talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Văn – Tính đỏng đảnh của ngôn ngữ

24/05/2010 | 12:00 chiều | 49 Comments

Tác giả: Phạm Văn

Category: Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: >

Bài này ghi lại những nhận xét lan man về ngôn ngữ từ những gì mắt thấy, tai nghe. Các tài liệu tham khảo được liệt kê không đầy đủ ở cuối bài.

*

Ngôn ngữ là sản phẩm của con người và cũng chướng như con người. Ít người chú ý đến công trình của các nhà ngôn ngữ vì bị cho là khó hiểu và thiếu giá trị thực tế, nếu tính ra đồng tiền và khối lượng hạnh phúc trong cuộc sống vội vã này. Bàn về ngôn ngữ nhiều khi dẫn đến kết luận sai, nhưng chẳng làm mấy ai làm om sòm, trừ phi biết sai nhè ra mà cứ cãi bướng, và tâm lý bầy đàn dẫn đến hành động dồn kẻ cãi bướng vào đường cùng một cách có thể nói là tàn nhẫn. Sự biến đổi của ngôn ngữ có rất nhiều phi lý, thường chẳng theo quy luật rõ ràng nào, và chẳng có nhà độc tài hay nhà ngôn ngữ học nào có thể bắt người ta phải luôn viết hay nói theo một quy luật vĩnh cửu nào.

Khi loài người bắt đầu sống đàn đúm thành nhóm, ngôn ngữ biến đổi theo quá trình phát triển từ những nhóm lẻ tẻ sang xã hội-quốc gia có văn hoá nhất định, rồi đôi khi từng nhóm riêng lẻ của quốc gia-xã hội lại có khuynh hướng trở về với ngôn ngữ bầy đàn từ hồi chưa có cái gọi là văn hoá. Cùng với khuynh hướng của xã hội, cách diễn tả có thể trở nên cầu kỳ hay giản dị, làm dáng hay tục tĩu, được hay bị chính trị hoá. Nhưng chính trị hoá việc tìm hiểu đặc tính của ngôn ngữ chắc hẳn là dấm dớ, nhất là nếu dùng chính trị để đi đến kết luận “đúng-sai”, “chính thống-phi chính thống”, “hay-dở”, “chuẩn-không chuẩn”… cho một cách phát biểu nào đó. Có thể nói ngôn ngữ là một trong nhiều biểu tượng của tiến hoá tự do theo quá trình chọn lọc tự nhiên tương đối vô chính phủ của loài người. Chính trị hoá công việc tìm hiểu khoa học nói chung, và ngôn ngữ nói riêng, chỉ là tự nguyện đánh mất tự do của mình.

Một người bạn của người viết bài này có lần nói đại khái rằng sau hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của Trung Quốc, người Việt nói tiếng Hán như người Hán cùng thời mỗi khi tiếp xúc với họ. An Dương Vương nếu cần nói tiếng Hán chắc sẽ phát âm tương tự như Tần Thủy Hoàng hay dân miền nam Trung Quốc thời ấy. Thi Sách có lẽ nói tiếng Hán như Tô Định pha chút âm miền núi Tam Đảo và đồng bằng sông Hồng.

Đến năm 939, Ngô Quyền giành được độc lập từ nhà Nam Hán, người Việt ngày càng tách rời kẻ đã đô hộ mình, vì thế dân Việt giữ cách phát âm tiếng Hán thời Đường hay thời Ngũ Đại, và ít thu nhập thêm cách nói mới phát triển sau đó tại nội địa Trung Quốc. Trong khi ấy, ngôn ngữ của người Hán trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã thu nhận ảnh hưởng cách phát âm của các dân tộc từ phía bắc Trung Quốc nên biến đổi đi. Có thể đoán rằng nếu sống lại trong thế kỷ 14, Đường Minh Hoàng sẽ ngâm thơ, vịnh phú với Nguyễn Trãi dễ hơn với Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương. Về sau, các vị quan người Việt đi sứ sang Tàu đôi khi phải dùng bút để giao thiệp.

Việt Nam bị chia cắt nhiều lần trong lịch sử khiến cho tiếng Việt ở các vùng phát triển theo một số chiều hướng khác nhau. Trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, vùng đất Chúa Trịnh cai trị vốn là nơi đặt kinh đô và căn cứ địa của dân Việt từ lâu đời nhưng lại gọi là Đàng Ngoài, trong khi Đàng Trong của Chúa Nguyễn lại là vùng đất mới nhập. Người Việt ngày nay, kể cả một số người đang sống ở miền Bắc, thường nói “ngoài Bắc”, “trong Nam”, hay “ra Bắc”, “vào Nam”. Khái niệm “trong-ngoài”, “ra-vào” dùng trong trường hợp này thật khó có thể giải thích. Đàng Ngoài của Chúa Trịnh chắc hẳn tiếp xúc với Trung Quốc nhiều hơn Đàng Trong của Chúa Nguyễn, trong khi đó Đàng Trong hội nhập thêm cách nói của Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La và cả Tây phương. Sau năm 1954, trong Nam có hiện tượng Nam kỳ giá sống gặp Bắc kỳ rau muống, trong khi miền Bắc có lời phàn nàn là giọng Hà Nội bị biến thái. Sau biến cố 1975, vì nhiều lý do, người Việt miền Nam di tản ra nước ngoài thường khư khư giữ lại những từ quen thuộc cũ của miền Nam 1954-75 và không chịu dùng những từ mới gặp của miền Bắc. Người Việt sống ở nước ngoài lại chịu ảnh hưởng của phim bộ Hongkong chuyển âm qua tiếng Việt rất thịnh hành dạo đó. Một đứa bé ở San Jose tỏ ý săn sóc cụ già có thể lễ phép nói: “Ông nội bảo trọng”. Đến thập niên 1990, nhiều người Việt đi định cư ở nước ngoài, cùng lúc với kỹ thuật điện tử bắt đầu phổ biến và liên lạc với trong nước tăng lên, khi đó tiếng Việt viết và nói ở hải ngoại mới dần dần hội nhập lại phần nào với tiếng Việt trong nước, nhưng vẫn giữ một số khác biệt nhất định.

