talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Văn – Tính đỏng đảnh của ngôn ngữ

24/05/2010 | 12:00 chiều | 49 Comments

Tác giả: Phạm Văn

Category: Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: >

Bài này ghi lại những nhận xét lan man về ngôn ngữ từ những gì mắt thấy, tai nghe. Các tài liệu tham khảo được liệt kê không đầy đủ ở cuối bài.

*

Ngôn ngữ là sản phẩm của con người và cũng chướng như con người. Ít người chú ý đến công trình của các nhà ngôn ngữ vì bị cho là khó hiểu và thiếu giá trị thực tế, nếu tính ra đồng tiền và khối lượng hạnh phúc trong cuộc sống vội vã này. Bàn về ngôn ngữ nhiều khi dẫn đến kết luận sai, nhưng chẳng làm mấy ai làm om sòm, trừ phi biết sai nhè ra mà cứ cãi bướng, và tâm lý bầy đàn dẫn đến hành động dồn kẻ cãi bướng vào đường cùng một cách có thể nói là tàn nhẫn. Sự biến đổi của ngôn ngữ có rất nhiều phi lý, thường chẳng theo quy luật rõ ràng nào, và chẳng có nhà độc tài hay nhà ngôn ngữ học nào có thể bắt người ta phải luôn viết hay nói theo một quy luật vĩnh cửu nào.

Khi loài người bắt đầu sống đàn đúm thành nhóm, ngôn ngữ biến đổi theo quá trình phát triển từ những nhóm lẻ tẻ sang xã hội-quốc gia có văn hoá nhất định, rồi đôi khi từng nhóm riêng lẻ của quốc gia-xã hội lại có khuynh hướng trở về với ngôn ngữ bầy đàn từ hồi chưa có cái gọi là văn hoá. Cùng với khuynh hướng của xã hội, cách diễn tả có thể trở nên cầu kỳ hay giản dị, làm dáng hay tục tĩu, được hay bị chính trị hoá. Nhưng chính trị hoá việc tìm hiểu đặc tính của ngôn ngữ chắc hẳn là dấm dớ, nhất là nếu dùng chính trị để đi đến kết luận “đúng-sai”, “chính thống-phi chính thống”, “hay-dở”, “chuẩn-không chuẩn”… cho một cách phát biểu nào đó. Có thể nói ngôn ngữ là một trong nhiều biểu tượng của tiến hoá tự do theo quá trình chọn lọc tự nhiên tương đối vô chính phủ của loài người. Chính trị hoá công việc tìm hiểu khoa học nói chung, và ngôn ngữ nói riêng, chỉ là tự nguyện đánh mất tự do của mình.

Một người bạn của người viết bài này có lần nói đại khái rằng sau hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của Trung Quốc, người Việt nói tiếng Hán như người Hán cùng thời mỗi khi tiếp xúc với họ. An Dương Vương nếu cần nói tiếng Hán chắc sẽ phát âm tương tự như Tần Thủy Hoàng hay dân miền nam Trung Quốc thời ấy. Thi Sách có lẽ nói tiếng Hán như Tô Định pha chút âm miền núi Tam Đảo và đồng bằng sông Hồng.

Đến năm 939, Ngô Quyền giành được độc lập từ nhà Nam Hán, người Việt ngày càng tách rời kẻ đã đô hộ mình, vì thế dân Việt giữ cách phát âm tiếng Hán thời Đường hay thời Ngũ Đại, và ít thu nhập thêm cách nói mới phát triển sau đó tại nội địa Trung Quốc. Trong khi ấy, ngôn ngữ của người Hán trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã thu nhận ảnh hưởng cách phát âm của các dân tộc từ phía bắc Trung Quốc nên biến đổi đi. Có thể đoán rằng nếu sống lại trong thế kỷ 14, Đường Minh Hoàng sẽ ngâm thơ, vịnh phú với Nguyễn Trãi dễ hơn với Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương. Về sau, các vị quan người Việt đi sứ sang Tàu đôi khi phải dùng bút để giao thiệp.

Việt Nam bị chia cắt nhiều lần trong lịch sử khiến cho tiếng Việt ở các vùng phát triển theo một số chiều hướng khác nhau. Trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, vùng đất Chúa Trịnh cai trị vốn là nơi đặt kinh đô và căn cứ địa của dân Việt từ lâu đời nhưng lại gọi là Đàng Ngoài, trong khi Đàng Trong của Chúa Nguyễn lại là vùng đất mới nhập. Người Việt ngày nay, kể cả một số người đang sống ở miền Bắc, thường nói “ngoài Bắc”, “trong Nam”, hay “ra Bắc”, “vào Nam”. Khái niệm “trong-ngoài”, “ra-vào” dùng trong trường hợp này thật khó có thể giải thích. Đàng Ngoài của Chúa Trịnh chắc hẳn tiếp xúc với Trung Quốc nhiều hơn Đàng Trong của Chúa Nguyễn, trong khi đó Đàng Trong hội nhập thêm cách nói của Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La và cả Tây phương. Sau năm 1954, trong Nam có hiện tượng Nam kỳ giá sống gặp Bắc kỳ rau muống, trong khi miền Bắc có lời phàn nàn là giọng Hà Nội bị biến thái. Sau biến cố 1975, vì nhiều lý do, người Việt miền Nam di tản ra nước ngoài thường khư khư giữ lại những từ quen thuộc cũ của miền Nam 1954-75 và không chịu dùng những từ mới gặp của miền Bắc. Người Việt sống ở nước ngoài lại chịu ảnh hưởng của phim bộ Hongkong chuyển âm qua tiếng Việt rất thịnh hành dạo đó. Một đứa bé ở San Jose tỏ ý săn sóc cụ già có thể lễ phép nói: “Ông nội bảo trọng”. Đến thập niên 1990, nhiều người Việt đi định cư ở nước ngoài, cùng lúc với kỹ thuật điện tử bắt đầu phổ biến và liên lạc với trong nước tăng lên, khi đó tiếng Việt viết và nói ở hải ngoại mới dần dần hội nhập lại phần nào với tiếng Việt trong nước, nhưng vẫn giữ một số khác biệt nhất định.

