt kinh đô và căn cứ địa của dân Việt từ lâu đời nhưng lại gọi là Đàng Ngoài, trong khi Đàng Trong của Chúa Nguyễn lại là vùng đất mới nhập. Người Việt ngày nay, kể cả một số người đang sống ở miền Bắc, thường nói “ngoài Bắc”, “trong Nam”, hay “ra Bắc”, “vào Nam”. Khái niệm “trong-ngoài”, “ra-vào” dùng trong trường hợp này thật khó có thể giải thích. Đàng Ngoài của Chúa Trịnh chắc hẳn tiếp xúc với Trung Quốc nhiều hơn Đàng Trong của Chúa Nguyễn, trong khi đó Đàng Trong hội nhập thêm cách nói của Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La và cả Tây phương. Sau năm 1954, trong Nam có hiện tượng Nam kỳ giá sống gặp Bắc kỳ rau muống, trong khi miền Bắc có lời phàn nàn là giọng Hà Nội bị biến thái. Sau biến cố 1975, vì nhiều lý do, người Việt miền Nam di tản ra nước ngoài thường khư khư giữ lại những từ quen thuộc cũ của miền Nam 1954-75 và không chịu dùng những từ mới gặp của miền Bắc. Người Việt sống ở nước ngoài lại chịu ảnh hưởng của phim bộ Hongkong chuyển âm qua tiếng Việt rất thịnh hành dạo đó. Một đứa bé ở San Jose tỏ ý săn sóc cụ già có thể lễ phép nói: “Ông nội bảo trọng”. Đến thập niên 1990, nhiều người Việt đi định cư ở nước ngoài, cùng lúc với kỹ thuật điện tử bắt đầu phổ biến và liên lạc với trong nước tăng lên, khi đó tiếng Việt viết và nói ở hải ngoại mới dần dần hội nhập lại phần nào với tiếng Việt trong nước, nhưng vẫn giữ một số khác biệt nhất định.

Quá trình tiến hoá của ngôn ngữ thường có hiện tượng chuộng một từ và ít dùng một từ khác. Trong tiếng Việt, những người Việt di trú về phía nam đã giữ được một số từ “thuần” Việt (theo nghĩa tương đối). Trong khi đó, người ở lại quê miền bắc thường xuyên tiếp cận với văn hoá Hán hơn nên đã thu nhập nhiều từ ngữ của Trung Quốc. Chẳng hạn, người Nam dùng chữ “bông” của người Việt đã có từ lâu, trong khi người Bắc bỏ dần chữ “bông” để mượn chữ “hoa” của tiếng Hán; hoặc có thể ghép cả hai chữ lại thành “bông hoa” để chỉ số nhiều chẳng hạn. Hoặc từ điển của Hoàng Phê xuất bản tại Hà Nội năm 1992 chú thích “ngữ vựng” là một chữ cũ và ít dùng, và dẫn người đọc qua một chữ khác, “từ vựng”.

Tiếng Anh và Mỹ dùng chữ “fall” và “autumn” để chỉ mùa lá rơi và lúc gặt lúa mì. Theo từ điển Merriam-Webster, “fall” là một từ Anglo-Saxon đã có hồi thế kỷ 13. Đến thế kỷ 14, dân Anh mượn chữ “autumn” từ tiếng Pháp, có nguồn gốc từ “autumnus” của Latin. Có lẽ giới trí thức ở mẫu quốc Anh học làm sang nói theo cổ ngữ Latin và bỏ dần từ “fall” đã có của mình để chỉ giữ lấy “autumn”.

