talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Văn – Tính đỏng đảnh của ngôn ngữ

24/05/2010 | 12:00 chiều | 49 Comments

Tác giả: Phạm Văn

Category: Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: >

Bài này ghi lại những nhận xét lan man về ngôn ngữ từ những gì mắt thấy, tai nghe. Các tài liệu tham khảo được liệt kê không đầy đủ ở cuối bài.

*

Ngôn ngữ là sản phẩm của con người và cũng chướng như con người. Ít người chú ý đến công trình của các nhà ngôn ngữ vì bị cho là khó hiểu và thiếu giá trị thực tế, nếu tính ra đồng tiền và khối lượng hạnh phúc trong cuộc sống vội vã này. Bàn về ngôn ngữ nhiều khi dẫn đến kết luận sai, nhưng chẳng làm mấy ai làm om sòm, trừ phi biết sai nhè ra mà cứ cãi bướng, và tâm lý bầy đàn dẫn đến hành động dồn kẻ cãi bướng vào đường cùng một cách có thể nói là tàn nhẫn. Sự biến đổi của ngôn ngữ có rất nhiều phi lý, thường chẳng theo quy luật rõ ràng nào, và chẳng có nhà độc tài hay nhà ngôn ngữ học nào có thể bắt người ta phải luôn viết hay nói theo một quy luật vĩnh cửu nào.

Khi loài người bắt đầu sống đàn đúm thành nhóm, ngôn ngữ biến đổi theo quá trình phát triển từ những nhóm lẻ tẻ sang xã hội-quốc gia có văn hoá nhất định, rồi đôi khi từng nhóm riêng lẻ của quốc gia-xã hội lại có khuynh hướng trở về với ngôn ngữ bầy đàn từ hồi chưa có cái gọi là văn hoá. Cùng với khuynh hướng của xã hội, cách diễn tả có thể trở nên cầu kỳ hay giản dị, làm dáng hay tục tĩu, được hay bị chính trị hoá. Nhưng chính trị hoá việc tìm hiểu đặc tính của ngôn ngữ chắc hẳn là dấm dớ, nhất là nếu dùng chính trị để đi đến kết luận “đúng-sai”, “chính thống-phi chính thống”, “hay-dở”, “chuẩn-không chuẩn”… cho một cách phát biểu nào đó. Có thể nói ngôn ngữ là một trong nhiều biểu tượng của tiến hoá tự do theo quá trình chọn lọc tự nhiên tương đối vô chính phủ của loài người. Chính trị hoá công việc tìm hiểu khoa học nói chung, và ngôn ngữ nói riêng, chỉ là tự nguyện đánh mất tự do của mình.

Một người bạn của người viết bài này có lần nói đại khái rằng sau hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của Trung Quốc, người Việt nói tiếng Hán như người Hán cùng thời mỗi khi tiếp xúc với họ. An Dương Vương nếu cần nói tiếng Hán chắc sẽ phát âm tương tự như Tần Thủy Hoàng hay dân miền nam Trung Quốc thời ấy. Thi Sách có lẽ nói tiếng Hán như Tô Định pha chút âm miền núi Tam Đảo và đồng bằng sông Hồng.

Đến năm 939, Ngô Quyền giành được độc lập từ nhà Nam Hán, người Việt ngày càng tách rời kẻ đã đô hộ mình, vì thế dân Việt giữ cách phát âm tiếng Hán thời Đường hay thời Ngũ Đại, và ít thu nhập thêm cách nói mới phát triển sau đó tại nội địa Trung Quốc. Trong khi ấy, ngôn ngữ của người Hán trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã thu nhận ảnh hưởng cách phát âm của các dân tộc từ phía bắc Trung Quốc nên biến đổi đi. Có thể đoán rằng nếu sống lại trong thế kỷ 14, Đường Minh Hoàng sẽ ngâm thơ, vịnh phú với Nguyễn Trãi dễ hơn với Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương. Về sau, các vị quan người Việt đi sứ sang Tàu đôi khi phải dùng bút để giao thiệp.

Việt Nam bị chia cắt nhiều lần trong lịch sử khiến cho tiếng Việt ở các vùng phát triển theo một số chiều hướng khác nhau. Trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, vùng đất Chúa Trịnh cai trị vốn là nơi đặt kinh đô và căn cứ địa của dân Việt từ lâu đời nhưng lại gọi là Đàng Ngoài, trong khi Đàng Trong của Chúa Nguyễn lại là vùng đất mới nhập. Người Việt ngày nay, kể cả một số người đang sống ở miền Bắc, thường nói “ngoài Bắc”, “trong Nam”, hay “ra Bắc”, “vào Nam”. Khái niệm “trong-ngoài”, “ra-vào” dùng trong trường hợp này thật khó có thể giải thích. Đàng Ngoài của Chúa Trịnh chắc hẳn tiếp xúc với Trung Quốc nhiều hơn Đàng Trong của Chúa Nguyễn, trong khi đó Đàng Trong hội nhập thêm cách nói của Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La và cả Tây phương. Sau năm 1954, trong Nam có hiện tượng Nam kỳ giá sống gặp Bắc kỳ rau muống, trong khi miền Bắc có lời phàn nàn là giọng Hà Nội bị biến thái. Sau biến cố 1975, vì nhiều lý do, người Việt miền Nam di tản ra nước ngoài thường khư khư giữ lại những từ quen thuộc cũ của miền Nam 1954-75 và không chịu dùng những từ mới gặp của miền Bắc. Người Việt sống ở nước ngoài lại chịu ảnh hưởng của phim bộ Hongkong chuyển âm qua tiếng Việt rất thịnh hành dạo đó. Một đứa bé ở San Jose tỏ ý săn sóc cụ già có thể lễ phép nói: “Ông nội bảo trọng”. Đến thập niên 1990, nhiều người Việt đi định cư ở nước ngoài, cùng lúc với kỹ thuật điện tử bắt đầu phổ biến và liên lạc với trong nước tăng lên, khi đó tiếng Việt viết và nói ở hải ngoại mới dần dần hội nhập lại phần nào với tiếng Việt trong nước, nhưng vẫn giữ một số khác biệt nhất định.