Quá trình tiến hoá của ngôn ngữ thường có hiện tượng chuộng một từ và ít dùng một từ khác. Trong tiếng Việt, những người Việt di trú về phía nam đã giữ được một số từ “thuần” Việt (theo nghĩa tương đối). Trong khi đó, người ở lại quê miền bắc thường xuyên tiếp cận với văn hoá Hán hơn nên đã thu nhập nhiều từ ngữ của Trung Quốc. Chẳng hạn, người Nam dùng chữ “bông” của người Việt đã có từ lâu, trong khi người Bắc bỏ dần chữ “bông” để mượn chữ “hoa” của tiếng Hán; hoặc có thể ghép cả hai chữ lại thành “bông hoa” để chỉ số nhiều chẳng hạn. Hoặc từ điển của Hoàng Phê xuất bản tại Hà Nội năm 1992 chú thích “ngữ vựng” là một chữ cũ và ít dùng, và dẫn người đọc qua một chữ khác, “từ vựng”.

Tiếng Anh và Mỹ dùng chữ “fall” và “autumn” để chỉ mùa lá rơi và lúc gặt lúa mì. Theo từ điển Merriam-Webster, “fall” là một từ Anglo-Saxon đã có hồi thế kỷ 13. Đến thế kỷ 14, dân Anh mượn chữ “autumn” từ tiếng Pháp, có nguồn gốc từ “autumnus” của Latin. Có lẽ giới trí thức ở mẫu quốc Anh học làm sang nói theo cổ ngữ Latin và bỏ dần từ “fall” đã có của mình để chỉ giữ lấy “autumn”.

Tìm về nguồn gốc của một chữ, có lúc nào, mượn từ những ngôn ngữ nào, xuất hiện trên văn bản nào lần đầu tiên, các biến đổi về cách viết cũng như nghĩa của một chữ ra sao… cũng là một vấn đề thú vị. Trên nguyên tắc, một ngôn ngữ dựa trên một cách viết nào đó có càng lâu càng khó tìm từ nguyên. Tuy nhiên, lấy thí dụ tiếng Anh đã có hàng chục thế kỷ, chúng ta có thể tìm từ nguyên của một chữ tiếng Anh khá dễ dàng qua các từ điển tiếng Anh trên mạng. Trong khi tiếng Việt viết bằng mẫu tự Latin ra đời mới bốn thế kỷ trước và chỉ được dùng rộng rãi hơn một trăm năm, không biết đã có ai chịu khó làm tự điển từ nguyên đến nơi đến chốn cho nó? Thí dụ, “quốc” và “quấc” đều bắt nguồn từ tiếng Hán, “xà phòng” và “xà bông” đều từ tiếng Pháp, chữ nào có trước hay chữ nào là phương ngữ, xuất hiện ở đâu lần đầu?

Ngôn ngữ cũng có thể bị quân sự hoá để phục vụ nhu cầu lên gân của thời đại. Mấy chục năm nay tiếng Mỹ được quân sự hoá khá nhiều, như “war on drugs” hay “war on terrorists” hay “war on illegal immigrants”. Người Việt có một quá khứ thường xuyên đánh nhau với ngoại bang và đánh lẫn nhau hoặc luôn luôn bị bên ngoài đe doạ, vì thế tiếng Việt đôi khi sặc mùi chiến tranh ngay cả trong những trường hợp không cần thiết, như “chống giặc dốt” hoặc vô vàn thí dụ khác. Hoặc hoà bình là một tình trạng ai cũng mong mỏi, nhưng “diễn biến hoà bình” hay “hòa giải, hòa hợp” trở thành những cụm từ mang nghĩa xấu đối với một số người.

Sự biến đổi của ngôn ngữ thể hiện rõ qua cách phát âm. Patricia O’Conner trong Origin of the Specious cho biết trong nhiều trường hợp Shakespeare viết và phát âm giống với American English hơn British English ngày nay. Trong khi British English tiếp tục thu nhập một số chữ của lục địa Âu châu, nhất là tiếng Pháp có nguồn gốc từ tiếng Latin, ngược lại, dân thuộc địa ở Mỹ châu vẫn giữ cách nói cũ của mẫu quốc Anh. Nói chung, nhiều khi người Mỹ ngày nay nói tiếng Anh của thế kỷ 17 và 18, trong khi cách nói của người Anh đã biến dạng khá nhiều trong thế kỷ 19. Chẳng hạn, tiếng Anh Anglo-Saxon lúc đầu đọc rõ âm [r] trong những chữ như “far”, “mother”, “world”. Khi thuộc địa Anh ở Mỹ châu tách ra khỏi đế quốc Anh, dân cựu thuộc địa tiếp tục giữ cách nói cũ, trừ những người còn giữ mối liên hệ kinh tế và xã hội chặt chẽ với mẫu quốc, nhưng giới trí thức ở Anh đã bỏ dần âm [r] vào cuối thế kỷ 18.

