talawas blog

Chuyên mục:

Friedrich August von Hayek – Sự ngụy tạo tri thức (kỳ 1)

31/05/2010 | 7:00 sáng | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Đinh Tuấn Minh

Chuyên mục: Kinh tế - Môi trường, Thế giới
Thẻ:

(Thuyết trình tại Lễ trao giải Nobel, ngày 11-12-1974)

Đinh Tuấn Minh dịch

Tóm tắt: Hiện tượng thất nghiệp trên diện rộng hiện nay có nguyên nhân sâu xa từ việc áp dụng phương pháp nghiên cứu duy khoa học trong các lý thuyết kinh tế học phổ biến gầy đây. Đó là phương pháp nghiên cứu bắt chước phương pháp nghiên cứu dựa trên khả năng đo lường chính xác, được xem là thành công trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, các hiện tượng kinh tế nói riêng và các hiện tượng xã hội nói chung là các hiện tượng phức, nơi khả năng đo lường các khía cạnh của hiện tượng bị hạn chế. Vì thế, việc bắt chước áp dụng các phương pháp nghiên cứu thành công trong lĩnh vực tự nhiên vào lĩnh vực xã hội tất sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại cho nền văn minh của loài người.

Có hai lý do khiến tôi khó có thể khước từ lựa chọn chủ đề này. Thứ nhất đây là cơ hội đặc biệt để trình bày. Tiếp đến, đây là thời điểm mà các nhà kinh tế học đang phải đối mặt với vấn đề thực tiễn cơ bản. Dưới con mắt của công chúng, việc trao giải Nobel cho chuyên ngành khoa học kinh tế gần đây chứng tỏ chuyên ngành này đã có những tiến bộ đáng kể, đáng được ghi nhận và kính trọng tương tự như các nghành khoa học tự nhiên. Và tại thời điểm này, công chúng đang trông đợi các nhà kinh tế đưa ra các giải pháp để giúp cho thế giới tự do tránh khỏi sự đe dọa nghiêm trọng của nạn lạm phát đang gia tăng; và chúng ta phải thừa nhận rằng nguyên nhân của vấn nạn này bắt nguồn từ các chính sách được đa số các nhà kinh tế khuyến nghị, thậm chí thúc giục, chính phủ theo đuổi. Thực sự thì hiện tại chúng ta chẳng có gì đáng để tự hào: chúng ta, những chuyên gia kinh tế, đã làm mọi thứ trở nên hỗn loạn.

Theo tôi, việc các nhà kinh tế học thất bại trong việc đưa ra chính sách tốt có quan hệ chặt chẽ với khuynh hướng bắt chước gần như y nguyên các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong các ngành khoa học tự nhiên. Mặc dù các phương pháp này đã thành công rực rỡ trong đúng lĩnh vực của nó, nhưng việc cố gắng bắt chước chúng trong lĩnh vực của chúng ta có khả năng dẫn đến những sai lầm khôn lường. Đó chính là cái cách tiếp cận mà tôi gọi là “duy khoa học” và cách đây 30 năm tôi đã viết về nó như sau: “Là hoàn toàn phi khoa học theo nghĩa đen của ngôn từ, bởi nó liên quan tới việc ứng dụng một cách máy móc và thiếu tính phê phán các thói quen tư duy hình thành trong lĩnh vực này vào các lĩnh vực khác”[1]. Trong bài thuyết trình ngày hôm nay, cho phép tôi bắt đầu bằng việc lý giải tại sao việc áp dụng cách tiếp cận ‘duy khoa học’ sai lầm này lại trực tiếp gây ra một số sai lầm chết người trong chính sách kinh tế gần đây.