Quá trình tiến hoá của ngôn ngữ thường có hiện tượng chuộng một từ và ít dùng một từ khác. Trong tiếng Việt, những người Việt di trú về phía nam đã giữ được một số từ “thuần” Việt (theo nghĩa tương đối). Trong khi đó, người ở lại quê miền bắc thường xuyên tiếp cận với văn hoá Hán hơn nên đã thu nhập nhiều từ ngữ của Trung Quốc. Chẳng hạn, người Nam dùng chữ “bông” của người Việt đã có từ lâu, trong khi người Bắc bỏ dần chữ “bông” để mượn chữ “hoa” của tiếng Hán; hoặc có thể ghép cả hai chữ lại thành “bông hoa” để chỉ số nhiều chẳng hạn. Hoặc từ điển của Hoàng Phê xuất bản tại Hà Nội năm 1992 chú thích “ngữ vựng” là một chữ cũ và ít dùng, và dẫn người đọc qua một chữ khác, “từ vựng”.

Tiếng Anh và Mỹ dùng chữ “fall” và “autumn” để chỉ mùa lá rơi và lúc gặt lúa mì. Theo từ điển Merriam-Webster, “fall” là một từ Anglo-Saxon đã có hồi thế kỷ 13. Đến thế kỷ 14, dân Anh mượn chữ “autumn” từ tiếng Pháp, có nguồn gốc từ “autumnus” của Latin. Có lẽ giới trí thức ở mẫu quốc Anh học làm sang nói theo cổ ngữ Latin và bỏ dần từ “fall” đã có của mình để chỉ giữ lấy “autumn”.

Tìm về nguồn gốc của một chữ, có lúc nào, mượn từ những ngôn ngữ nào, xuất hiện trên văn bản nào lần đầu tiên, các biến đổi về cách viết cũng như nghĩa của một chữ ra sao… cũng là một vấn đề thú vị. Trên nguyên tắc, một ngôn ngữ dựa trên một cách viết nào đó có càng lâu càng khó tìm từ nguyên. Tuy nhiên, lấy thí dụ tiếng Anh đã có hàng chục thế kỷ, chúng ta có thể tìm từ nguyên của một chữ tiếng Anh khá dễ dàng qua các từ điển tiếng Anh trên mạng. Trong khi tiếng Việt viết bằng mẫu tự Latin ra đời mới bốn thế kỷ trước và chỉ được dùng rộng rãi hơn một trăm năm, không biết đã có ai chịu khó làm tự điển từ nguyên đến nơi đến chốn cho nó? Thí dụ, “quốc” và “quấc” đều bắt nguồn từ tiếng Hán, “xà phòng” và “xà bông” đều từ tiếng Pháp, chữ nào có trước hay chữ nào là phương ngữ, xuất hiện ở đâu lần đầu?

Ngôn ngữ cũng có thể bị quân sự hoá để phục vụ nhu cầu lên gân của thời đại. Mấy chục năm nay tiếng Mỹ được quân sự hoá khá nhiều, như “war on drugs” hay “war on terrorists” hay “war on illegal immigrants”. Người Việt có một quá khứ thường xuyên đánh nhau với ngoại bang và đánh lẫn nhau hoặc luôn luôn bị bên ngoài đe doạ, vì thế tiếng Việt đôi khi sặc mùi chiến tranh ngay cả trong những trường hợp không cần thiết, như “chống giặc dốt” hoặc vô vàn thí dụ khác. Hoặc hoà bình là một tình trạng ai cũng mong mỏi, nhưng “diễn biến hoà bình” hay “hòa giải, hòa hợp” trở thành những cụm từ mang nghĩa xấu đối với một số người.

Sự biến đổi của ngôn ngữ thể hiện rõ qua cách phát âm. Patricia O’Conner trong Origin of the Specious cho biết trong nhiều trường hợp Shakespeare viết và phát âm giống với American English hơn British English ngày nay. Trong khi British English tiếp tục thu nhập một số chữ của lục địa Âu châu, nhất là tiếng Pháp có nguồn gốc từ tiếng Latin, ngược lại, dân thuộc địa ở Mỹ châu vẫn giữ cách nói cũ của mẫu quốc Anh. Nói chung, nhiều khi người Mỹ ngày nay nói tiếng Anh của thế kỷ 17 và 18, trong khi cách nói của người Anh đã biến dạng khá nhiều trong thế kỷ 19. Chẳng hạn, tiếng Anh Anglo-Saxon lúc đầu đọc rõ âm [r] trong những chữ như “far”, “mother”, “world”. Khi thuộc địa Anh ở Mỹ châu tách ra khỏi đế quốc Anh, dân cựu thuộc địa tiếp tục giữ cách nói cũ, trừ những người còn giữ mối liên hệ kinh tế và xã hội chặt chẽ với mẫu quốc, nhưng giới trí thức ở Anh đã bỏ dần âm [r] vào cuối thế kỷ 18.

Trước thế kỷ 19, chữ “herb” dân Anh và Mỹ đều phát âm [erb], và viết là “erbe”, mượn từ chữ Pháp cổ “erbe” từ thế kỷ 13. Sau đó mẫu tự “h” được thêm vào cho giống với cách viết Latin “herba”, nghĩa là cỏ, nhưng vẫn là mẫu tự h-câm. Ngày nay người Mỹ vẫn phát âm “herb” với h-câm, trong khi Shakespeare sẽ không hiểu được cách nói từ miệng người Anh ngày nay. Mặt khác, các cuốn cẩm nang ngôn ngữ ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương đều nói chỉ dùng “an” trước một chữ bắt đầu bằng h-câm, và dùng “a” trước chữ bắt đầu bằng h có phát âm, giống như “hero”, “hypothesis”, “habit”. Nhưng một số người Anh vẫn dùng “an” trước những chữ “history”, “hotel”.

Tương tự, trong tiếng Việt, chẳng hạn chữ “blời”, “tlời”, “giời”, “trời” (thậm chí “chời”, “zời”), đều cùng một nghĩa, nhưng phát âm và cách viết thay đổi theo thời gian, địa phương và hoàn cảnh. Hoặc cách đặt dấu âm trong tiếng Việt có thể là một phần chứng tích của cách phát âm từng thời đại. Alexandre de Rhodes viết “chiụ”, trong khi ngày nay viết “chịu”. Hoặc De Rhodes viết “hŏà”, Hoàng Phê viết “hoà” có lẽ dựa theo cách phát âm [ho-à] của thời hiện đại, và đa số người thời nay viết “hòa” có lẽ do thói quen. Sự khác biệt này dẫn đến một số khó khăn khi tìm kiếm văn bản. Chẳng hạn, tìm tác phẩm của nhà ngôn ngữ học “Nguyễn Đình Hoà” trên mạng điện tử có thể sẽ không gặp một số công trình của tác giả “Nguyễn Đình Hòa”.