Tìm về nguồn gốc của một chữ, có lúc nào, mượn từ những ngôn ngữ nào, xuất hiện trên văn bản nào lần đầu tiên, các biến đổi về cách viết cũng như nghĩa của một chữ ra sao… cũng là một vấn đề thú vị. Trên nguyên tắc, một ngôn ngữ dựa trên một cách viết nào đó có càng lâu càng khó tìm từ nguyên. Tuy nhiên, lấy thí dụ tiếng Anh đã có hàng chục thế kỷ, chúng ta có thể tìm từ nguyên của một chữ tiếng Anh khá dễ dàng qua các từ điển tiếng Anh trên mạng. Trong khi tiếng Việt viết bằng mẫu tự Latin ra đời mới bốn thế kỷ trước và chỉ được dùng rộng rãi hơn một trăm năm, không biết đã có ai chịu khó làm tự điển từ nguyên đến nơi đến chốn cho nó? Thí dụ, “quốc” và “quấc” đều bắt nguồn từ tiếng Hán, “xà phòng” và “xà bông” đều từ tiếng Pháp, chữ nào có trước hay chữ nào là phương ngữ, xuất hiện ở đâu lần đầu?

Ngôn ngữ cũng có thể bị quân sự hoá để phục vụ nhu cầu lên gân của thời đại. Mấy chục năm nay tiếng Mỹ được quân sự hoá khá nhiều, như “war on drugs” hay “war on terrorists” hay “war on illegal immigrants”. Người Việt có một quá khứ thường xuyên đánh nhau với ngoại bang và đánh lẫn nhau hoặc luôn luôn bị bên ngoài đe doạ, vì thế tiếng Việt đôi khi sặc mùi chiến tranh ngay cả trong những trường hợp không cần thiết, như “chống giặc dốt” hoặc vô vàn thí dụ khác. Hoặc hoà bình là một tình trạng ai cũng mong mỏi, nhưng “diễn biến hoà bình” hay “hòa giải, hòa hợp” trở thành những cụm từ mang nghĩa xấu đối với một số người.

Sự biến đổi của ngôn ngữ thể hiện rõ qua cách phát âm. Patricia O’Conner trong Origin of the Specious cho biết trong nhiều trường hợp Shakespeare viết và phát âm giống với American English hơn British English ngày nay. Trong khi British English tiếp tục thu nhập một số chữ của lục địa Âu châu, nhất là tiếng Pháp có nguồn gốc từ tiếng Latin, ngược lại, dân thuộc địa ở Mỹ châu vẫn giữ cách nói cũ của mẫu quốc Anh. Nói chung, nhiều khi người Mỹ ngày nay nói tiếng Anh của thế kỷ 17 và 18, trong khi cách nói của người Anh đã biến dạng khá nhiều trong thế kỷ 19. Chẳng hạn, tiếng Anh Anglo-Saxon lúc đầu đọc rõ âm [r] trong những chữ như “far”, “mother”, “world”. Khi thuộc địa Anh ở Mỹ châu tách ra khỏi đế quốc Anh, dân cựu thuộc địa tiếp tục giữ cách nói cũ, trừ những người còn giữ mối liên hệ kinh tế và xã hội chặt chẽ với mẫu quốc, nhưng giới trí thức ở Anh đã bỏ dần âm [r] vào cuối thế kỷ 18.

Trước thế kỷ 19, chữ “herb” dân Anh và Mỹ đều phát âm [erb], và viết là “erbe”, mượn từ chữ Pháp cổ “erbe” từ thế kỷ 13. Sau đó mẫu tự “h” được thêm vào cho giống với cách viết Latin “herba”, nghĩa là cỏ, nhưng vẫn là mẫu tự h-câm. Ngày nay người Mỹ vẫn phát âm “herb” với h-câm, trong khi Shakespeare sẽ không hiểu được cách nói từ miệng người Anh ngày nay. Mặt khác, các cuốn cẩm nang ngôn ngữ ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương đều nói chỉ dùng “an” trước một chữ bắt đầu bằng h-câm, và dùng “a” trước chữ bắt đầu bằng h có phát âm, giống như “hero”, “hypothesis”, “habit”. Nhưng một số người Anh vẫn dùng “an” trước những chữ “history”, “hotel”.