Lý thuyết dẫn dắt chính sách tài chính và tiền tệ trong 30 năm qua có thể gói gọn lại trong một mệnh đề như sau: tồn tại mối tương quan thuận chiều giản đơn (simple positive correlation) giữa tổng lực lượng lao động và tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ. Đây là lý thuyết mà tôi cho rằng là sản phẩm của cách tiếp cận “duy khoa học” sai lầm nói trên. Lý thuyết này khiến chúng ta tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể đảm bảo được tình trạng toàn dụng lao động bằng cách duy trì tổng chi tiêu danh nghĩa (total money expenditure) ở một mức độ thích hợp. Có rất nhiều lý thuyết khác nhau được đưa ra để lý giải tình trạng thất nghiệp lan tràn, nhưng đây có lẽ là lý thuyết duy nhất được hỗ trợ mạnh mẽ bằng các bằng chứng định lượng. Tuy nhiên, tôi coi đây là một sai lầm cơ bản và việc áp dụng lý thuyết này, như giờ đây chúng ta nhận thấy, dẫn đến những hậu quả rất tai hại.

Vậy vấn đề cốt yếu ở đây là gì? Không giống như trong khoa học tự nhiên, trong kinh tế học cũng như trong những ngành học thuật phải giải quyết những hiện tượng có bản chất phức, số lượng các khía cạnh của sự kiện đang xem xét có thể thu thập được dữ liệu định lượng thường rất hạn chế, và có thể đấy lại là các khía cạnh không quan trọng. Trong khi trong các ngành khoa học tự nhiên, chúng ta thường giả định, với lý do xác đáng, rằng bất kỳ yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với sự kiện đang xem xét đều có thể quan sát và đo lường trực tiếp được, thì chúng ta lại hầu như không thể làm được như vậy trong nghiên cứu các hiện tượng phức, chẳng hạn thị trường, bởi thị trường là hiện tượng phụ thuộc vào hành động của nhiều cá nhân, là kết quả của một quá trình được quyết định bởi vô vàn các yếu tố mà chúng ta rất khó biết được tường tận và đo lường đầy đủ. Và trong khi nhà nghiên cứu trong các ngành khoa học tự nhiên có thể, trên nền tảng một lý thuyết tạm được chấp nhận là đúng (prima facie theory), đo lường được những yếu tố mà anh ta cho là quan trọng, thì trong các ngành khoa học xã hội thường chỉ những gì có thể đo lường được mới được anh ta coi là quan trọng. Và điều này đôi lúc đẩy người ta tới chỗ phải xây dựng các lý thuyết về xã hội theo hướng chỉ bao gồm các yếu tố đo lường được.

Đòi hỏi kiểu như vậy, không nghi ngờ gì, đã loại bỏ một cách khá tùy tiện những dữ kiện (facts) được thừa nhận có thể là nguyên nhân của sự kiện diễn ra trong thực tế. Quan điểm này, một quan điểm thường được dễ dãi chấp nhận như là điều kiện bắt buộc của một quy trình khoa học đúng đắn, đã dẫn đến một số hậu quả khá nghịch lý. Dĩ nhiên, chúng ta biết rằng đa phần các dữ kiện liên quan đến thị trường và những cấu trúc xã hội tương tự là không thể đo lường được; thực ra, chúng ta chỉ biết một số ít thông tin khái quát và thiếu chính xác về chúng. Và bởi ảnh hưởng của các dữ kiện này trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào đều không thể xác nhận được bằng bằng chứng định lượng, chúng đơn giản sẽ bị những người tuân thủ qui tắc khoa học chỉ chấp nhận những cái được chứng thực bằng bằng chứng định lượng bỏ qua: những người này tiếp tục hài lòng với câu chuyện rằng chỉ những yếu tố có thể đo lường được mới là những thứ có liên quan.

Chẳng hạn, mối tương quan giữa tổng cầu và tổng lực lượng lao động có thể chỉ mang tính tương đối, nhưng vì đó là mối quan hệ duy nhất chúng ta có dữ liệu định lượng nên nó được chấp nhận như là mối quan hệ nhân quả duy nhất có ý nghĩa. Nếu dựa trên chuẩn mực [định lượng] này, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy bằng chứng “khoa học” có lợi cho một lý thuyết sai lầm  thay vì cho một lý thuyết đúng đắn; lý thuyết sai lầm được chấp nhận vì nó có vẻ “khoa học” hơn, còn lý thuyết đúng đắn bị bác bỏ vì thiếu bằng chứng định lượng ủng hộ.