Trước thế kỷ 19, chữ “herb” dân Anh và Mỹ đều phát âm [erb], và viết là “erbe”, mượn từ chữ Pháp cổ “erbe” từ thế kỷ 13. Sau đó mẫu tự “h” được thêm vào cho giống với cách viết Latin “herba”, nghĩa là cỏ, nhưng vẫn là mẫu tự h-câm. Ngày nay người Mỹ vẫn phát âm “herb” với h-câm, trong khi Shakespeare sẽ không hiểu được cách nói từ miệng người Anh ngày nay. Mặt khác, các cuốn cẩm nang ngôn ngữ ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương đều nói chỉ dùng “an” trước một chữ bắt đầu bằng h-câm, và dùng “a” trước chữ bắt đầu bằng h có phát âm, giống như “hero”, “hypothesis”, “habit”. Nhưng một số người Anh vẫn dùng “an” trước những chữ “history”, “hotel”.

Tương tự, trong tiếng Việt, chẳng hạn chữ “blời”, “tlời”, “giời”, “trời” (thậm chí “chời”, “zời”), đều cùng một nghĩa, nhưng phát âm và cách viết thay đổi theo thời gian, địa phương và hoàn cảnh. Hoặc cách đặt dấu âm trong tiếng Việt có thể là một phần chứng tích của cách phát âm từng thời đại. Alexandre de Rhodes viết “chiụ”, trong khi ngày nay viết “chịu”. Hoặc De Rhodes viết “hŏà”, Hoàng Phê viết “hoà” có lẽ dựa theo cách phát âm [ho-à] của thời hiện đại, và đa số người thời nay viết “hòa” có lẽ do thói quen. Sự khác biệt này dẫn đến một số khó khăn khi tìm kiếm văn bản. Chẳng hạn, tìm tác phẩm của nhà ngôn ngữ học “Nguyễn Đình Hoà” trên mạng điện tử có thể sẽ không gặp một số công trình của tác giả “Nguyễn Đình Hòa”.

Sự biến thái của từ ngữ theo địa phương cũng là một đề tài thú vị khác. Nước Mỹ rộng bằng cả một lục địa nên đôi khi mỗi địa phương có cách nói riêng. Du khách đến thủ đô Washington D.C. của Mỹ có thể hỏi thăm bất kỳ ai hoặc mấy ông cựu chiến binh Mỹ râu ria xồm xoàm, mập thù lù hay ốm tong teo, để tìm “Viet Vet Memorial” một cách dễ dàng. Nhưng du khách tới New York nếu không hỏi “Vietnam Veterans Memorial” sẽ có cơ hội nghe câu trả lời là không biết, dù đứng cách đó không hơn 100 mét.

Cách xếp đặt thứ tự theo dấu giọng của tiếng Việt cũng là một biểu hiện của sự đa dạng. De Rhodes xếp theo thứ tự “không dấu, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng”; Huỳnh Tịnh Paulus Của xếp theo “không dấu, nặng, sắc, huyền, hỏi, ngã”; Đào Duy Anh xếp theo “không dấu, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã”; Hoàng Phê xếp theo “không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng”; một số từ điển khác xếp theo “không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng”, và chắc còn nhiều cách xếp khác nữa. Hình như chưa có cuốn từ điển nào xếp “không dấu” đi sau các chữ có dấu giọng. Mỗi nhà có một lý lẽ khoa học riêng, hay chẳng có lý lẽ nào, nhưng chắc chắn nhà ngôn ngữ học không đem lý lẽ chính trị vào để giải thích hay biện hộ cho một cách dùng riêng biệt nào.

Cách đánh vần của một chữ thường dựa theo cách phát âm của chữ đó, nhưng luôn luôn có những ngoại lệ. Các nhà soạn từ điển Anh và Mỹ đóng góp khá nhiều vào cách đánh vần khác biệt ở hai bên bờ Đại Tây Dương. Cách viết những chữ như “color-colour”, “honor-honour”, “labor-labour”, chịu ảnh hưởng “or” của Latin và “our” của Pháp, đều được mọi người dùng cho đến cuối thế kỷ 18. Một hôm đẹp giời và xấu trời hai bên bờ biển, các nhà làm từ điển quyết định dẹp cách viết rối loạn này: từ điển năm 1755 của Samuel Johnson ở Anh chọn “our”, và từ điển năm 1828 của Noah Webster ở Mỹ chọn “or”. Tương tự, Webster và Johnson cũng chọn cách viết khác nhau cho “fiber-fibre”, “amid-amidst”, “civilize-civilise”… Trong tiếng Việt, có lẽ chữ “thủi” (trong “thui thủi”) viết theo cách phát âm [thủ-i], dấu hỏi đi theo mẫu tự “u”, và cùng lý luận đó lẽ ra sẽ viết là “thuỷ”, dấu hỏi đi theo mẫu tự “y”, nhưng theo thói quen chúng ta thường viết “thủy”.