Sự biến thái của từ ngữ theo địa phương cũng là một đề tài thú vị khác. Nước Mỹ rộng bằng cả một lục địa nên đôi khi mỗi địa phương có cách nói riêng. Du khách đến thủ đô Washington D.C. của Mỹ có thể hỏi thăm bất kỳ ai hoặc mấy ông cựu chiến binh Mỹ râu ria xồm xoàm, mập thù lù hay ốm tong teo, để tìm “Viet Vet Memorial” một cách dễ dàng. Nhưng du khách tới New York nếu không hỏi “Vietnam Veterans Memorial” sẽ có cơ hội nghe câu trả lời là không biết, dù đứng cách đó không hơn 100 mét.

Cách xếp đặt thứ tự theo dấu giọng của tiếng Việt cũng là một biểu hiện của sự đa dạng. De Rhodes xếp theo thứ tự “không dấu, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng”; Huỳnh Tịnh Paulus Của xếp theo “không dấu, nặng, sắc, huyền, hỏi, ngã”; Đào Duy Anh xếp theo “không dấu, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã”; Hoàng Phê xếp theo “không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng”; một số từ điển khác xếp theo “không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng”, và chắc còn nhiều cách xếp khác nữa. Hình như chưa có cuốn từ điển nào xếp “không dấu” đi sau các chữ có dấu giọng. Mỗi nhà có một lý lẽ khoa học riêng, hay chẳng có lý lẽ nào, nhưng chắc chắn nhà ngôn ngữ học không đem lý lẽ chính trị vào để giải thích hay biện hộ cho một cách dùng riêng biệt nào.

Cách đánh vần của một chữ thường dựa theo cách phát âm của chữ đó, nhưng luôn luôn có những ngoại lệ. Các nhà soạn từ điển Anh và Mỹ đóng góp khá nhiều vào cách đánh vần khác biệt ở hai bên bờ Đại Tây Dương. Cách viết những chữ như “color-colour”, “honor-honour”, “labor-labour”, chịu ảnh hưởng “or” của Latin và “our” của Pháp, đều được mọi người dùng cho đến cuối thế kỷ 18. Một hôm đẹp giời và xấu trời hai bên bờ biển, các nhà làm từ điển quyết định dẹp cách viết rối loạn này: từ điển năm 1755 của Samuel Johnson ở Anh chọn “our”, và từ điển năm 1828 của Noah Webster ở Mỹ chọn “or”. Tương tự, Webster và Johnson cũng chọn cách viết khác nhau cho “fiber-fibre”, “amid-amidst”, “civilize-civilise”… Trong tiếng Việt, có lẽ chữ “thủi” (trong “thui thủi”) viết theo cách phát âm [thủ-i], dấu hỏi đi theo mẫu tự “u”, và cùng lý luận đó lẽ ra sẽ viết là “thuỷ”, dấu hỏi đi theo mẫu tự “y”, nhưng theo thói quen chúng ta thường viết “thủy”.

Cách đánh vần của tiếng Anh nổi tiếng vô lý. Người học tiếng Anh và các thi sĩ làm thơ có vần điệu thường bực mình vì những chữ như through, rough, dough, plough, hiccoughtrough, tất cả đều tận cùng bằng ough, nhưng không chữ nào phát âm giống chữ nào. Một số tên tuổi lớn trong lịch sử Mỹ đã tìm cách sửa đổi phép chính tả đỏng đảnh này. Một trong những nhà sáng lập nước Mỹ là Benjamin Franklin đã từng đề nghị đổi mẫu tự, và kỹ nghệ gia Andrew Carnegie hào phóng trợ cấp cho các nhóm nghiên cứu việc này, nhưng kết quả chẳng đi đến đâu vì chẳng ai áp dụng. Thậm chí Tổng thống Theodore Roosevelt ký sắc lệnh năm 1906 giao cho Government Printing Office một danh sách 300 chữ có cách đánh vần mới: những chữ có vấn đề như artisan, kissedwoe sẽ đổi thành artizan, kistwo. Sở in ấn của chính phủ làm lơ ông tổng thống và vấn đề chìm vào quên lãng. Ngôn ngữ tiến hoá không thể áp đặt từ trên xuống, dù sự áp đặt hợp với lý lẽ khoa học thuần túy.

Trong khi đó, cách đánh vần ngày nay biến đổi tự phát một cách mạnh mẽ cùng với sự tiến triển của kỹ thuật điện tử. Giới trẻ, trẻ tuổi và trẻ tính, dùng phép chính tả mới để gửi “text message” cho nhau qua điện thoại cầm tay và vô số vật dụng điện tử khác. Người ta có thể chưa quen thấy “i luv u” hoặc “n ieu m” trên sách báo, nhưng nó phổ biến đến nỗi ai cũng hiểu. Liệu những cách viết này sẽ tồn tại lâu dài để trở thành “chuẩn”? Tại sao những “cải tiến” vô tình này thành công, được một số người tự nguyện dùng, trong khi các nhà ngôn ngữ học với đầy đủ luận chứng khoa học lại thất bại trong việc cổ động một cách viết, cách nói nào đó?

Các nhà ngôn ngữ học tìm hiểu “chuẩn” của một ngôn ngữ, từ nào là đúng hay sai trong một thời điểm nhất định, từ nào là tiếng lóng và xuất hiện vào lúc nào, nguồn gốc và sự biến thái của một từ, hệ thống âm và cách kết hợp các từ trong một cộng đồng con người tại một thời điểm nhất định để họ có thể hiểu nhau… Công việc của họ có vẻ tỉ mẩn và ít người theo đuổi. Tuy nhiên, mỗi khi muốn vỗ ngực tuyên bố mình nói và viết đúng “chuẩn”, biết và hiểu đúng “chuẩn”, chúng ta nên nhìn trước ngó sau để xem có một nhà ngôn ngữ khó tính nào đang cặm cụi làm việc quanh đấy hay không, vì họ thường tìm thấy những điều bất ngờ và chứng minh được rằng cái gọi là “chuẩn” chưa chắc đã là “chuẩn”. Dõi theo căn nguyên của từ ngữ tuy có thể hơi nhức đầu nhưng luôn luôn là một việc thơ thẩn và thú vị.