Quá trình tiến hoá của ngôn ngữ thường có hiện tượng chuộng một từ và ít dùng một từ khác. Trong tiếng Việt, những người Việt di trú về phía nam đã giữ được một số từ “thuần” Việt (theo nghĩa tương đối). Trong khi đó, người ở lại quê miền bắc thường xuyên tiếp cận với văn hoá Hán hơn nên đã thu nhập nhiều từ ngữ của Trung Quốc. Chẳng hạn, người Nam dùng chữ “bông” của người Việt đã có từ lâu, trong khi người Bắc bỏ dần chữ “bông” để mượn chữ “hoa” của tiếng Hán; hoặc có thể ghép cả hai chữ lại thành “bông hoa” để chỉ số nhiều chẳng hạn. Hoặc từ điển của Hoàng Phê xuất bản tại Hà Nội năm 1992 chú thích “ngữ vựng” là một chữ cũ và ít dùng, và dẫn người đọc qua một chữ khác, “từ vựng”.

Tiếng Anh và Mỹ dùng chữ “fall” và “autumn” để chỉ mùa lá rơi và lúc gặt lúa mì. Theo từ điển Merriam-Webster, “fall” là một từ Anglo-Saxon đã có hồi thế kỷ 13. Đến thế kỷ 14, dân Anh mượn chữ “autumn” từ tiếng Pháp, có nguồn gốc từ “autumnus” của Latin. Có lẽ giới trí thức ở mẫu quốc Anh học làm sang nói theo cổ ngữ Latin và bỏ dần từ “fall” đã có của mình để chỉ giữ lấy “autumn”.

Tìm về nguồn gốc của một chữ, có lúc nào, mượn từ những ngôn ngữ nào, xuất hiện trên văn bản nào lần đầu tiên, các biến đổi về cách viết cũng như nghĩa của một chữ ra sao… cũng là một vấn đề thú vị. Trên nguyên tắc, một ngôn ngữ dựa trên một cách viết nào đó có càng lâu càng khó tìm từ nguyên. Tuy nhiên, lấy thí dụ tiếng Anh đã có hàng chục thế kỷ, chúng ta có thể tìm từ nguyên của một chữ tiếng Anh khá dễ dàng qua các từ điển tiếng Anh trên mạng. Trong khi tiếng Việt viết bằng mẫu tự Latin ra đời mới bốn thế kỷ trước và chỉ được dùng rộng rãi hơn một trăm năm, không biết đã có ai chịu khó làm tự điển từ nguyên đến nơi đến chốn cho nó? Thí dụ, “quốc” và “quấc” đều bắt nguồn từ tiếng Hán, “xà phòng” và “xà bông” đều từ tiếng Pháp, chữ nào có trước hay chữ nào là phương ngữ, xuất hiện ở đâu lần đầu?

Ngôn ngữ cũng có thể bị quân sự hoá để phục vụ nhu cầu lên gân của thời đại. Mấy chục năm nay tiếng Mỹ được quân sự hoá khá nhiều, như “war on drugs” hay “war on terrorists” hay “war on illegal immigrants”. Người Việt có một quá khứ thường xuyên đánh nhau với ngoại bang và đánh lẫn nhau hoặc luôn luôn bị bên ngoài đe doạ, vì thế tiếng Việt đôi khi sặc mùi chiến tranh ngay cả trong những trường hợp không cần thiết, như “chống giặc dốt” hoặc vô vàn thí dụ khác. Hoặc hoà bình là một tình trạng ai cũng mong mỏi, nhưng “diễn biến hoà bình” hay “hòa giải, hòa hợp” trở thành những cụm từ mang nghĩa xấu đối với một số người.

Sự biến đổi của ngôn ngữ thể hiện rõ qua cách phát âm. Patricia O’Conner trong Origin of the Specious cho biết trong nhiều trường hợp Shakespeare viết và phát âm giống với American English hơn British English ngày nay. Trong khi British English tiếp tục thu nhập một số chữ của lục địa Âu châu, nhất là tiếng Pháp có nguồn gốc từ tiếng Latin, ngược lại, dân thuộc địa ở Mỹ châu vẫn giữ cách nói cũ của mẫu quốc Anh. Nói chung, nhiều khi người Mỹ ngày nay nói tiếng Anh của thế kỷ 17 và 18, trong khi cách nói của người Anh đã biến dạng khá nhiều trong thế kỷ 19. Chẳng hạn, tiếng Anh Anglo-Saxon lúc đầu đọc rõ âm [r] trong những chữ như “far”, “mother”, “world”. Khi thuộc địa Anh ở Mỹ châu tách ra khỏi đế quốc Anh, dân cựu thuộc địa tiếp tục giữ cách nói cũ, trừ những người còn giữ mối liên hệ kinh tế và xã hội chặt chẽ với mẫu quốc, nhưng giới trí thức ở Anh đã bỏ dần âm [r] vào cuối thế kỷ 18.

Trước thế kỷ 19, chữ “herb” dân Anh và Mỹ đều phát âm [erb], và viết là “erbe”, mượn từ chữ Pháp cổ “erbe” từ thế kỷ 13. Sau đó mẫu tự “h” được thêm vào cho giống với cách viết Latin “herba”, nghĩa là cỏ, nhưng vẫn là mẫu tự h-câm. Ngày nay người Mỹ vẫn phát âm “herb” với h-câm, trong khi Shakespeare sẽ không hiểu được cách nói từ miệng người Anh ngày nay. Mặt khác, các cuốn cẩm nang ngôn ngữ ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương đều nói chỉ dùng “an” trước một chữ bắt đầu bằng h-câm, và dùng “a” trước chữ bắt đầu bằng h có phát âm, giống như “hero”, “hypothesis”, “habit”. Nhưng một số người Anh vẫn dùng “an” trước những chữ “history”, “hotel”.