Cách đánh vần của tiếng Anh nổi tiếng vô lý. Người học tiếng Anh và các thi sĩ làm thơ có vần điệu thường bực mình vì những chữ như through, rough, dough, plough, hiccoughtrough, tất cả đều tận cùng bằng ough, nhưng không chữ nào phát âm giống chữ nào. Một số tên tuổi lớn trong lịch sử Mỹ đã tìm cách sửa đổi phép chính tả đỏng đảnh này. Một trong những nhà sáng lập nước Mỹ là Benjamin Franklin đã từng đề nghị đổi mẫu tự, và kỹ nghệ gia Andrew Carnegie hào phóng trợ cấp cho các nhóm nghiên cứu việc này, nhưng kết quả chẳng đi đến đâu vì chẳng ai áp dụng. Thậm chí Tổng thống Theodore Roosevelt ký sắc lệnh năm 1906 giao cho Government Printing Office một danh sách 300 chữ có cách đánh vần mới: những chữ có vấn đề như artisan, kissedwoe sẽ đổi thành artizan, kistwo. Sở in ấn của chính phủ làm lơ ông tổng thống và vấn đề chìm vào quên lãng. Ngôn ngữ tiến hoá không thể áp đặt từ trên xuống, dù sự áp đặt hợp với lý lẽ khoa học thuần túy.

Trong khi đó, cách đánh vần ngày nay biến đổi tự phát một cách mạnh mẽ cùng với sự tiến triển của kỹ thuật điện tử. Giới trẻ, trẻ tuổi và trẻ tính, dùng phép chính tả mới để gửi “text message” cho nhau qua điện thoại cầm tay và vô số vật dụng điện tử khác. Người ta có thể chưa quen thấy “i luv u” hoặc “n ieu m” trên sách báo, nhưng nó phổ biến đến nỗi ai cũng hiểu. Liệu những cách viết này sẽ tồn tại lâu dài để trở thành “chuẩn”? Tại sao những “cải tiến” vô tình này thành công, được một số người tự nguyện dùng, trong khi các nhà ngôn ngữ học với đầy đủ luận chứng khoa học lại thất bại trong việc cổ động một cách viết, cách nói nào đó?

Các nhà ngôn ngữ học tìm hiểu “chuẩn” của một ngôn ngữ, từ nào là đúng hay sai trong một thời điểm nhất định, từ nào là tiếng lóng và xuất hiện vào lúc nào, nguồn gốc và sự biến thái của một từ, hệ thống âm và cách kết hợp các từ trong một cộng đồng con người tại một thời điểm nhất định để họ có thể hiểu nhau… Công việc của họ có vẻ tỉ mẩn và ít người theo đuổi. Tuy nhiên, mỗi khi muốn vỗ ngực tuyên bố mình nói và viết đúng “chuẩn”, biết và hiểu đúng “chuẩn”, chúng ta nên nhìn trước ngó sau để xem có một nhà ngôn ngữ khó tính nào đang cặm cụi làm việc quanh đấy hay không, vì họ thường tìm thấy những điều bất ngờ và chứng minh được rằng cái gọi là “chuẩn” chưa chắc đã là “chuẩn”. Dõi theo căn nguyên của từ ngữ tuy có thể hơi nhức đầu nhưng luôn luôn là một việc thơ thẩn và thú vị.

26/12/2009 – 20/5/2010

Tham khảo

– Alexandre de Rhodes, Từ điển An nam-Lusitan-Latinh, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Viện Khoa học Xã hội, T.P. Hồ Chí Minh, 1991.

– Đào Duy Anh, Hán-Việt từ điển, 1932 và 1936; bản in lại lần thứ ba của Trường Thi, Saigon, 1957.

– Hoàng Phê et al, Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội, 1992.

– Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự vị, Imprimerie Rey, Curiol & Co., Saigon, 1895; bản in lại tại nhà in Văn Hữu, Gia Định, 1974.

– Patricia T. O’Conner và Stewart Kellerman, Origin of the Specious, Random House, New York, 2009.

– Thiều Chửu, Hán-Việt Tự điển, bản in lại của Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.

– Merriam-Webster Online, http://www.merriam-webster.com/

© 2010 Phạm Văn

© 2010 talawas

Bình luận

49 Comments (bài “Phạm Văn – Tính đỏng đảnh của ngôn ngữ”)

  1. Phùng Tường Vân viết:

    “Chí ít” là tiếng mới ư ?
    Tôi thì nghĩ nó đã xưa quá rồi .

    Thực vậy, đã lâu lắm tôi không nghe ai dùng từ này và nhớ mang máng rằng nó là một lối nói đã cũ và lại hơi quê mùa nữa để nói “ít nhất” hoặc “tối thiểu”, tôi nhầm chăng ?

  2. Hoàng Trường Sa viết:

    Hai bác vantruong và Trần Văn Tích thân mến,

    Mấy chữ “động óc, ấn tượng, chất lượng, quá độ, nhất trí, chí ít etc …” và nhiều chữ khác nữa như “động viên, tham quan, đại trà, sự cố, etc…”, thú thật tôi thấy nó kỳ kỳ, nửa ta nửa Tàu, chẳng ra làm sao cả. Đã mấy chục năm qua, tôi tốn công nhọc sức và khổ sở không ít để TRÁNH không nói hay viết những chữ này theo kiểu của quý vị miền Bắc đang dùng.