26/12/2009 – 20/5/2010

Tham khảo

– Alexandre de Rhodes, Từ điển An nam-Lusitan-Latinh, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Viện Khoa học Xã hội, T.P. Hồ Chí Minh, 1991.

– Đào Duy Anh, Hán-Việt từ điển, 1932 và 1936; bản in lại lần thứ ba của Trường Thi, Saigon, 1957.

– Hoàng Phê et al, Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội, 1992.

– Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự vị, Imprimerie Rey, Curiol & Co., Saigon, 1895; bản in lại tại nhà in Văn Hữu, Gia Định, 1974.

– Patricia T. O’Conner và Stewart Kellerman, Origin of the Specious, Random House, New York, 2009.

– Thiều Chửu, Hán-Việt Tự điển, bản in lại của Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.

– Merriam-Webster Online, http://www.merriam-webster.com/

© 2010 Phạm Văn

© 2010 talawas

Bình luận

49 Comments (bài “Phạm Văn – Tính đỏng đảnh của ngôn ngữ”)

  1. Trần Văn Tích viết:

    1) Ông Phạm Văn trích dẫn trung thực phần giải thích chữ “chất lượng” của Giản-yếu Hán-Việt Từ-điển Đào Duy Anh, chỉ thiếu một chữ Lý đặt trong ngoặc đơn, chữ “(Lý)” này nằm ngay đầu phần trích dẫn. Như vậy nhà biên soạn từ điển
    đã muốn chỉ rõ rằng cụ dùng chữ “chất lượng” để dịch một danh từ thuộc bô môn vật lý, như ông Trương Nhân Tuấn suy đoán. Mà chúng ta đều biết Đào tiên sinh không phải là nhà vật lý học vì thế cụ dịch thiếu chính xác; chứ chắc không phải vào thời cụ chữ chất lượng là đơn vị từ ngữ tương đương với chữ masse. Chữ masse atomique chẳng hạn không dịch là chất lượng nguyên tử mà dịch là trọng lượng nguyên tử.
    2) Tôi nghĩ rằng không phải vì kỵ húy tên bà Hồ thị Hoa mà người miền Nam dùng chữ bông như độc già Lưu Văn Sang chủ trương. Vì kỵ húy, nên “hoa” đọc trại thành “huê”.

  2. @ comment-14034
    ==============

    “Chữ « quốc ngữ » được ông cố đạo Alexandre de Rhodes sáng chế từ thế kỷ 17 nhằm vào việc truyền đạo.” (sic)

    Khẳng định này không chính xác.

    Chữ quốc ngữ không phải là sáng chế của một mình Alexandre de Rhodes. Gần một thế kỷ trước khi Alexandre de Rhodes tới Đàng Trong vào năm 1624, tại Việt nam đã có các tu sĩ Jesuit người Bồ Đào Nha truyền giáo, bắt đầu từ khoàng 1524 – 1533. Linh mục Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, ngay từ năm 1622, đã hoàn thành việc xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự latin [1] thích hợp với lối phát âm và thanh điệu tiếng Việt Nam. Ông đã làm được một tuyển tập và bắt đầu viết một bản văn phạm, tiếc rằng nay đã thất lạc.

    Năm 1624, Francisco de Pina đã mở trường dạy tiếng Việt cho những người ngoại quốc đầu tiên, trong đó có hai học trò cự phách: linh mục người Bồ Đào Nha António de Fontes, và linh mục người Pháp là Alexandre de Rhodes [2].

    Trong lời tựa cuốn Dictionnarium annamiticum, lusitanum et latinum – cuốn từ ̣điển Việt – Bồ – La đầu tiên xuất bản tại Rome năm 1651, chính Alexandre de Rhodes đã xác nhận 2 cuốn từ điển chữ quốc ngữ đã thất lạc của hai nhà từ-vựng-học người Bồ Đào Nha là Gaspar de Amaral và António Barbosa.

    Như vậy, có thể nói chữ quốc ngữ là một công trình tập thể của các nhà truyền giáo Jesuit người Bồ Đào Nha và người Pháp tại Việt Nam bắt đầu từ khoảng giữa thế kỷ 16 tới giữa thế kỷ 17, được đánh dấu bởi việc xuất bản cuốn từ ̣điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes (1651).

    ———————-

    [1] Chính xác hơn phải được gọi là mẫu tự roman, vì mẫu tự latin cổ ̣điển chỉ gồm 23 chữ cái viết hoa: A, B, C, D, E, F, G, H, I, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, V, X, Y, Z. Tới khoảng năm 800 – 1200 mẫu tự Caroline thường (Caroline minuscule) được dùng trong triều đình Charlemagne ở Pháp. Đây là tiền thân của mẫu tự Roman viết thường sau này.

    [2] Xem “Bồ Đào Nha và công trình sáng chế chữ quốc ngữ – Phải chăng cần viết lại lịch sử?” của Roland Jacques, do
    Nguyễn Đăng Trúc dịch tại
    http://ttntt.free.fr/archive/Roland4.html