Tương tự, trong tiếng Việt, chẳng hạn chữ “blời”, “tlời”, “giời”, “trời” (thậm chí “chời”, “zời”), đều cùng một nghĩa, nhưng phát âm và cách viết thay đổi theo thời gian, địa phương và hoàn cảnh. Hoặc cách đặt dấu âm trong tiếng Việt có thể là một phần chứng tích của cách phát âm từng thời đại. Alexandre de Rhodes viết “chiụ”, trong khi ngày nay viết “chịu”. Hoặc De Rhodes viết “hŏà”, Hoàng Phê viết “hoà” có lẽ dựa theo cách phát âm [ho-à] của thời hiện đại, và đa số người thời nay viết “hòa” có lẽ do thói quen. Sự khác biệt này dẫn đến một số khó khăn khi tìm kiếm văn bản. Chẳng hạn, tìm tác phẩm của nhà ngôn ngữ học “Nguyễn Đình Hoà” trên mạng điện tử có thể sẽ không gặp một số công trình của tác giả “Nguyễn Đình Hòa”.

Sự biến thái của từ ngữ theo địa phương cũng là một đề tài thú vị khác. Nước Mỹ rộng bằng cả một lục địa nên đôi khi mỗi địa phương có cách nói riêng. Du khách đến thủ đô Washington D.C. của Mỹ có thể hỏi thăm bất kỳ ai hoặc mấy ông cựu chiến binh Mỹ râu ria xồm xoàm, mập thù lù hay ốm tong teo, để tìm “Viet Vet Memorial” một cách dễ dàng. Nhưng du khách tới New York nếu không hỏi “Vietnam Veterans Memorial” sẽ có cơ hội nghe câu trả lời là không biết, dù đứng cách đó không hơn 100 mét.

Cách xếp đặt thứ tự theo dấu giọng của tiếng Việt cũng là một biểu hiện của sự đa dạng. De Rhodes xếp theo thứ tự “không dấu, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng”; Huỳnh Tịnh Paulus Của xếp theo “không dấu, nặng, sắc, huyền, hỏi, ngã”; Đào Duy Anh xếp theo “không dấu, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã”; Hoàng Phê xếp theo “không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng”; một số từ điển khác xếp theo “không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng”, và chắc còn nhiều cách xếp khác nữa. Hình như chưa có cuốn từ điển nào xếp “không dấu” đi sau các chữ có dấu giọng. Mỗi nhà có một lý lẽ khoa học riêng, hay chẳng có lý lẽ nào, nhưng chắc chắn nhà ngôn ngữ học không đem lý lẽ chính trị vào để giải thích hay biện hộ cho một cách dùng riêng biệt nào.

Cách đánh vần của một chữ thường dựa theo cách phát âm của chữ đó, nhưng luôn luôn có những ngoại lệ. Các nhà soạn từ điển Anh và Mỹ đóng góp khá nhiều vào cách đánh vần khác biệt ở hai bên bờ Đại Tây Dương. Cách viết những chữ như “color-colour”, “honor-honour”, “labor-labour”, chịu ảnh hưởng “or” của Latin và “our” của Pháp, đều được mọi người dùng cho đến cuối thế kỷ 18. Một hôm đẹp giời và xấu trời hai bên bờ biển, các nhà làm từ điển quyết định dẹp cách viết rối loạn này: từ điển năm 1755 của Samuel Johnson ở Anh chọn “our”, và từ điển năm 1828 của Noah Webster ở Mỹ chọn “or”. Tương tự, Webster và Johnson cũng chọn cách viết khác nhau cho “fiber-fibre”, “amid-amidst”, “civilize-civilise”… Trong tiếng Việt, có lẽ chữ “thủi” (trong “thui thủi”) viết theo cách phát âm [thủ-i], dấu hỏi đi theo mẫu tự “u”, và cùng lý luận đó lẽ ra sẽ viết là “thuỷ”, dấu hỏi đi theo mẫu tự “y”, nhưng theo thói quen chúng ta thường viết “thủy”.

Cách đánh vần của tiếng Anh nổi tiếng vô lý. Người học tiếng Anh và các thi sĩ làm thơ có vần điệu thường bực mình vì những chữ như through, rough, dough, plough, hiccoughtrough, tất cả đều tận cùng bằng ough, nhưng không chữ nào phát âm giống chữ nào. Một số tên tuổi lớn trong lịch sử Mỹ đã tìm cách sửa đổi phép chính tả đỏng đảnh này. Một trong những nhà sáng lập nước Mỹ là Benjamin Franklin đã từng đề nghị đổi mẫu tự, và kỹ nghệ gia Andrew Carnegie hào phóng trợ cấp cho các nhóm nghiên cứu việc này, nhưng kết quả chẳng đi đến đâu vì chẳng ai áp dụng. Thậm chí Tổng thống Theodore Roosevelt ký sắc lệnh năm 1906 giao cho Government Printing Office một danh sách 300 chữ có cách đánh vần mới: những chữ có vấn đề như artisan, kissedwoe sẽ đổi thành artizan, kistwo. Sở in ấn của chính phủ làm lơ ông tổng thống và vấn đề chìm vào quên lãng. Ngôn ngữ tiến hoá không thể áp đặt từ trên xuống, dù sự áp đặt hợp với lý lẽ khoa học thuần túy.

Trong khi đó, cách đánh vần ngày nay biến đổi tự phát một cách mạnh mẽ cùng với sự tiến triển của kỹ thuật điện tử. Giới trẻ, trẻ tuổi và trẻ tính, dùng phép chính tả mới để gửi “text message” cho nhau qua điện thoại cầm tay và vô số vật dụng điện tử khác. Người ta có thể chưa quen thấy “i luv u” hoặc “n ieu m” trên sách báo, nhưng nó phổ biến đến nỗi ai cũng hiểu. Liệu những cách viết này sẽ tồn tại lâu dài để trở thành “chuẩn”? Tại sao những “cải tiến” vô tình này thành công, được một số người tự nguyện dùng, trong khi các nhà ngôn ngữ học với đầy đủ luận chứng khoa học lại thất bại trong việc cổ động một cách viết, cách nói nào đó?