    Nói là tôi khó tính thì e cũng oan cho tôi lắm. Tôi kỵ nhất là chữ CHẤT LƯỢNG vì nó là một hổn hợp tả-pí-lù của CHẤT (quality, qualité) và LƯỢNG (quantity, quantité) vào chung trong một từ. Nếu một ông Tây hay Mỹ, biết chút chút tiếng ta, chắc là hiểu từ CHẤT LƯỢNG này thành ý kép “quali-quantité” (hay “quali-quantity”) và dám phục VN ta có ý mới chỉ cả chất lẫn lượng trong cùng một từ. Tôi thấy trong nước họ dịch QUANTITY (hay QUANTITÉ) là SỐ LƯỢNG và QUALITY (hay QUALITÉ) là CHẤT LƯỢNG. Nhưng đôi khi tôi tự hỏi không biết họ sẽ dịch QUANTITATIVE (adjective), QUANTITATIVELY (adverbe), và QUANTIFY (tương tự cho QUATITATIVE, QUALITATIVELY, và QUALIFY) ra tiếng Việt là gì? Nếu tôi nhớ không lầm ở miền Nam mình trước năm 1975 thì dịch là ĐỊNH LƯỢNG, MỘT CÁCH ĐỊNH LƯỢNG, ĐỊNH LƯỢNG HÓA (tương tự ĐỊNH TÍNH, MỘT CÁCH ĐỊNH TÍNH và ĐỊNH TÍNH HÓA). Trong trường hợp nếu trong một câu mà có cả hai chữ QUANTITY và QUALITY thì trong Nam dịch rất ngắn gọn là “LƯỢNG và PHẨM”. Thí dụ như khi nói rằng “VN ta cần phải cải thiện nền giáo dục tiểu, trung, và đại học về cả LƯỢNG cũng như PHẨM”.
    Thân mến.

  3. Trương Đức viết:

    @bác Phùng Tường Vân,
    Tôi rất cám ơn lời khen “nhĩ thuận” của bác dành cho tôi. Và mặc dù đang “lâng lâng sung sướng” khi được bác khen, nhưng tôi vẫn không thể “đừng” trong chuyện “bắt lỗi chính tả” với bác được!:) Trong PH trước, bác có viết: “…chứ ngôn ngữ, từ ngữ không có tội lệ gì trong truyện “sặc mùi chiến tranh” như tác giả viết.”, tôi nghĩ hình như ở đây từ “chuyện” đã bị bác viết sai thành “truyện”. “Truyện” ở ngữ cảnh này, nghe có vẻ “nghịch nhĩ”, có phải không ạ?

  4. Trần Văn Tích viết:

    Hôm thuyết trình bên Paris nhân dịp giới thiệu bộ Việt sử khảo luận của cố Luật sư Hoàng Cơ Thụy – lúc bấy giờ Luật sư còn tại thế – tôi lỡ miệng nói hai chữ “chí ít” nên được một đàn em thân mến nhắc nhở! Ông vantruong như vậy là còn may mắn hơn tôi!

  5. vantruong viết:

    Thật sự bên Pháp chưa có sự đồng thuận về (méthode) phương pháp tập đọc (phát âm, ở đây không nói đến văn phạm/grammaire, hay chữ gốc gốc la-tinh này nọ v.v.)
    Vẫn còn sự do dự lựa chọn cách đọc giữa những phương pháp âm vần / tổng thể / hỗn hợp / âm tiết.
    (syllabique / globale / mixte / phonétique)
    Đại khái thì có hai phái tương phản nhau:
    a/ Theo phương pháp âm vần.
    b/ Theo phương pháp tổng thể.
    Năm 2005 ông Gilles de Robien (bộ trưởng Giáo Dục thời đó) đề nghị “dẹp” luôn phương pháp tổng thể.
    Được biết trong một thăm dò vào năm 2006 thì 76% giáo viên lớp CP (cours préparatoire cho các em 6-7 tuổi) dùng phương pháp hỗn hợp gồm cả hai kiểu.
    Những đường dẫn ở dưới đây (tiếng Pháp) chỉ là những thông tin rộng cho những ai muốn tìm hiểu thêm một ít, xa hơn nữa thì sẽ đi sâu vào chuyên môn.

    http://books.google.ca/books?id=rGTJcHgBxToC&pg=PA39&lpg=PA39&dq=m%C3%A9thode+d%27%C3%A9peler+en+fran%C3%A7ais&source=bl&ots=FDO7-55-j8&sig=5Fb1tdxtP1ubmAwHsKAHyiD1_kA&hl=en&ei=dL_9S4-2E5bKMPvFjN4H&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=5&ved=0CDEQ6AEwBA#v=onepage&q=m%C3%A9thode%20d%27%C3%A9peler%20en%20fran%C3%A7ais&f=false

    http://www.lecture.org/revues_livres/actes_lectures/AL/AL37/AL37P45.pdf

    http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5447776s.r=.langFR

    http://www.apprentissage-lecture.com/

    Chỉ vì mê thơ Đường, thơ Thiền quá tôi có mày mò mua sách vở học ngang xương mươi mười lăm năm nay một ít chữ Hán, tính học thử thêm chữ Nôm cùng lúc xem sao nhưng “chịu không nổi”. Theo tôi thấy học tiếng Nôm thì lại phải giỏi tiếng Hán vì hình như ta đang viết âm tiếng ta bằng chữ Hán. Nếu được phép đánh giá thì tôi cho rằng “sáng kiến” ra chữ viết Hàn quốc rất ư là hay.
    Ở nước ngoài lần đầu khi nghe được những từ ngữ như: động óc, ấn tượng, chất lượng, quá độ, nhất trí, chí ít etc … tôi cũng giật mình không hiểu gì cả, riết rồi cũng phải quen để còn nói chuyện, mà thú thật thì là cũng có hơi hướm chọc quê khi dùng lại nó.