  3. Trương Nhân Tuấn viết:

    Đào Duy Anh định nghĩa “chất lượng” là “cái phân lượng của thực chất trong vật thể gọi là chất lượng. Ví như một miếng gỗ và một miếng sắt to bằng nhau, song trong miếng gỗ thực chất ít hơn trong miếng sắt cho nên cái chất lượng (masse) của hai miếng khác nhau”. (trích Phạm Văn)
    Theo tôi, cụ Đào Duy Anh giải thích từ « chất lượng » như thế là có vấn đề (nếu đúng như nguyên văn của ông Phạm Văn trích dẫn).
    Ý nghĩa của « Chất lượng » như đã dẫn thuộc về phạm trù vật lý.
    Theo tôi “cái phân lượng của thực chất trong vật thể » có thể gọi là « mật độ vật chất » (mass density – densité de la matière), còn gọi là « tỷ trọng ».
    Trong dấu ngoặc đơn : chất lượng (masse) ; vậy « chất lượng » có ý nghĩa là « masse »
    Từ « masse » có nhiều nghĩa, nhưng bất kỳ nghĩa nào cũng không thể dịch « masse » thành ra « chất lượng » mà phải dịch là « khối lượng », đám đông, khối quần chúng…
    Chữ « masse » trong tiếng Pháp hay « mass » trong tiếng Anh đều có nghĩa là « khối ».
    Tự điển thuật ngữ khoa học kỹ thuật (NXB Khoa học và kỹ thuật) (chỉ) có một lần sử dụng từ « chất lượng » để dịch « surface finish – degré de finition de la surface » thành « chất lượng bề mặt ; độ sạch bề mặt ». « Chất lượng » ở đây có nghĩa là độ sạch (hay độ bóng, độ phẳng, độ nghiêng… tùy theo « cahier de charge – điều kiện sách». Như vậy « chất lượng » được hiểu như là phẩm chất của một công việc hay một sản phẩm nào đó. Tức có ý nghĩa của chữ « quality – qualité ».
    Như vậy tại sao không dùng chữ « phẩm chất » mà lại dùng « chất lượng », một chữ dịch sai của cụ Đào Duy Anh (dịch là masse) ?
    Tôi thấy từ ngữ Việt Nam có rất nhiều từ sai (chuyển từ tiếng Hán) nhưng vì sử dụng lâu ngày thành ra thói quen.
    Cái sai trong ngôn ngữ thực ra chỉ là cái « di họa » đến từ sự liệt kháng của tư duy. Cái tệ hại, mà tôi đã thử nói hay thử đặt lại nhiều lần, là cái tinh thần không biết (hay dám) đặt lại vấn đề của trí thức Việt Nam. Đến thời đại này mà sỹ phu Việt Nam vẫn như đang sống dưới thời phong kiến hủ nho. Không ai dám mở miệng đặt lại bất kỳ vấn đề nào, làm như vấn đề gì cũng đã có « Tử viết » ! Nhưng đâu phải cái gì Tử viết là đúng ?
    Nếu cha ông ta nói cái gì cũng nói đúng (và làm đúng) thì dân mình đâu có thê thảm như hôm nay !
    Dân mình te tua hôm nay là do cha ông mình nói (và làm) sai be bét !
    Tôi nhớ ông Hà Sỹ Phu đặt lại vấn đề « Mác » bị trù dập dai dẵng đến nay đã có cả ba thập niên. Ai cũng biết tỏng là Mác đã sai be bét, nhưng không ai dám nói. Bởi nói ra là bị bắt. Cái bệnh liệt kháng của tư duy Việt Nam là ở chỗ này.

  4. Lưu Văn Say viết:

    Cảm ơn bác Phạm Văn có bài viết về một đề tài rất vui. Ngôn ngữ quả thật đỏng đảnh và tôi (trên tinh thần vui vẻ trao đổi, học hỏi chứ không dám đỏng đảnh!)có vài điều không đồng ý với bác. Chẳng hạn như bác víết:

    “Trong khi đó, người ở lại quê miền bắc thường xuyên tiếp cận với văn hoá Hán hơn nên đã thu nhập nhiều từ ngữ của Trung Quốc. Chẳng hạn, người Nam dùng chữ “bông” của người Việt đã có từ lâu, trong khi người Bắc bỏ dần chữ “bông” để mượn chữ “hoa” của tiếng Hán; hoặc có thể ghép cả hai chữ lại thành “bông hoa” để chỉ số nhiều chẳng hạn. Hoặc từ điển của Hoàng Phê xuất bản tại Hà Nội năm 1992 chú thích “ngữ vựng” là một chữ cũ và ít dùng, và dẫn người đọc qua một chữ khác, “từ vựng”.”

    thấy có vẻ không ổn vì:

    – Nam hay Bắc gì lúc đầu cũng gọi “hoa” tuốt luốt cả chứ không phải Bắc do tiếp cận văn hóa Trung Hoa mà đổi “bông” thành “hoa” đâu ạ.

    – Sau đến thời Nguyễn, do kỵ húy chữ “hoa” là tên bà Hồ Thị Hoa (mẹ vua Thiệu Trị) nên ở đàng trong phải gọi đổi ra thành “bông”. Đàng ngoài chẳng ngại gì, cứ “hoa” mà phệt cho đến tận bây giờ.

    – Việc ghép hai từ đơn “bông” và “hoa” thành từ ghép “bông hoa” hòan toàn không chỉ số nhiều.

    – Quan điểm của Hoàng Phê về “từ vựng” và “ngữ vựng” cũng cần xem xét lại. Đành rằng có thực hai lối cũ-mới trong cách dùng khái niệm khi sọan từ điển, song rõ ràng vì “từ” và “ngữ” là khác nhau cho nên muốn hay không thì “từ vựng” phải khác “ngữ vựng”.

    Thân ái,

    LVS

  5. Phùng Tường Vân viết:

    “Vậy có lẽ “chí ít” không mới nhưng dân miền Nam ít khi dùng?”.(Trần Văn Tích)

    Thưa, có nhiều phần là như vậy.

    Lang thang trên mạng, tôi bắt gặp một trường hợp “chí ít” được sử dụng một cách khá thú vị trong câu sau đây :

    “Với thang điểm 10 thì về phương diện hình thức vợ tôi chí ít cũng phải đuợc bẩy điểm !”

    Trong trường hợp này thì rõ ràng những từ có thể thay thế cho “chí ít” như “ít nhất”, “tối thiểu” là không “đắt” bằng nó, những từ ấy trong ngữ cảnh này làm sao có được cái khí vị humor tinh nghịch, tếu táo trong câu văn đã dẫn. Vì thế thiển nghĩ, những từ “chất lượng”, “động não” (“động não” chớ không có “động óc”), “ấn tượng” v..v…thiết tưởng cũng chẳng nên nhất thiết cho sổ toẹt, nếu sử dụng chúng một cách tiết kiệm và đúng chỗ có lẽ đôi khi nó đem lại cho ngôn ngữ ta chút ít giầu có không ngờ vậy .