Các nhà ngôn ngữ học tìm hiểu “chuẩn” của một ngôn ngữ, từ nào là đúng hay sai trong một thời điểm nhất định, từ nào là tiếng lóng và xuất hiện vào lúc nào, nguồn gốc và sự biến thái của một từ, hệ thống âm và cách kết hợp các từ trong một cộng đồng con người tại một thời điểm nhất định để họ có thể hiểu nhau… Công việc của họ có vẻ tỉ mẩn và ít người theo đuổi. Tuy nhiên, mỗi khi muốn vỗ ngực tuyên bố mình nói và viết đúng “chuẩn”, biết và hiểu đúng “chuẩn”, chúng ta nên nhìn trước ngó sau để xem có một nhà ngôn ngữ khó tính nào đang cặm cụi làm việc quanh đấy hay không, vì họ thường tìm thấy những điều bất ngờ và chứng minh được rằng cái gọi là “chuẩn” chưa chắc đã là “chuẩn”. Dõi theo căn nguyên của từ ngữ tuy có thể hơi nhức đầu nhưng luôn luôn là một việc thơ thẩn và thú vị.

26/12/2009 – 20/5/2010

Tham khảo

– Alexandre de Rhodes, Từ điển An nam-Lusitan-Latinh, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Viện Khoa học Xã hội, T.P. Hồ Chí Minh, 1991.

– Đào Duy Anh, Hán-Việt từ điển, 1932 và 1936; bản in lại lần thứ ba của Trường Thi, Saigon, 1957.

– Hoàng Phê et al, Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội, 1992.

– Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự vị, Imprimerie Rey, Curiol & Co., Saigon, 1895; bản in lại tại nhà in Văn Hữu, Gia Định, 1974.

– Patricia T. O’Conner và Stewart Kellerman, Origin of the Specious, Random House, New York, 2009.

– Thiều Chửu, Hán-Việt Tự điển, bản in lại của Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.

– Merriam-Webster Online, http://www.merriam-webster.com/

© 2010 Phạm Văn

© 2010 talawas

Bình luận

49 Comments (bài “Phạm Văn – Tính đỏng đảnh của ngôn ngữ”)

  1. Dương Danh Huy viết:

    Bác Tích

    Về 2 nhận định của tôi về chính tả tiếng Pháp:

    Các phụ âm cuối nhiều khi thì bỏ,

    Nội chia động từ être cũng thấy s, t, st bị bỏ trong es, est, nous, sommes, vous, êtes, ils, elles, sont.

    Chia regarder thì thêm regardes, regardons, regardent. Nhưng ils regardent attentivement thì ent vừa câm vừa không câm.

    Nói chung các động từ Pháp thì nhiều khi nhếu chỉ nghe động từ đó mà không biết chủ từ là gì thì sẽ không thể biết viết thế nào (có nghĩa trong ngôn ngữ hàng ngày các phụ âm cup^’i bị câm là chuyện thường), eg,

    regardes hay regarde?
    finis hay finit?
    entends hay entend?
    es hay est?
    sais hay sait?
    bois hay boit?
    atteins hay attein?
    veux hay veut?

    Ngoài các dộng từ, có vô số từ khác với phụ âm cuối câm, eg, porc, abord, tard, avis, dit, tôt, taux.

    Nhưng có khi không câm: os, ours, plus (có khi câm, có khi không câm), il est à la Gare de l’Est (cùng là est nhưng 2 cách phát âm).

    [2] nhiều khi thì khát âm hoàn toàn khác với các mẫu tự.

    J’ai faim (m phát âm như n)
    le temps (mps phát âm như n)
    fils (âm ils frong fils phát âm khác hẳn ils trong ils sont)