Tương tự, trong tiếng Việt, chẳng hạn chữ “blời”, “tlời”, “giời”, “trời” (thậm chí “chời”, “zời”), đều cùng một nghĩa, nhưng phát âm và cách viết thay đổi theo thời gian, địa phương và hoàn cảnh. Hoặc cách đặt dấu âm trong tiếng Việt có thể là một phần chứng tích của cách phát âm từng thời đại. Alexandre de Rhodes viết “chiụ”, trong khi ngày nay viết “chịu”. Hoặc De Rhodes viết “hŏà”, Hoàng Phê viết “hoà” có lẽ dựa theo cách phát âm [ho-à] của thời hiện đại, và đa số người thời nay viết “hòa” có lẽ do thói quen. Sự khác biệt này dẫn đến một số khó khăn khi tìm kiếm văn bản. Chẳng hạn, tìm tác phẩm của nhà ngôn ngữ học “Nguyễn Đình Hoà” trên mạng điện tử có thể sẽ không gặp một số công trình của tác giả “Nguyễn Đình Hòa”.

Sự biến thái của từ ngữ theo địa phương cũng là một đề tài thú vị khác. Nước Mỹ rộng bằng cả một lục địa nên đôi khi mỗi địa phương có cách nói riêng. Du khách đến thủ đô Washington D.C. của Mỹ có thể hỏi thăm bất kỳ ai hoặc mấy ông cựu chiến binh Mỹ râu ria xồm xoàm, mập thù lù hay ốm tong teo, để tìm “Viet Vet Memorial” một cách dễ dàng. Nhưng du khách tới New York nếu không hỏi “Vietnam Veterans Memorial” sẽ có cơ hội nghe câu trả lời là không biết, dù đứng cách đó không hơn 100 mét.

Cách xếp đặt thứ tự theo dấu giọng của tiếng Việt cũng là một biểu hiện của sự đa dạng. De Rhodes xếp theo thứ tự “không dấu, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng”; Huỳnh Tịnh Paulus Của xếp theo “không dấu, nặng, sắc, huyền, hỏi, ngã”; Đào Duy Anh xếp theo “không dấu, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã”; Hoàng Phê xếp theo “không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng”; một số từ điển khác xếp theo “không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng”, và chắc còn nhiều cách xếp khác nữa. Hình như chưa có cuốn từ điển nào xếp “không dấu” đi sau các chữ có dấu giọng. Mỗi nhà có một lý lẽ khoa học riêng, hay chẳng có lý lẽ nào, nhưng chắc chắn nhà ngôn ngữ học không đem lý lẽ chính trị vào để giải thích hay biện hộ cho một cách dùng riêng biệt nào.

Cách đánh vần của một chữ thường dựa theo cách phát âm của chữ đó, nhưng luôn luôn có những ngoại lệ. Các nhà soạn từ điển Anh và Mỹ đóng góp khá nhiều vào cách đánh vần khác biệt ở hai bên bờ Đại Tây Dương. Cách viết những chữ như “color-colour”, “honor-honour”, “labor-labour”, chịu ảnh hưởng “or” của Latin và “our” của Pháp, đều được mọi người dùng cho đến cuối thế kỷ 18. Một hôm đẹp giời và xấu trời hai bên bờ biển, các nhà làm từ điển quyết định dẹp cách viết rối loạn này: từ điển năm 1755 của Samuel Johnson ở Anh chọn “our”, và từ điển năm 1828 của Noah Webster ở Mỹ chọn “or”. Tương tự, Webster và Johnson cũng chọn cách viết khác nhau cho “fiber-fibre”, “amid-amidst”, “civilize-civilise”… Trong tiếng Việt, có lẽ chữ “thủi” (trong “thui thủi”) viết theo cách phát âm [thủ-i], dấu hỏi đi theo mẫu tự “u”, và cùng lý luận đó lẽ ra sẽ viết là “thuỷ”, dấu hỏi đi theo mẫu tự “y”, nhưng theo thói quen chúng ta thường viết “thủy”.