  6. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Nguyễn Lê Hiếu viết :
    (1) ” sự không giống đó chưa chắc đã là phải mà sự hợp nhất kia mới lại vô bằng, vì ….lấy gì làm bằng cớ, bắt tiếng nào làm đúng hơn tiếng nào mà đặt làm mẫu?”
    (2) Rồi ông lại bắt người ta phải phát âm từ “w” không có trong mặt chữ cái thì tôi e rằng ông có thể đã quá độc-đoán trong tâm sốt sắng “chuẩn hoá” tiếng ta.”

    Tôi xin trả lời câu (2) trước: Viết “tw” trong “twa” để chỉ cách đọc “toa” là tôi bắt chước cách phiên âm quốc tế khi chỉ cách đọc tiếng Anh trong từ điển Anh Việt. Thí dụ between [bi’twi:n], trong đó “tw” là một phụ âm kép. Còn khi viết “toà ” hay “tuệ”, chữ :o” và chữ “u” có dạng nguyên âm, nhưng thật ra về cách đọc lại là phụ âm khi kết hơp với “t” (để tạo phụ âm kép). Chữ quốc ngữ không dùng phụ âm “w”, nhưng để chỉ cách phát âm của nbgười miền Nam về các từ như “hoa quả” thì không có cách ghi nào khác hơn là “wa wả”. Khi đọc các chữ Việt như quỷ, quả, huỷ, hỏa, thuỷ, thoả…, môi phải chúm lại (rồi mở ra) ở vị trí giống khi phát âm “w”. Còn tôi đã viết chữ “thuỷ” phải đánh dấu trên “y” (nguyên âm) chứ không thể trên “u” (có vai trò phụ âm), là giống như trường hợp của chữ “quỷ”, chứ không phải vì thói quen của người viết chữ.

    Cũng cần nói cho rõ là phụ âm kép của tiếng Việt “TW” phát âm nhẹ hơn phụ âm “TW” trong tiếng Anh, cũng như “TR” trong tiếng Việt phát âm khác “TR” trong tiếng Anh, và ngay cả phụ âm “T” ở hai ngôn ngữ này cũng phát âm khác nhau, Ký hiệu “tw” đã dùng chỉ nói lên cách phát âm của tiếng Việt, và chỉ gần cận, không thật chính xác khi đặt vào một ngôn ngữ khác.

    Cần cải chính là tôi không có tâm chuẩn hóa chữ viết Quốc ngữ, còn độc đoán nhiều hay quá nhiều về chuyện gì thì tuỳ người khác nhận định.

    Về (1): Chữ quốc ngữ được quy định cách viết gần như ngày nay có thể cho bắt đấu từ năm 1722 khi giám mục Pigneau de Béhaine soạn cuốn từ điển “Annam-Latinh”, với sự cộng tác của một số người Việt, trong đó có một người đóng góp nhiều và tuổi còn ghi lại là Hồ Văn Nghi. Tù diển này gồm 4843 từ đơn. Năm 1838, căn cứ vào từ điển trên, giám mục Taberd cùng linh mục Phan Văn Minh và một số người Việt khác soạn hai cuốn “Tự điển Annam -Latinh” và “Tự điển Latinh-Annam”, in tại Ấn Độ. Từ điển này gồm 4959 từ đơn, và có chừng 10 ngàn tiếng Việt. Hình dạng chữ viết trong từ điển Taberd gần giống như ngày nay.

    Năm 1895, ông Huỳnh Tịnh Của cho in “Đại Nam Quốc Âm tự vị” quyển 1, và năm 1896 in quyền 2. Đây là từ điển đầu tiên giải thích nghĩa chữ Việt bằng tiếng Việt, và chữ Việt coi như “chuẩn hóa” từ đó. Nó là “từ đó” vì vẫn còn một ít chữ sau này thay đổi, như khi chính tên tác giả lúc đó được viết là “Huình” Tịnh Của. Nhưng đóng góp lớn nhất cho chữ Quốc ngữ “hiện đại” có lẽ là ở De Béhaine (Taberd sửa đổi rất ít). Trong bài thơ lục bát dàì 14 câu in năm 1889, viết bằng chữ Việt La-tinh hoá của De Béhaine, mà tác già phải là người miền Nam, tôi thấy các dấu hỏi ngã, phụ âm đầu và cuối đều viết đúng, có lẽ chỉ trừ hai chữ mà tôi còn nghi hoặc, không chắc đúng hay sai là “vang rân” và “vang dầy”.

    Ngôn ngữ thì không cần chuẩn hóa (có lẽ trừ Trung Quốc muốn dùng tiếng Bắc kinh làm tiếng phổ thông cho cả nước), nhưng chữ viết phải cần được chuẩn hóa vì lợi ích chung, tuy cũng chấp nhận vài ngoại lệ cho phép một chữ có nhiều cách viết. Nhưng ngoại lệ này càng ít càng tốt. Tôi thấy người miền Nam đã bị mất đi một số từ ngữ có phát âm không giống các vùng khác, như : nguơn, huơi, cây kiểng, nhựt trình, chơn chánh, học sanh, huê lợi, tiên phuông… Nhưng theo tôi, sự mất mát đó không phải đáng tiếc lắm (vì không phải mất tiếng), dù rằng trong khi đó người Huế vẫn nặng tình với các tiếng địa phương như chừ, mi, mô, ri, răng , rứa… Tò mò, tôi muốn biết người Quảng Nam ngày nay có còn nói không các tiếng như eng mẹc (ăn mặc), éc hẻng (ắt hẳn)…, nhưng chắc chắn họ không bao giờ viết như vậy (kể từ công trình chuẩn hoá cùa Béhaine).

  7. Phạm Văn viết:

    Một chữ có thể đã có từ lâu, nhưng ngữ nghĩa thay đổi theo thời gian. Thí dụ, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, 1932 & 1936, đã có các mục từ “nhất trí”, “tư liệu”, “chất lượng” và “quá độ thời đại”. Đào Duy Anh định nghĩa “chất lượng” là “cái phân lượng của thực chất trong vật thể gọi là chất lượng. Ví như một miếng gỗ và một miếng sắt to bằng nhau, song trong miếng gỗ thực chất ít hơn trong miếng sắt cho nên cái chất lượng (masse) của hai miếng khác nhau”. Ngày nay “chất lượng” thường được dùng để chỉ phẩm chất hay giá trị của một sự vật, biết đâu vài chục năm nữa nó lại có một nghĩa khác xa tít mù tắp, và biết đâu xưa xửa xừa xưa trước thời Đào Duy Anh, chữ “chất lượng” được dùng theo nghĩa bây giờ. Trong nhiều trường hợp ngôn ngữ sống trong sự lựa chọn độc đoán, đôi khi vô lý, của đa số.