  2. Trương Nhân Tuấn viết:

    Ngôn ngữ và chữ viết Việt Nam chắc chắn có nhiều vấn đề cần phải xét lại.
    Thử xét trước tiên trường hợp Nhật Bản. Người Nhật vốn không có chữ viết, lịch sử của họ chỉ được lưu truyền bằng miệng. Chỉ đến thế kỷ thứ 6, nhận thấy những giới hạn và bất tiện của một ngôn ngữ không có chữ viết,người Nhật cho xuất dương sang Trung Hoa những trí thức, bác học của xứ sở họ để học hỏi nhằm phát minh một thứ chữ viết riêng cho người Nhật. Việc này đưa đến cách viết tiếng Nhật gọi là kanji (tức Hán tự), tức cách viết chữ tượng hình (idéogramme). Sau này các nhà trí thức Nhật nghiên cứu thêm cách viết « tượng âm », tức dựa trên âm thanh (syllable), là các cách viết hiragana và katakana. (Nguyên nhân vì sao có đến hai cách phát âm, là do việc phân biện nam, nữ. Hiragana là cách viết theo phát âm của phụ nữ và katakana là cách viết theo nam giới). Cuối cùng dân Nhật có một chữ viết đặc thù của mình, cho chính dân tộc Nhật phát minh ra, mặc dầu có vay mượn từ Hán tự.
    Ta cũng có thể xét thêm trường hợp chữ viết và ngôn ngữ Đại Hàn.
    Chữ viết của người Việt, cũng như người Nhật (và Đại Hàn) bắt nguồn từ ngôn ngữ Hán, nhưng Việt Nam khác Nhật Bản ở chỗ người Nhật chủ động đi tìm học còn người Việt hấp thụ chữ Hán (và văn hóa Trung Hoa) bằng một cách thụ động, do bắt buộc, vì bị tộc Hán đô hộ. Cái lợi của việc chủ động đi tìm học của Nhật là họ có thời gian nghiên cứu để lựa chọn và hấp thụ được cái hay, thải bỏ cái dở của ngôn ngữ (và văn minh) Trung Hoa. Còn cách hấp thụ do nhồi nhét bằng sức mạnh (của kẻ thù cướp nước) lên dân tộc Việt Nam, nếu thu thập được được cái hay thì không nói làm chi, mà việc hấp thụ cái tồi dở cũng không thể từ chối, phản kháng được. Một thí dụ cho cái tồi dở của Việt Nam là cái tệ hại « thờ thiên tử » của Khổng giáo. Đạo Khổng đặt ra những qui luật cho con người đối xử với nhau trong xã hội. Không thể chối cãi những giá trị xã hội của Khổng Giáo, với một « nồng độ » giới hạn nào đó, vẫn còn hữu dụng đến hôm nay. Nhưng ngoài những giá trị về xã hội, đạo Khổng còn đặt những qui luật để ràng buộc những dân tộc khác, sống chung quanh tộc Trung Hoa, thành những « phiên bang », thủ phận thần tử đời đời trung thành với thiên triều. Nếu không có người Pháp kịp thời vào chiếm đóng Việt Nam vào thế kỷ 19 thì chắc chắn Việt Nam đã trở thành một tỉnh của Trung Quốc rồi ! Cái độc địa của nhồi nhét văn hóa Hán là ở chỗ đó. Người Nhật cũng học và ảnh hưởng Khổng giáo, nhưng tinh thần của họ là tinh túy của Khổng giáo áp dụng cho Nhật hoàng. Người Nhật học Trung Hoa để hơn Trung Hoa, bắt Trung Hoa quì dưới chân mình. Cái lợi và hại của sự chủ động hay thụ động trong học hỏi là ở chỗ đó.
    Sau khi đặt được nền móng hành chánh thuộc địa tại Việt Nam thì người Pháp, cũng như người Hán ngày xưa, du nhập văn hóa Tây phương vào xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng việc loan truyền các giá trị phương Tây vào xã hội Việt Nam là do sự cổ vũ của các sĩ phu Việt Nam thời đó. Chữ « quốc ngữ » từ đó cũng thịnh hành, lần hồi thay thế hoàn toàn chữ Hán. Chữ « quốc ngữ » được ông cố đạo Alexandre de Rhodes sáng chế từ thế kỷ 17 nhằm vào việc truyền đạo. Dĩ nhiên chữ « quốc ngữ » có nhiều khuyết điểm vì được phát minh do một người nước ngoài, không thông thạo sâu sắc văn hóa Việt Nam.
    Trong khi đó có một loại chữ do chính người Việt sáng chế ra, đó là chữ Nôm, có thể được xem như là một cố gắng của người Việt về sự độc lập văn hóa của dân tộc Việt đối với tộc Hán. Cố gắng sáng tạo chữ Nôm có thể so sánh với thành quả từ cố gắng của các học giả Nhật Bản trong việc sáng chế tiếng Nhật. Nhưng sự cố gắng này cũng không có kết quả lớn, vì ảnh hưởng của chữ Nôm không lan rộng và sâu trong quần chúng. Giới sĩ phu vẫn dùng chữ Hán, chữ Nôm bị xem là một lối chữ viết của kẻ « vô học », thôn dã : nôm na là cha mách qué ! Xem ra sĩ phu Việt Nam thờ « thánh hiền » đến mức bỏ luôn cả cái gốc của chính dân tộc mình ! Trong khi tiếng Nhật (và Đại Hàn) thì phát huy mạnh, lấn áp chữ Hán và trở thành một ngôn ngữ chính thức của hai quốc gia này thì chữ Nôm bị xóa hoàn toàn ra khỏi « trí nhớ tập thể » của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là di họa của việc học do nhồi nhét, thiếu tự chủ !
    Trong khi đó tiếng Việt (chữ quốc ngữ) đến nay vẫn chưa hoàn thiện. Mỗi người (học giả), mỗi chế độ, mỗi miền… có cách nói và cách viết riêng của mình. Nguyên nhân do đâu ? Chắc chắn có nhiều cách giải thích.
    Nhưng chỉ nói một yếu tố quan trọng, theo tôi đã theo đuổi là làm cho VN luôn đắm chìm trong vũng tối của văn hóa và lịch sử, là sĩ phu (trí thức) Việt Nam không có tinh thần hoài nghi của khoa học.
    Sĩ phu ngày xưa, những gì rắc rối, không giải thích được thì cứ « Tử viết » là giải quyết xong hết. « Tử viết » là Khổng Tử viết. Tử viết là phải đúng, là chân lý, là bất khả tranh biện. Thái độ này kéo dài hàng ngàn năm. Không ai dám đặt lại những lời nói của Khổng Tử.
    Ngày nay cũng vậy. Thái độ thần phục, dễ bảo của trí thức hình như đã trở thành một yếu tố di truyền. Chợt nhớ đến ông Hà Sĩ Phu, ông cho rằng đó là bệnh « hủ mác ».
    Những gì « trên nói », cũng như « Tử viết », là đúng. Nếu sai là do « dưới » làm sai thôi !
    Thiếu tinh thần hoài nghi của khoa học đã khiến hàng (vài) chục thế hệ Việt Nam chỉ bổn cũ nhai lại, thiếu sáng kiến, đất nước chỉ thụt lui, hay đứng yêu, trong khi các nước khác đã tiến bằng bước tiến kinh hoàng.
    Về ngôn ngữ, một lô thí dụ của các bác Hoàng Trường Sa, Trần Văn Tích… cho thấy tiếng Việt rõ ràng có vấn đề.
    Thử đọc các cụm từ sau : « nuôi trồng thủy sản », « lãnh thổ trên Biển Đông »… thấy có chướng tai không ?
    Nhưng tinh thần « Tử viết » muôn năm, « trên nói » là phải đúng, dưới không được có ý kiến, đã khiến ngôn ngữ Việt Nam thoái bộ. Ngôn ngữ là phải « sống ». Mà « sống » là có tiến hóa. Nhưng « sống » trong quá khứ thì « tiến hóa » thay vì tiến lên lại… tiến xuống !
    Đó là thảm cảnh của ngôn ngữ Việt.
    Tôi cũng cám ơn tác giả Phạm Văn đã viết bài này. « Tâm lý bầy đàn » mà ông viết trong bài đúng lắm. Thật là kẻ điên khùng, giữa chốn văn minh « bầy đàn » mà dám tỏ thái độ hoài nghi. Không bị đánh « chết mẹ » là may lắm rồi !