  6. Phùng Tường Vân viết:

    Nhi…Nhĩ Thuận.

    “Còn về cụm từ tiếng Việt mang tính “đỏng đảnh” nhất và “sặc mùi chiến tranh” nhất, theo tôi, có lẽ là “Bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”!

    Cái câu này Trương Đức nói lão nghe thiệt hay đấy, ngày xưa Khổng Tử nói cái gì “nhi nhĩ thuận” chắc là câu này đấy chăng !

  7. Dương Danh Huy viết:

    Cảm ơn bác Dũng Vũ.

    Cảm ơn bác Tích. Tôi chỉ tán phét chứ đâu có gì đáng như bác nói.

    Nhưng mà viết je sui, ils son cũng không ổn, vì nếu viết je sui arrivé, ils son allés thì sẽ không đúng với cách phát âm.

    Phải chăng một ngày xa xưa nào đó tiếng Pháp có một tiền thân mà người ta phát âm âm s trong je suis, cho nên người ta viết như thế, và phát âm je suis arrivé như “je suis zarrivé”, và về sau các phụ âm cuối bị câm đi, nhưng vẫn còn vết tích trong cách viết và cách phát âm “je suis zarrivé”?

    Chứ nếu không phát âm các phụ âm cuối từ đầu thì chắc đã không có liaison và không có chính tả như thế.

    (À, beaucoup cũng có phụ âm cuối câm).

  8. Trương Đức viết:

    “Người Việt có một quá khứ thường xuyên đánh nhau với ngoại bang và đánh lẫn nhau hoặc luôn luôn bị bên ngoài đe doạ, vì thế tiếng Việt đôi khi sặc mùi chiến tranh ngay cả trong những trường hợp không cần thiết,…”(Phạm Văn)

    Thấy các bác bàn luận về “sự đỏng đảnh” của ngôn ngữ sôi nổi quá, tôi cũng xin được góp một vài suy nghĩ như thế này:

    Tôi nghĩ, trong tiếng Việt của chúng ta có từ “đánh” là từ “sặc mùi chiến tranh” nhất. Nhớ hồi đầu những năm 1980, khi lần đầu tiên được nghe câu nói: “Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đang bị giới văn nghệ sĩ Hà Nội “đánh” tơi tả!”, tôi đã không hiểu. Về sau mới được biết là do bài viết “Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn” của ông mà ông bị “đánh”, tức là bị giới văn nghệ sĩ “lên tiếng phản đối” và “chỉ trích” rất nặng nề. Hoặc tôi có thể lấy ví dụ như từ “đánh vần” mà các bác đang bàn luận về nó: “vần” nó có tội tình gì mà phải “đánh” nó!:). Rồi, trong giao tiếp hàng ngày hay trong văn chương cũng thế, cái gì cũng “đánh”!

    Còn về cụm từ tiếng Việt mang tính “đỏng đảnh” nhất và “sặc mùi chiến tranh” nhất, theo tôi, có lẽ là “Bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”!

  9. Dũng Vũ viết:

    Khoảng vài năm trở lại đây, người Đức có một phương pháp mới dạy trẻ nhỏ (lớp 1) “đánh vần” khá hữu hiệu. Đại để như sau:

    Bước 1: Tránh dạy chúng đọc những phụ âm b, c, d, … là “bê”, “xê”, “đê” như ngày xưa nữa mà phát âm gió như /b/ /s/, /d/, … (nghĩa là âm vị). Những nguyên âm a, e, i, … vẫn đọc như cũ “a”, “e”, “i”, … Đó là những âm tiết nhỏ nhất.

    Bước 2: Ghép âm vị và âm tiết để tạo thành âm tiết mới. “Ba” không đọc là “bê” “a” mà là /b/ /a/. “Am” không đọc là “a” “em” mà là /a/ /m/.

    Bước 3: Học những âm tiết phức tạp hơn: /ei/, /ui/, /eu/, …

    Bước 4: Lặp lại bước hai để tạo ra thành âm tiết phức tạp hơn.

    Chỉ vậy thôi.

    Dĩ nhiên phương pháp này chỉ có thể dùng hữu hiệu cho những ngôn ngữ “viết sao đọc vậy” (tương đối) v.d. Đức, Ý, Việt, …

    Ông Dương Danh Huy có con nhỏ muốn học tiếng Việt, thử dạy cho cháu cách này. Tôi nghĩ cháu sẽ biết đọc tiếng Việt dễ hơn. Nhưng đã biết đọc một từ rồi thì dặn cháu đọc một lèo thành một âm tiết, chứ đừng tách ra như người ngoại quốc học tiếng Việt. “Huy” là “huy” thay vì “hu”-“i”, vì tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết. (Vấn đề này hơi rắc rối, tôi đã có lần nói trên talawas. Có thể xem chi tiết ở đây: http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=7657&rb=06.
    Hoặc: http://hobieuchanh.com/pages/baiviet/DungVu/DautiengViet.htm ).