  8. Hoàng Trường Sa viết:

    “Có một điều tôi nhận thấy trong cách hành văn của tiếng Việt, là chúng ta thường sử dụng “từ kép” cho câu văn nó được “văn vẻ” hơn. Ví dụ như câu “Mặt hàng này đủ chất lượng” vẫn có thể viết thành “Mặt hàng này đủ chất” mà ý nghĩa của câu không bị thay đổi, nhưng không được “văn vẻ” cho lắm và nghe “quê quê” thế nào ấy.” (Trương Đức)

    Bạn Trương Đức nói rất đúng là trong cách hành văn của tiếng Việt, chúng ta thường sử dụng “từ kép” cho câu văn được êm tai và dễ nhận, dễ nhớ hơn, hoặc “văn vẻ” hơn. Nhưng trong thí dụ về câu “Mặt hàng này đủ chất” thì trong miền Nam trước 1975 người ta vẫn viết “Mặt hàng này đủ PHẨM CHẤT” để cho câu không bị cụt lủn mà nghe êm tai hơn (hoặc nghe “văn vẻ” như bạn nói) chứ không nhất thiết là cần phải viết là “Mặt hàng này đủ CHẤT LƯỢNG”.

    Thân mến.

  9. Hoàng Trường Sa viết:

    Bạn Phùng Tường Vân thân mến,

    Vâng, thưa bạn, bạn nói rất đúng. Tôi đồng ý hoàn toàn. Nhưng, chỉ trong những trường hợp như bạn nói, thì từ CHẤT LƯỢNG mới hợp lý và có ý nghĩa. Còn, khi dùng nó cho những trường hợp khác, như hiện nay trong nước đang dùng, với ý là QUALITY của tiếng Anh hay QUALITÉ của tiếng Pháp, thì SAI hoàn toàn. Nói cách khác, từ CHẤT LƯỢNG cũng có thể xài để làm giàu thêm ngôn ngữ Việt với điều kiện là xài đúng chỗ. Bằng không, nó không những làm MÉO MÓ tiếng Việt mà còn làm cho các thế hệ VN tương lai hiểu sai những chữ như CHẤT (= phẩm chất = tính chất) và LƯỢNG (= số lượng = đại lượng) vốn hiện hữu đã lâu trong kho tàng tiếng Việt ta.

    Thân ái chào bạn.

  10. Trương Đức viết:

    “Tôi kỵ nhất là chữ CHẤT LƯỢNG vì nó là một hỗn hợp tả-pí-lù của CHẤT (quality, qualité) và LƯỢNG (quantity, quantité) vào chung trong một từ.”(Hoàng Trường Sa)

    bác HTS thân mến,
    Tôi thấy qua khá nhiều PH hồi rồi mà bác vẫn “đỏng đảng” cho rằng từ “chất lượng” là “một hỗn hợp tả-pí-lù”, thì tôi cũng chịu, không thể hiểu được bác! Có mấy điểm tôi không đồng ý với bác như sau:

    1. Từ “chất lượng” không phải là từ được dịch từ “một hỗn hợp tả-pí-lù” của “quality”(qualité) và “quantity”(quantité), mà chỉ là từ tiếng Việt “tương đương” của “quality”(qualité). Tôi nói “tương đương” là cũng có cái dụng ý của nó. Bởi vì, còn tùy thuộc vào văn cảnh mà nó có cái “nghĩa” như thế nào, và cũng bởi vì tính… “đỏng đảnh” của nó(ngôn ngữ) nữa!

    2. Từ “chất lượng” ở đây không mang một nghĩa nào về “lượng” cả như trường hợp của các từ “số lượng”, “khối lượng”, “trọng lượng”, hay “lượng”. Có họa chăng, theo tôi, chỉ là cái nghĩa “lượng của chất là bao nhiêu” thôi (ví dụ như câu “Mặt hàng này đủ chất lượng”, có nghĩa là “Mặt hàng này, về “chất” là nó chứa đủ”). Có lẽ vì do bác cứ “khăng khăng” tách rời “chất” và “lượng” ra, nên đã cảm thấy “dị ứng” và “kỵ” với từ này?

    3. Có một điều tôi nhận thấy trong cách hành văn của tiếng Việt, là chúng ta thường sử dụng “từ kép” cho câu văn nó được “văn vẻ” hơn. Ví dụ như câu “Mặt hàng này đủ chất lượng” vẫn có thể viết thành “Mặt hàng này đủ chất” mà ý nghĩa của câu không bị thay đổi, nhưng không được “văn vẻ” cho lắm và nghe “quê quê” thế nào ấy. Bản thân tôi vẫn dùng từ “chất lượng” để dịch “quality”, và cũng thấy nó khá “văn vẻ” đấy chứ!