  3. Trần Văn Tích viết:

    Đọc phản hồi của ông Hoà Nguyễn, tôi đâm ra băn khoăn không hiểu từ lúc được mẹ dạy đánh vần đến giờ, mình hiểu hai chữ “đánh vần” có đúng hay không và nhất là có thể dịch “đánh vần” sang Anh ngữ, Pháp ngữ và Đức ngữ như tôi đã dịch hay không.
    Tôi xem lại một số từ điển thì thấy nghĩa “đánh vần” đại khái là : “đọc từng con chữ, ghép lại thành vần, từng tiếng một” (Hoàng Phê) hoặc “đọc ráp vần, ráp vần các chữ thành tiếng”(Lê Văn Đức-Lê Ngọc Trụ). Như vậy thì đúng như ông Hoà Nguyễn vạch rõ, đánh vần không phải to spell, épeler, buchstabieren vì trong cả ba chữ này, không có chữ nào đề cập đến vần hết mà chỉ đề cập đến con chữ trong khi hai chữ “đánh vần” trong Việt ngữ thì chú ý đến vần. To spell đã được ông Hoà Nguyễn đề cập đến, épeler đã được ông Phùng Tường Vân định nghĩa bằng Pháp văn. Trong tiếng Đức, buchstabieren “thoát thai” từ chữ Buchstabe (mẫu tự). Như vậy phải dịch “đánh vần” sang các ngôn ngữ phương Tây như thế nào bây giờ, dẫu rằng có từ điển dịch “đánh vần” sang Đức ngữ là buchstabieren. Ngoài ra, dùng “đánh vần” với hàm nghĩa “phát âm” thì có ổn không?
    Giao thiệp với người Đức, rất nhiều khi tôi gặp trường hợp họ buchstabieren cho tôi nghe hoặc tôi phải buchstabieren cho họ nghe. Buchstabieren tên người, tên đường, tên thị trấn v.v.. Người Đức còn cẩn thận qui định cho mỗi mẫu tự một tên gọi riêng như A là Anton, Ä là Ärger, B là Berta. Để đánh vần tên tôi (đúng ra là họ) tôi phải nói T wie Theodor, R wie Richard, A wie Anton, N wie Nordpol; hoặc muốn nhanh hơn thì nói liền một mạch Theodor, Richard, Anton, Nordpol. Tôi còn nghĩ ra một cách khác để khỏi kể từng chữ cái theo thứ tự (tức là épeler, đúng như ông Phùng Tường Vân cho định nghĩa) : tôi bảo “Tran wie Lebertran”.
    Lebertran là một món ăn thích khẩu, phổ biến của Đức. Nghe nói vậy, Đức hiểu liền và còn cười thích thú nữa!
    Nhưng thét rồi tôi tự hỏi : tại sao trong tiếng Việt, chúng ta ít khi phải spell? Cùng lắm thì hỏi : tên anh có g đằng cuối hay không, tên chị viết với c hay t v.v.. Nhưng cũng hoạ hoằn vì nếu “phát âm” (không phải “đánh vần”!!) chính xác, rõ ràng thì người nghe biết ngay phải viết như thế nào.
    Chẳng rõ bà con ở Pháp có thường phải épeler, ở Anh Mỹ có thường phải spell không. Épeler các từ tiếng Pháp, spell những chữ tiếng Anh chứ không phải “đánh vần”(?!?!) tên tiếng Việt của quí vị cho người nước ngoài biết cách viết. Và quí vị có phải sử dụng Andrew, Abel để “minh họa” thêm cho chữ A của tiếng Anh, tiếng Mỹ không?

  4. Dũng Vũ viết:

    Những gì ông Phạm Văn viết thực ra không mới và không khó. Đã có nhiều người viết và bàn cãi cũng nhiều rồi. Cái mới và khó là làm sao cho mọi người ý thức đó thực sự là vấn đề; nó cần được giải quyết và có thể giải quyết được.

  5. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Trần Văn tích viết:” có vị dùng hai chữ “đánh vần” với nghĩa “phát âm”, theo như tôi hiểu. Nhưng có phải vậy không? Theo tôi, “đánh vần” là épeler, to spell, buchstabieren, khác với “phát âm” là prononcer, to pronounce, aussprechen.”.

    Có lẽ đánh vần theo nghĩa hiểu (gần đây) của người VN khác với To spell , Spelling trong tiếng Anh. Thí dụ:

    “Ban” trong trong tiếng Anh có spelling là: b-a-n (đọc: bi-ê-en), có vẻ không gần gũi với cách đọc hay phát âm chữ “ban”. Ở VN trước đây (như trước 1945) có lẽ học sinh đã được dạy đánh vần “ban” của tiếng Việt theo cách của Pháp là : b-a-n (phát âm bê-a-anh nờ -> ban), nghe không hợp lý, vì các phụ âm, nguyên âm đó khi đọc lên (phát âm) không đưa đến âm “ban” của tiếng Việt.

    Nhưng ở miền Nam (Sàigòn) trước 1975, tôi thấy các trẻ được dạy đánh vần chữ “ban” trên gồm hai phần : trước hết là a-nờ -> an , và tiếp theo là bờ-an -> ban. Tôi thấy cách dạy này hợp lý cho trẻ, và không biết bây giờ thế nào. Nhưng ít ra về ngữ nghĩa, vần hay vận trong tiếng Việt liên quan đến cách phát âm của tiếng hay chữ đó.
    Thêm thí dụ khác : nếu “phương” được đánh vần theo cách Pháp là: p-h-ư-ơ-n-g (pê-hát-ư-ơ-anh nờ-giê -> phương), còn theo cách của người Việt là : ươ-ngờ -> ương, và phờ-ương -> phương.

    Cũng xin nói thêm: trong góp ý trước, tôi không có ý cho Ă khi đọc là “á” và Â đọc là “ớ” là không được. Thật ra xét về âm, Ă, Â cũng gần với a, ơ (gần độ mở rộng của miệng), tuy không giống hẳn, và dù sao cũng cần phải có tên để gọi cho hai chữ Ă, Â rất đặc biệt của tiếng và chữ Việt.

  6. Phùng Tường Vân viết:

    “Trong các phản hồi của quí vị, có vị dùng hai chữ “đánh vần” với nghĩa “phát âm”, theo như tôi hiểu. Nhưng có phải vậy không? Theo tôi, “đánh vần” là épeler, to spell, buchstabieren, khác với “phát âm” là prononcer, to pronounce, aussprechen. Rất mong được quí vị góp thêm ý kiến. (Trần Văn Tích)

    Sự biện biệt của ông Trần Văn Tích kể ra là đã rõ ràng lắm, tôi chỉ xin thêm là từ “épeler” trong tiếng Pháp có một định nghĩa minh bạch lắm để chỉ việc “đánh vần” như sau : “nommer successivement les lettres composant un mot”; rõ ràng là nó khác sự phát âm mà, ngoài tiếng tương đương “prononcer”, Pháp ngữ còn một động từ nữa là accentuer, nó cũng nằm trong phạm trù ngữ nghĩa của sự “phát âm” vậy .