  10. Phùng Tường Vân viết:

    “…Như đã viết trong bài, các cụm từ “diễn biến hoà bình” và “hoà giải, hoà hợp” bị dùng với nghĩa xấu là những thí dụ về cách suy nghĩ sặc mùi chiến tranh thể hiện qua ngôn ngữ của một số người. (Phạm Văn)

    Tôi không nghĩ những nhóm từ như “diễn biến hoà bình”, “hoà giải, hòa hợp”… có một nghĩa nào có thể gọi là “nghĩa xấu” mà chỉ có trường hợp những từ “vô tội” ấy được người viết sử dụng theo một nghĩa mỉa mai, châm biếm (sarcastic) mà thôi và, một khi người viết đã dùng từ ngữ theo cách hiểu ấy thì cũng chỉ có thể hiểu rằng họ muốn lý luận, lập trường (bênh, chống..) của họ có tích cách mạnh mẽ hơn, thuyết phục hơn, làm yếu lý luận của đối phương hơn chứ ngôn ngữ, từ ngữ không có tội lệ gì trong truyện “sặc mùi chiến tranh” như tác giả viết .

  11. Phạm Văn viết:

    Nhận xét của độc giả Hoàng Trường Sa (24/05/2010 lúc 1:12 chiều): “so sánh sự nghèo đói cũng như sự dốt nát như là bọn GIẶC (Tây) mà người dân đang căm thù lúc đó để khích động quần chúng”, theo tôi nghĩ cũng là một cách nói khác để cho rằng ngôn ngữ đã bị quân sự hoá, chiến tranh hoá. Như đã viết trong bài, các cụm từ “diễn biến hoà bình” và “hoà giải, hoà hợp” bị dùng với nghĩa xấu là những thí dụ về cách suy nghĩ sặc mùi chiến tranh thể hiện qua ngôn ngữ của một số người. Ngoài ra, thái độ thiếu hoà thuận trong ngôn ngữ thảo luận đôi khi thấy trên các trang mạng cũng là một thí dụ đáng tiếc khác về ảnh hưởng dai dẳng của chiến tranh trong tiềm thức mỗi người.

    Về chữ “đánh vần”, tôi dùng cả hai nghĩa tùy theo từng lúc và không hiểu đúng sai thế nào. Chẳng hạn, đánh vần chữ “phạm” để viết chính tả: “pê – hát – a – em mờ – dấu nặng”, đôi khi “pê” nói thành “pê phở” hay “pờ phở”. Và đánh vần để phát âm bằng nhiều cách:
    + “pê – hát – a – pha – em mờ – pham – nặng – phạm”,
    + “phờ – a – pha – em mờ – pham – nặng – phạm”,
    + “a – em mờ – am – phờ – am – pham – nặng – phạm”,
    Thế nào cũng xong, cũng là đánh vần, miễn là được việc. Mỗi cách đều có điểm hay và điểm dở riêng.

  12. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Trần Văn Tích viết:” Ngoài ra, dùng “đánh vần” với hàm nghĩa “phát âm” thì có ổn không?”.

    Tôi nghĩ cách “đánh vần” mà người Việt thường dùng không tương đương với Spelling trong nghĩa tiếng Anh, là đọc các mẫu tự cấu tạo chữ. Thật ra, trong Spelling cũng có hàm nghĩa phát âm vì là đọc lên chứ không phải viết ra mẫu tự.

    Nhưng đáng vần là đọc vần, hay âm tiết, gồm nhiều mẫu tự hợp lại chứ không đọc từng mẫu tự. Thí dụ: dương, lương , mương, vương có chung vần (hay âm tiết) “ương” gồm nhiều mẫu tự thấy giống nhau ở bốn chữ trên, coi như một “hợp thể” riêng. Cách viết âm tiết trong tiếng Việt rất ổn định, và đây là môt ưu điểm của chữ Quốc ngữ, như âm “ai” chỉ có một cách viết không thay đổi, luôn gồm hai mẩu tự “a” và “i” . Trong khi tiếng Anh có nhiếu cách viết cùng âm này như : (h)i, (sk)y, (t)ie, (b)ye, (h)ei(ght)…, nhưng lại có khi “í” và “y” chỉ đọc là “i” , như trong “pity”. Chính vì vậy chữ Anh không thể “đánh vần” như chữ Việt (có phần “ưu việt” vì viết đơn giản hơn). Chúng ta không cần bỏ cái gí hay của ta để được giống các nước khác (ngưởi ở Hà Nội chắc không chống lại câu nói này). .

    Noí chung, chữ viết dựa vào cách phát âm của con người ở một vùng vào thời nào đó, nhưng theo thời gian cách phát âm thay đổi trong khi chữ viết vẫn tồn tại giống như khi được ghi lại trên giấy (hay thay đổi chậm hơn) nên mới có sự không “tương ứng” giữa chữ viết và cách phát âm. Chữ Quốc ngữ không biết đã theo cách nói của người Việt vùng nào (ở vào khoảng thế kỷ 17, 18). Có thể là “pha giọng” của những người mà các thừa sai Tây phương thường lui tới tiếp xúc, như ở Kẻ Chợ (dọc theo hoàng thành Thăng Long, Hà Nội), hay vùng ven biển Nam Định, Hải Dương khi xét ở dấu giọng, ở một ít phụ âm đầu và nhiều phụ âm cuối, hoặc có thể ở vùng trong như Nghệ An khi xét các phụ âm đầu Tr, Ch, R, S, X được phân biệt rất rõ (khác người Hà Nội). Người miền Trung và nhất là miền Nam gặp nhiều khó khăn trong chính tả tiếng Việt ở các dấu hỏi và ngã, các phụ âm đầu D, GI, V, và các phụ âm cuối C, T, N, NG. Trong Nam cón đọc các chữ “huỷ”, “quỷ” và “quỹ” đều là “wĩ”, nhưng bắt buộc phải viết đúng.