Cách đánh vần của tiếng Anh nổi tiếng vô lý. Người học tiếng Anh và các thi sĩ làm thơ có vần điệu thường bực mình vì những chữ như through, rough, dough, plough, hiccoughtrough, tất cả đều tận cùng bằng ough, nhưng không chữ nào phát âm giống chữ nào. Một số tên tuổi lớn trong lịch sử Mỹ đã tìm cách sửa đổi phép chính tả đỏng đảnh này. Một trong những nhà sáng lập nước Mỹ là Benjamin Franklin đã từng đề nghị đổi mẫu tự, và kỹ nghệ gia Andrew Carnegie hào phóng trợ cấp cho các nhóm nghiên cứu việc này, nhưng kết quả chẳng đi đến đâu vì chẳng ai áp dụng. Thậm chí Tổng thống Theodore Roosevelt ký sắc lệnh năm 1906 giao cho Government Printing Office một danh sách 300 chữ có cách đánh vần mới: những chữ có vấn đề như artisan, kissedwoe sẽ đổi thành artizan, kistwo. Sở in ấn của chính phủ làm lơ ông tổng thống và vấn đề chìm vào quên lãng. Ngôn ngữ tiến hoá không thể áp đặt từ trên xuống, dù sự áp đặt hợp với lý lẽ khoa học thuần túy.

Trong khi đó, cách đánh vần ngày nay biến đổi tự phát một cách mạnh mẽ cùng với sự tiến triển của kỹ thuật điện tử. Giới trẻ, trẻ tuổi và trẻ tính, dùng phép chính tả mới để gửi “text message” cho nhau qua điện thoại cầm tay và vô số vật dụng điện tử khác. Người ta có thể chưa quen thấy “i luv u” hoặc “n ieu m” trên sách báo, nhưng nó phổ biến đến nỗi ai cũng hiểu. Liệu những cách viết này sẽ tồn tại lâu dài để trở thành “chuẩn”? Tại sao những “cải tiến” vô tình này thành công, được một số người tự nguyện dùng, trong khi các nhà ngôn ngữ học với đầy đủ luận chứng khoa học lại thất bại trong việc cổ động một cách viết, cách nói nào đó?

Các nhà ngôn ngữ học tìm hiểu “chuẩn” của một ngôn ngữ, từ nào là đúng hay sai trong một thời điểm nhất định, từ nào là tiếng lóng và xuất hiện vào lúc nào, nguồn gốc và sự biến thái của một từ, hệ thống âm và cách kết hợp các từ trong một cộng đồng con người tại một thời điểm nhất định để họ có thể hiểu nhau… Công việc của họ có vẻ tỉ mẩn và ít người theo đuổi. Tuy nhiên, mỗi khi muốn vỗ ngực tuyên bố mình nói và viết đúng “chuẩn”, biết và hiểu đúng “chuẩn”, chúng ta nên nhìn trước ngó sau để xem có một nhà ngôn ngữ khó tính nào đang cặm cụi làm việc quanh đấy hay không, vì họ thường tìm thấy những điều bất ngờ và chứng minh được rằng cái gọi là “chuẩn” chưa chắc đã là “chuẩn”. Dõi theo căn nguyên của từ ngữ tuy có thể hơi nhức đầu nhưng luôn luôn là một việc thơ thẩn và thú vị.

26/12/2009 – 20/5/2010

Tham khảo

– Alexandre de Rhodes, Từ điển An nam-Lusitan-Latinh, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Viện Khoa học Xã hội, T.P. Hồ Chí Minh, 1991.

– Đào Duy Anh, Hán-Việt từ điển, 1932 và 1936; bản in lại lần thứ ba của Trường Thi, Saigon, 1957.

– Hoàng Phê et al, Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội, 1992.

– Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự vị, Imprimerie Rey, Curiol & Co., Saigon, 1895; bản in lại tại nhà in Văn Hữu, Gia Định, 1974.

– Patricia T. O’Conner và Stewart Kellerman, Origin of the Specious, Random House, New York, 2009.

– Thiều Chửu, Hán-Việt Tự điển, bản in lại của Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.