  7. Phùng Tường Vân viết:

    Đốt Lò Hương Cũ

    Thưa ông Trần Văn Tích, hình như đây là Bộ “Anglais Vivant” (5 trình độ) tác giả là ông bà Carpentier, ngoài Édition Bleue nó còn một Édition Beige nữa thì phải?

    Thưa ông, đặt nó vào “chuyên mục” (sic) “Đốt Lò Hương Cũ” cũng bởi đó là cuốn sách tiếng Anh đầu đời của tôi đấy ạ!

    Khi mới lớn tuổi mười lăm, mười bẩy
    Làm học trò mắt sáng với môi tươi…

    (Thơ Nguyên Sa)

    cái thuở ấy đã xa quá rồi, tôn ông nhỉ?

  8. Trần Văn Tích viết:

    Xin lỗi, tôi phạm sai lầm nhỏ trong phản hồi vừa rồi. Cuốn sách tiếng Anh đầu đời của tôi là cuốn Anglais collection bleue dành cho trung học đệ nhất cấp thời Pháp thuộc. Gọi thế vì có bộ Anglais collection beige dành cho trung học đệ nhị cấp. Trong tuyển tập màu “be” này có bài tập đọc rất dí dỏm bàn về những chữ như pig là con heo còn sống nhăn, còn pork là con heo đã làm thịt v.v.. Riêng cuốn L’anglais sans peine là của nhà xuất bản Assimil, cũng rất nổi tiếng.

  9. Trần Văn Tích viết:

    Thực ra thì sau 1975 người Việt miền Nam di tản ra nước ngoài không khư khư giữ lại những từ quen thuộc cũ mà họ chật vật tránh dùng những từ theo họ không được hợp lý thuộc từ vựng miền Bắc. Chẳng hạn chữ “in ấn” do tác giả Phạm Văn sử dụng. Theo suy nghĩ cá nhân, tôi thấy chữ này có phần không ổn vì “in” và “ấn” đồng nghĩa. Tôi từng bị phê bình khi viết “in ấn” mà không viết “ấn loát”. Nhưng tiếng Việt cũng có những chữ gồm hai yếu tố Nôm-Hán, chẳng hạn “sợ hãi”. Dầu sao, tôi triệt để tránh dùng “in ấn” và tất nhiên, tôi…chịu trách nhiệm khi xử sự như thế.
    Ông Hoàng Trường Sa chỉ nêu có một chữ “chất lượng” thuộc bài của tác giả XYZ. Thật ra tác giả XYZ (thay vì đề nghị “sửa đổi lề lối làm việc”!) đã đề nghị một danh sách khá dài nhiều chữ có “vấn đề” thuộc vốn từ gốc Bắc; đọc tài liệu đó thấy có một số ý kiến rất đáng suy nghĩ. Chỉ có nhận xét về chữ “tư liệu” là thiếu xác đáng vì tác giả sơ ý không để ý rằng “tư” trong “tư liệu” không có nghĩa là riêng tư.
    Có vẻ như khi đánh giá cách phát âm của ngôn ngữ A so với ngôn ngữ B, chủ thể đánh giá chịu nhiều ít ảnh hưởng của ngôn ngữ mình đã thông thạo sẵn. Tôi học tiếng Pháp trước khi học vần xuôi vần ngược. Lên trung học tôi mới bắt đầu học tiếng Anh, cuốn L’anglais sans peine, collection bleue. Phải chăng vì thế mà tôi rất đồng ý với nhận xét của tác giả Phạm Văn và rất ngạc nhiên về nhận định của ông Dương Danh Huy.
    Trong các phản hồi của quí vị, có vị dùng hai chữ “đánh vần” với nghĩa “phát âm”, theo như tôi hiểu. Nhưng có phải vậy không? Theo tôi, “đánh vần” là épeler, to spell, buchstabieren, khác với “phát âm” là prononcer, to pronounce, aussprechen. Rất mong được quí vị góp thêm ý kiến.

  10. Hoà Nguyễn viết:

    Xin dè dặt góp ý.

    1/ Ông Dương Danh Huy viết :

    “ăn” nếu “hợp lý” thì là “á nờ án”
    “ân” nếu “hợp lý” thì là “ớ nờ ớn”

    Hai nguyên âm “Ă” và “Â” không thể đọc (phát âm) được khi đứng một mình, hoặc chỉ có một phụ âm đứng trước, mà chỉ đọc được khi chúng đứng trước các phụ âm C, M, N, P và T. Thí dụ không thể đọc BĂ, TĂ , V , mà đọc được ĂC, ÂM, ĂN, ĂP, ÂT.

    Hai nguyên âm này vì không phát âm được khi đứng môt mình , nên Ă không thể đọc là Á, và Â không thể đọc là Â. Còn tại sao xưa nay người Việt cứ đọc như thế là vì các ông cố đạo đã dạy như thế. Không thể đánh vần theo phát âm “á nờ ăn”, mà có lẽ nên dạy đọc các âm (tiết) Ăc, Âc, Ăm, Âm, Ăn, Ân, Ăp, Âp, Ăt và Ât, rối ráp âm tiết này với phụ âm nào đứng trước.

    2/ Ông Phạm Văn viết :” Trong tiếng Việt, có lẽ chữ “thủi” (trong “thui thủi”) viết theo cách phát âm [thủ-i], dấu hỏi đi theo mẫu tự “u”, và cùng lý luận đó lẽ ra sẽ viết là “thuỷ”, dấu hỏi đi theo mẫu tự “y”, nhưng theo thói quen chúng ta thường viết “thủy”.”.

    Trong chữ “thủi”, “u” là một nguyên âm, và trong nguyên âm kép “ui” thì “u” giữ vai trò phát âm chính, nên dấu giọng phải đặt trên “u”.

    Trong “thuỷ” thì “u” và “th” hợp thành phụ âm kép: đáng lẽ “thuỷ” viết theo đúng cách phát âm là “thwỷ” (u không còn là nguyên âm) , và theo nguyên tắc chung, dấu giọng được đặt trên nguyên âm (y), chứ không thể trên phụ âm.