    Cũng không nên so sánh chữ Việt hiện nay (Quốc ngữ) với chữ riêng của Nhật hay Hàn để kết luận họ tài giỏi hơn ta. Thật ra, họ tạo dược chữ viết riêng trước hết nhờ tiếng nói của họ ít âm tiết (hay ít vần xuôi, vần ngược) hơn tiếng Việt, nên có thể dùng một số nét chữ để ghi âm tiết và khi kết hợp lại cũng đủ ghi hết cách phát âm trong ngôn ngữ cũa dân tộc họ (tiếng Nhật và Hàn lại không có thanh âm , tức dấu giọng). Cũng nên biết, người Hàn đã mượn cách viết của người Mông Cổ (lại do một ông sư Tây Tạng đặt ra theo cách kết hợp các mẫu tự của chữ Tây Tạng và chữ Phạn), vào thời nước họ lệ thuộc nhà Nguyên và triều đình họ bị bắt buộc phải học chữ Mông Cổ. Sau đó, Hàn Quốc mượn nét chữ Mông Cổ, rồi phối hợp với cách viết chữ vuông của Hán tự để ghi các âm tiết trong ngôn ngữ họ. Người Nhật bắt chước người Hàn trong việc dùng một số nét chữ Hán (được thay đổi cho đơn giản) để ghi âm tiết của tiếng Nhật. Điều phải nhận là sau 1000 năm bị Hán thuộc, người Việt quen thói quá tôn trọng hay ỷ lại kẻ đến “khai hoá”, nên mất dần hay không dám sử dụng sáng kiến riêng, mà chỉ muốn bắt chước, mô phỏng theo chữ Hán, và cách cấu tạo chữ này (như hài thanh, hội ý, giả tá…) khi đặt ra chữ Nôm (rất phức tạp).

  13. Dương Danh Huy viết:

    Bác Tích

    Giao thiệp với người Đức, rất nhiều khi tôi gặp trường hợp họ buchstabieren cho tôi nghe hoặc tôi phải buchstabieren cho họ nghe. Buchstabieren tên người, tên đường, tên thị trấn v.v..

    1. Tiếng Việt viết kiểu đơn âm nên chính tả dễ hơn.

    2. Các âm trong tên tiếng Việt thường đông âm với những từ quen thuộc (eg Cần Thơ, Rạch Giá).

    3. Chính tả tiếng Việt ra đời như 1 hệ thống ghi âm cho nên có thể có quy tắc hơn chính tả của một số ngôn ngữ khác (eg có thể có nhiều v/d lịch sử hơn).

    Vì vậy chính tả tên Việt dễ hơn chính tả tên Anh, Pháp, vv. (Chưa kể các nước này có thể có nhiều tên có gốc từ nước khác).

  14. Trần Văn Tích viết:

    Kính ông Dương Danh Huy,
    Khi đọc ý kiến của ông về sự dị biệt giữa phát âm và chính tả tiếng Pháp, tôi cố gắng thử tìm ra một số ví dụ nhưng chỉ nghĩ đến chữ clef (f câm, nhưng tiếng Pháp cũng có chữ clé), đến chữ h khi thì muet khi thì aspiré, đến chữ paon khi đọc tự dưng bỏ mất chữ o. Nhưng những ví dụ ông nêu thì tôi hoàn toàn không nghĩ đến; do đó, trước khi đọc chúng, tôi không hề thấy là có sự thiếu thống nhất nhiều khi đến vô lý giữa phát âm và chính tả. Je suis, tu es, il est; nous sommes, vous êtes, ils sont hoá ra đã được ghi tâm khắc cốt tự thuở nào tới giờ; đến nỗi không thể nào tưởng tượng được là tay có thể viết je sui, ils son cho khớp với miệng đọc! Âu đó cũng là hiệu quả của không biết bao nhiêu giờ orthographe và dictée ở trường tiểu học!
    Xin cám ơn ông đã soi sáng cho. Quả có là như ông nói.

  15. Hoàng Trường Sa viết:

    “Chẳng rõ bà con ở Pháp có thường phải épeler, ở Anh Mỹ có thường phải spell không. Épeler các từ tiếng Pháp, spell những chữ tiếng Anh chứ không phải “đánh vần”(?!?!) tên tiếng Việt của quí vị cho người nước ngoài biết cách viết. Và quí vị có phải sử dụng Andrew, Abel để “minh họa” thêm cho chữ A của tiếng Anh, tiếng Mỹ không?” (trích lời bác Trần Văn Tích)

    Bác Tích hỏi quý vị ở Pháp, Anh, Mỹ về vụ épeler hay spell. Tôi ở Úc thì quả thực là CÓ. Mỗi khi giới thiệu tên mình với ai là bao giờ cũng SPELL để người nghe dễ biết. Thí dụ khi nói tên là “VAN TRAN” chẳng hạn, thì bao giờ cũng “minh họa” đại khái, tùy người sử dụng khác nhau như :“VAN” – “V” for Victoria, “A” for Andrew, “N” for Nelly, “TRAN” – “T” for Tony, “R” for Richard, “A” for Ann, “N” for Norm v.v…
    Thật là phiền phức, không như VN mình chỉ nói giản dị là: Tôi tên Trần Văn. Khỏe ru bà rù !

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...