– Merriam-Webster Online, http://www.merriam-webster.com/

© 2010 Phạm Văn

© 2010 talawas

Bình luận

49 Comments (bài “Phạm Văn – Tính đỏng đảnh của ngôn ngữ”)

  1. Trương Nhân Tuấn viết:

    Xin ông Phạm Văn đừng hiểu lầm tôi. Những gì tôi viết đều nhắm tới (hay đánh động) tình trạng (bất động) chung của trí thức VN hiện nay, không phải chỉ lãnh vực ngôn ngữ, mà còn ở nhiều lãnh vực khác. Bài viết của ông, cũng như nhiều bài viết khác, chỉ là « cái cớ » để tôi lên tiếng mà thôi. Tôi phải cám ơn ông, bài viết của ông đã tạo điều kiện để mọi người tranh luận về vấn đề này.
    Cái gọi là « Tử viết » thực ra chỉ là cái dẫn nhập để (trí thức VN) thử đặt lại sự khả tín (hay hợp lý) những gì mà « trên » đã nói (hay làm) mà thôi.

  2. Phạm Văn viết:

    Trong khi tán phét (mượn chữ của ông Dương Danh Huy) về một ngành không thuộc chuyên môn của mình, việc dẫn chứng một số điều ghi trong sách không có nghĩa là “Tử viết”, theo nghĩa nhắm mắt tin theo sách, mà chỉ nhắc đến một sự kiện, một chữ, đã có trong một thời điểm nào đó, không đánh giá đúng-sai, hay-dở. Mong rằng không ai băn khoăn, hay hiểu lầm, hay thậm chí bực mình có hại cho sức khoẻ. Ngôn ngữ là một món quà rất… dở hơi, hôm nay thế này, ngày mai thế khác, đôi khi chính cái dở hơi đó làm phong phú cho đời sống, nếu đừng quá vội vàng chê bai hay phê phán một chữ nào.

    Ông Hoà Nguyễn nhắc đến một số từ: “nguơn, huơi, cây kiểng, nhựt trình, chơn chánh, học sanh, huê lợi, tiên phuông”, và cách nói như: “eng mẹc, éc hẻng”. Những chữ và biến dạng của chúng rất đẹp, và tôi thấy tiếc nếu người Việt quên dần đi vì không nói, không viết nữa, dẫn đến không hiểu hoặc hiểu sai người thời trước nói và viết gì. Cách đây không lâu tôi được thấy cuốn từ điển (quên tên) dày cộm mới xuất bản về những chữ của miền Nam. Hy vọng chúng ta sẽ có thêm những công trình tương tự để tham khảo về phương ngữ, khẩu ngữ, từ nguyên, từ láy, tiếng lóng…

  3. VanLang viết:

    Cố GS Cao Xuân Hạo đã chỉ ra rằng “chí ít” là một cách nói sai và ông Trường Chinh (cố tổng bí thư đảng CS Việt Nam) chính là người đẻ ra từ này. Trích GS Hạo:
    [(4). Người tử tế đều biết rằng tiếng Việt đã có sẵn hai cách nói đúng đắn hơn nhiều là ít ra (cũng) và ít nhất, và mặt khác, dù không biết chữ Nho, cũng hiểu rằng chí có nghĩa là “rất” (như trong chí hiếu, chí tôn, chí phải chứ không bao giờ có nghĩa là “nhất” như trong cách nói chí ít. (Theo ý nhiều người chuyên môn ở Hà Nội thì đây là kiểu nói a dua theo lối nói mà ông Trường Chinh “sáng tác” ra].
    Nếu tôi nhớ không lầm thì bài này của ông cũng đã từng được đăng trên Talawas trước đây. Có thể xem thêm ở đây: http://www.thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=21894