    Xin nói thêm, các nguyên âm O và U của chữ Việt trong một số trường hợp đi chung với phụ âm đứng trước, và cách phát âm không còn như nguyên âm thường. Thí dụ:
    TOA phát âm là TWA, HUẾ phát âm là HWẾ, Nguyễn là Ngwyễn (nguiễn), Tuyết là Twyết (twiết), khuya là khwya (khwia). Như đã thấy Quốc phát âm là Kwốc , không thể là Cuốc (hay Kuốc).

  11. Dương Danh Huy viết:

    Nói lạc đề chút:

    Cách đánh vần của tiếng Anh nổi tiếng vô lý.

    Tôi thấy các đánh vần của Pháp vô lý một cách toàn diện hơn nhiều. Các phụ âm cuối nhiều khi thì bỏ, nhiều khi thì khát âm hoàn toàn khác với các mẫu tự.

    Khi tôi dạy con tôi đọc tiếng Việt, tôi mới thấy cách đánh vần VN cũng có chỗ không hợp lý.

    “ăn” nếu “hợp lý” thì là “á nờ án”
    “ân” nếu “hợp lý” thì là “ớ nờ ớn”

  12. Dương Danh Huy viết:

    Bác Phạm Văn,

    Nhưng một số người Anh vẫn dùng “an” trước những chữ “history”, “hotel”.

    Cụm từ “một số” của bác không có nhiều ý nghĩa.

    Đại đa số người Anh dùng “a hotel”.

    Trang web của các tự tđiển của ĐH Oxford về “hotel”:

    http://www.askoxford.com/asktheexperts/faq/aboutgrammar/hotel?view=uk

    Bác Gúc “an hotel” trên các trang “.uk” sẽ thấy 38,000 trang. Gúc “a hotel” trên các trang này sẽ thấy 1.4 triệu trang.

    Gần như tuyệt đại đa số người Anh dùng “a history”.

    Bác Gúc “an history” trên các trang “.uk” sẽ thấy khoảng 4,000 trang. Gúc “a history” trên các trang này sẽ thấy khoảng 2 triệu trang.

  13. Trung Nu Hoang viết:

    Tác giả chưa đề cập những chữ kép như chợ “búa”, nằng “nặc”, kỹ “càng”, già “nua”, buồn “bã”.. và những tính từ về màu sắc: đen, ô, mực, quạ, hắc… trong tiếng Việt đấy. Nếu bàn thêm về việc nầy, chắc cũng lắm điều thú vị và…điên cái đầu cho những người ngoại quốc học tiếng Việt.

  14. Hoàng Trường Sa viết:

    “Sau biến cố 1975, vì nhiều lý do, người Việt miền Nam di tản ra nước ngoài thường khư khư giữ lại những từ quen thuộc cũ của miền Nam 1954-75 và không chịu dùng những từ mới gặp của miền Bắc.”(trích lời tác giả Phạm Văn)

    Nhân tác giả Phạm Văn viết rằng “người Việt miền Nam di tản ra nước ngoài thường KHƯ KHƯ giữ lại những từ quen thuộc cũ của miền Nam 1954-75 và không chịu dùng những từ mới gặp của miền Bắc” tôi xin trích một đoạn trong bài biên khảo Nỗi Buồn Tiếng Việt Của Người Dân Ở Trong Nước, của tác giả XYZ đăng trên Web Một Thời Phan Châu Trinh Đà Nẵng, số tháng 2.2005 về từ CHẤT LƯỢNG:

    “Chất lượng”: Đây là chữ đang được dùng để chỉ tính chất của một sản phẩm, một dịch vụ. Người ta dùng chữ này để dịch chữ quality của tiếng Anh. Nhưng than ôi! Lượng không phải là phẩm tính, không phải là quality. Lượng là số nhiều ít, là quantity. Theo Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu, thì lượng là: đồ đong, các cái như cái đấu, cái hộc dùng để đong đều gọi là lượng cả. Vậy tại sao người ta lại cứ nhắm mắt nhắm mũi dùng một chữ sai và dở như thế. Không có gì bực mình hơn khi mở một tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại rồi phải đọc thấy chữ dùng sai này trong các bài viết, trong các quảng cáo thương mãi. Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải dùng chữ phẩm. Bởi vì phẩm tính mới là quality. Mình đã có sẵn chữ “phẩm chất” rồi tại sao lại bỏ quên mà dùng chữ “chất lượng”. Tại sao lại phải bắt chước mấy anh cán ngố, cho thêm buồn tiếng nước ta.

    XYZ

  15. Hoàng Trường Sa viết:

    “Người Việt có một quá khứ thường xuyên đánh nhau với ngoại bang và đánh lẫn nhau hoặc luôn luôn bị bên ngoài đe doạ, vì thế tiếng Việt đôi khi sặc mùi chiến tranh ngay cả trong những trường hợp không cần thiết, như “chống giặc dốt” hoặc vô vàn thí dụ khác.” (trích lời tác giả Phạm Văn)

    Theo ngu ý của tôi ý kiến này của tác giả Phạm Văn e rằng không đúng lắm. Theo tôi biết, hai cụm từ “chống giặc dốt”, cũng như “chống giặc đói” là do ông Hồ Chí Minh đưa ra đầu tiên vào những năm 1945 hay 1946 gì đó. Nó chẳng hề đại diện cái gọi là ”sặc mùi chiến tranh” của (ngôn ngữ) người Việt gì đâu, mà chỉ là cách dùng thậm xưng của ông Hồ để phát động phong trào “chống đói và chống dốt” trong quần chúng, hầu kích động họ lao động hăng say và học tập chữ Quốc ngữ mà thời đó còn có rất nhiều người mù chữ. Ông Hồ đã đem so sánh sự nghèo đói cũng như sự dốt nát như là bọn GIẶC (Tây) mà người dân đang căm thù lúc đó để khích động quần chúng. Thế thôi.
    Ngoài hai thí dụ về “chống giặc đói” và “chống giặc dốt” nói trên, trong nhất thời tôi thật sự không nhớ những thí dụ khác trong tiếng Việt “sặc mùi chiến tranh” mà tác giả đã cho là có vô vàn. Rất mong được tác giả cho thêm vài thí dụ khác để tôi được mở mang kiến thức. Xin thành thật cám ơn ông trước.

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...