  11. Nguyễn Lê Hiếu viết:

    1- Thưa Ông Dương danh Huy:
    “Nhưng mà viết je sui, ils son thì cũng không ổn vì nấu viết je sui arrive, ils son allés thì sẽ không đúng với cách phát âm.”
    Ông ngụ ý là lối viết dựa theo cách nói (lối phát âm), tôi nghĩ không hoàn-toàn đúng. Tôi lấy cùng thí-dụ ông dùng. Khoảng thế-kỷ thứ 12, trong các bài thơ-chuyện ngắn (Lais de Marie de France, đã dịch sang tiếng Việt là Âu châu tình sử) thì khi bị/được hoàng-hậu ướm tình, nhà hiệp sĩ Lanval đã từ chối mà nói: “Tôi đang yêu và đã được yêu”: Jo aime e si sui amis (J’aime et suis aimé). Sang thế kỷ 15, Villon, nhà thi sỹ nổi tiếng có câu Mais ou sont les neiges d’antan, lại tả tính tình mình: “Tôi là kẻ phạm tội; tôi biết như vậy: Je suis pecheur, je le sçai bien (Je suis pécheur, je le sais bien) Các thí dụ trên gợi ý là các động từ ngôi thứ nhất số ít cổ xưa không có “s”, sang thế kỷ 15, có từ có “s” (suis), có từ chưa ( sçai ). Có thể là tuỳ theo sự biến chuyển trước của các từ mà cách phát âm thay đổi theo sau.
    2- Nhưng áp dụng thuyết thay đổi trước sau của ông lại đúng khi áp dụng cho quốc-ngữ. Ông Hoà Nguyễn viết:
    “Nói chung, chữ viết dựa vào cách phát âm của con người ở một vùng vào thời nào đó,… Chữ Quốc ngữ không biết đã theo cách nói của người Việt vùng nào (ở vào khoảng thế kỷ 17, 18). Có thể là “pha giọng” của những người mà các thừa sai Tây phương thường lui tới tiếp xúc, như ở Kẻ Chợ (dọc theo hoàng thành Thăng Long, Hà Nội), hay vùng ven biển Nam Định, Hải Dương …”
    Nhưng có thể tự mâu thuẫn chăng khi đòi hỏi người miền này phải viết theo cách phát âm phụ âm đầu của miền kia và người miền kia phải viết cho đúng theo cách phát âm phụ âm cuối của miền nọ. Hay là “bắt buộc phải viết đúng” (Đúng theo tiêu chuẩn vùng nào?) Tôi xin nhắc lại một câu viết của tiền nhân:
    “Nếu nói rằng vì (tiếng) Bắc, Trung, Nam kỳ không giống nhau mà cần phải hợp làm một thì thiết tưởng chưa được xác đáng lắm, sự không giống đó chưa chắc đã là phải mà sự hợp nhất kia mới lại vô bằng, vì ….lấy gì làm bằng cớ, bắt tiếng nào làm đúng hơn tiếng nào mà đặt làm mẫu?”

    Rồi ông lại bắt người ta phải phát âm từ “w” không có trong mặt chữ cái thì tôi e rằng ông có thể đã quá độc-đoán trong tâm sốt sắng “chuẩn hoá” tiếng ta.
    TOA phát âm là TWA, HUẾ phát âm là HWẾ, Nguyễn là Ngwyễn (nguiễn), Tuyết là Twyết (twiết), khuya là khwya (khwia). Như đã thấy Quốc phát âm là Kwốc , không thể là Cuốc (hay Kuốc).

    Thưa Ông Dung Vu:
    Cái mới và khó là làm sao cho mọi người ý thức đó thực sự là vấn đề; nó cần được giải quyết và có thể giải quyết được.
    Có cần được/có thể giải quyết được? Các sinh ngữ tự nó biến đổi theo thời gian và không gian (Tiếng Pháp ở Paris, ở Quebec, ở Algérie và ở Tatanarive có khác biệt, tiếng Anh, Mỹ y— miền Đông-bắc và miền nam Texas— và Úc không hoàn-toàn giống nhau; có phải là có vấn-đề, cần giải-quyết?) Trong trường hợp các sinh ngữ có trước, còn thay đổi, ai có thẩm quyền đặt luật văn phạm mới “rồi ép mọi người tuân theo” như theo luật đi đường? Thiết tưởng phát biểu “có thể giải quyết được” qua lạc quan.
    Chỉ có những ngôn ngữ mà người ta đặt ra lề luật trước rồi mới dùng thì mới thực sự có chuẩn quy định rõ ràng. Thí dụ là những ngôn ngữ quốc tế như Esperanza hay Lingula

  12. Phùng Tường Vân viết:

    “Tôi kỵ nhất là chữ CHẤT LƯỢNG vì nó là một hổn hợp tả-pí-lù của CHẤT (quality, qualité) và LƯỢNG (quantity, quantité) vào chung trong một từ. (Hoàng Trường Sa)

    Ấy thế mà bạn ạ, như tôi đã có lần góp ý, cái từ “chất lượng” mà bạn cho là kỳ cục ấy theo tôi nó đôi khi cũng có chỗ dùng mà tôi cho là thích đáng, handy, nhất là trong ngôn ngữ nói, tôi xin dẫn một thí dụ : Bạn vào một quán Phở, như Phở Nguyễn Huệ hoặc Quang Trung của Little Sàigon chẳng hạn, quất xong một tô cành hông, rồi phán “Chất lượng lắm !” thì tôi lại thấy make sense đấy chứ, nó biểu thị hai ý : tô phở lớn (bánh,nước,thịt…) và ngon. Trong trường hợp này, nếu bạn chỉ khen một tiếng trần trụi “ngon” thì cũng hơi thiệt thòi cho Phở ấy và cũng không được “ấn tượng” lắm; vậy “chất lượng” ở đây rõ ràng là có chỗ khả dụng của nó,
    tôi nói nó handy là trong nghĩa ấy vậy !

  13. vantruong viết:

    Chữ “chí ít” đó có mới hay không thì bản thân tôi không được rõ lắm vì đầu óc chập chờn nằm ngoài lề tiếng Việt quá lâu. Tôi mới nhận thức được sự hiện diện của nó vào khoảng mươi năm nay, ít ra thì trước đó nó cũng ”inconnu dans mon bataillon”. Tôi nhiễm cái thói quen chơi chữ của người Pháp thí dụ ngôn ngữ là thông tin, là trao đổi, là “communication” : bạn Pháp lại nói “dans communication il y a nique, comme dans culture il y a cul”, một cách giễu khá rõ nét gà cồ, (nique và cul có nghĩa lóng tục).

  14. Phùng Tường Vân viết:

    @Trương Đức

    Cảm ơn nhặt cỏ dùm ta
    Sâu nằm trong lá vạch ra ngại gì !

  15. Trần Văn Tích viết:

    Ông Phùng Tường Vân khiến tôi lại phải đi tra tự điển. Mấy cuốn sau đây mà tôi hiện có không ghi hai chữ “chí ít” : Huỳnh Tịnh Của, Khai Trí Tiến Đức, Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm, Lê Văn Đức-Lê Ngọc Trụ, Otto Karow. Chỉ có quyển của Hoàng Phê là ghi “chí ít: khẩu ngữ, thường đi với cũng) (Mức độ đạt được) ít nhất. Chí ít cũng có hàng trăm người dự. Không xuất sắc thì chí ít cũng khá.
    Vậy có lẽ “chí ít” không mới nhưng dân miền Nam ít khi dùng?

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...