    Về từ “chất lượng”. Tôi (và có lẽ đa số người từng lớn lên ở miền Bắc) không thấy nó có vấn đề gì. Tôi chỉ hiểu nó theo một nghĩa duy nhất là “quality” mà thôi. Tuy nhiên nghe các bác miền Nam phân tích thì tôi nhận ra là các bác có lý. Miền Bắc cũng có từ “phẩm chất”, ai cũng hiểu, không biết vì đâu lại bị thay thế dần bằng “chất lượng” như vậy. Từ đây tôi rút ra kết luận là có những từ dùng sai nhưng nếu cứ được dùng mãi bởi nhiều người thì rồi nó sẽ trở thành “đúng”. “Đúng” ở đây là theo nghĩa ai cũng hiểu ý nghĩa mà nó được dùng để diễn tả. Tuy vậy có những trường hợp mà nghĩa mới của một từ (hay cụm từ) lại trái ngược hoàn toàn với nghĩa mà đáng ra nó phải có (nghĩa nguyên thuỷ), hoặc hiện vẫn đang có. Ví dụ như cụm từ “xã hội hoá” đang rất thịnh hành ở Việt Nam hiện nay. Rõ ràng là nó (socialisation) đang được dùng để chỉ “privatisation” (cho dù là privatisation trá hình). Theo tôi đây là một nhầm lẫn (hay cố tình nhầm lẫn – đánh lận con đen?) không thể chấp nhận được.
    Dù sao trông ta thì cũng không khỏi nghĩ đến người. Như bọn Mỹ chẳng hạn. Rõ ràng gọi người da đỏ là “indians” là sai lè, thế mà có ai cấm đâu. Rồi lại còn đổi “french fries” thành “freedom fries”, rõ chán!

  4. Trương Nhân Tuấn viết:

    Cám ơn bác Nguyễn Đình Đăng đã nhắc chuyện chữ quốc ngữ và ông Alexandre De Rhodes. Những gì tôi viết về việc này thật là « không chính xác » ! Thực ra trước ông A. De Rhodes còn có công trình của nhiều vị khác như bác đã dẫn.
    Nhân có bác Nguyễn Văn Say góp ý thật hay, tôi mạn phép góp thêm rằng :
    Nếu tôi không lầm thì tiếng đọc trại (để tránh phạm húy) của chữ « hoa » là « huê » chứ không phải là « bông ». Và tôi cũng lấy làm lạ, nếu « bông » có nghĩa là « hoa » tại sao người ta gọi « bông lúa » hay « nhánh lúa » hoặc « nhành lúa » mà không gọi « hoa lúa » ? Không biết ngoài Trung hay ngoài Bắc có nói thế không, trong Nam thì không nghe nói.
    Tôi cũng nhớ trong Nam người ta hay đọc trại tên khi tên này trùng tên với ông bà trong họ. Do đó có nhiều tên đọc trại : Hiệp (Hợp hay Hạp), Thái (Thới, Thể), Mạng (Mệnh), Dũng (Dõng), Hoàng (Huỳnh), v.v…
    Tôi nghĩ, trong ngôn ngữ của dân tộc nào cũng vậy, đều có những « ngoại lệ ». Những ngoại lệ này người ta phải chấp nhận vì không thể giải thích. Trường hợp chia các động từ của tiếng Pháp hay một số động từ tiếng Anh là những thí dụ. Và cho dầu có nhiều ngoại lệ do văn phạm và phức tạp do cách phát âm, tiếng Pháp xưa nay vẫn được xem là một thứ tiếng « lịch sự, quí phái », chính xác, do đó thường dùng cho ngôn ngữ « ngoại giao ». Trong khi tiếng Anh thì thông dụng, cụ thể do đó thường được sử dụng trong « đại chúng » và trong khoa học (nhất là các ngôn ngữ điện toán). Tiếng Đức cũng nổi tiếng do sự chính xác, do đó cũng được dùng trong khoa học kỹ thuật, nhưng vì khó học nên ít thông dụng.
    Riêng tiếng Việt Nam, những ngoại lệ về cách đánh vần, cách phát âm đều là những ngoại lệ phải chấp nhận, vì đó là « bản sắc » của tiếng Việt. Nhưng trong tiếng Việt có rất nhiều từ ngữ không chính xác, nhất là những từ mới sau này. Đây không phải là « tính đỏng đảnh » của ngôn từ mà là sự diễn đạt sai ý nghĩa của một vật (việc, thể) hay một sự vật (việc, thể). Đó mới là vấn đề cần nói.

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...