Để minh họa điều này, tôi xin trình bày ngắn ngọn nguyên nhân chính gây ra nạn thất nghiệp trên diện rộng; việc chỉ ra nguyên nhân này cũng là lời giải đáp cho câu hỏi tại sao không thể giải quyết được vĩnh viễn vấn đề thất nghiệp bằng chính sách lạm phát theo khuyến nghị của lý thuyết đang thịnh hành. Theo tôi, nạn thất nghiệp tồn tại là vì có những bất tương thích giữa: (i) phân bố cầu (distribution of demand) giữa các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau và (ii) phân bổ lao động và các nguồn lực khác cho việc sản xuất ra các sản phẩm đầu ra đó. Chúng ta có hiểu biết “định tính” khá tốt về các lực lượng làm cho cung và cầu trong các khu vực khác nhau của hệ thống kinh tế tương thích nhau, về các điều kiện để sự tương thích đó diễn ra, và về các yếu tố có thể cản trở quá trình dẫn đến sự tương thích đó. Các bước lý giải quá trình này phụ thuộc vào các dữ kiện được trải nghiệm thường ngày, và nếu có cảm thấy thấy khó tiếp thu cách lập luận thì hiếm ai lại tỏ ra nghi ngờ về tính hợp lệ của những giả định thực tiễn (factual assumptions) hoặc tính đúng đắn về mặt logic của các kết luận được rút ra từ đó. Thực chất, chúng ta có cơ sở vững vàng để tin rằng nạn thất nghiệp là một chỉ dấu cho thấy cấu trúc các mức giá và tiền lương tương đối đã bị méo mó (thường do độc quyền hoặc chính sách ấn định giá của chính phủ) và việc lập lại cân bằng cung cầu về lao động trong tất cả các ngành nghề kinh tế đòi hỏi phải có những thay đổi các mức giá tương đối và sự chuyển dịch lao động [giữa các ngành nghề - ND].

Nhưng khi bị yêu cầu cung cấp bằng chứng định lượng về cấu trúc cụ thể của các mức giá và tiền lương cần thiết nhằm đảm bảo cho việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ được diễn ra suôn sẻ thì chúng ta buộc phải thừa nhận là chúng ta không hề có thông tin kiểu như vậy. Nói cách khác, chúng ta biết các điều kiện chung để cái gọi là (diễn đạt hơi thiếu chuẩn xác một chút) điểm cân bằng tự hình thành, nhưng chúng ta lại không bao giờ biết được các mức giá và tiền lương cụ thể là bao nhiêu nếu giả dụ thị trường đạt tới điểm cân bằng. Chúng ta chỉ có thể phát biểu về các điều kiện tại đó chúng ta có thể mong đợi thị trường hình thành các mức giá và tiền lương tại đó cung và cầu cân bằng. Nhưng chúng ta có thể không bao giờ đưa ra được số liệu thống kê thể hiện mức độ chênh lệch của các mức giá và tiền lương hiện hành so với các mức giá và tiền lương cần thiết để bảo đảm việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ diễn ra liên tục tương ứng với mức cung lao động hiện hành. Mặc dù cách lý giải này về các nguyên nhân gây ra nạn thất nghiệp là một lý thuyết thực nghiệm, theo nghĩa nó có thể bị phủ chứng, chẳng hạn, nếu chúng ta thấy, với một lượng cung tiền không đổi, việc tăng tổng thể các mức tiền lương không dẫn tới nạn thất nghiệp, nhưng dĩ nhiên nó không phải là thứ lý thuyết mà chúng ta có thể vận dụng để đưa ra những tiên đoán với những con số cụ thể về các mức tiền lương, hoặc sự phân phối lao động, trong tương lai.

Nhưng tại sao trong kinh tế học chúng ta buộc phải chấp nhận sự thiếu hiểu biết về loại dữ kiện mà các nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên chắc chắn sẽ đưa ra được thông tin chính xác? Không có gì đáng ngạc nhiên nếu như những người đã bị sự thành công của các ngành khoa học tự nhiên chinh phục tỏ ra không hài lòng với quan điểm này và do vậy vẫn nhất quyết theo đuổi các chuẩn mực thực chứng theo kiểu của các ngành khoa học tự nhiên. Nguyên do của tình trạng này là, như tôi đã đề cập ngắn gọn ở trên, các ngành khoa học xã hội, rất giống với ngành sinh vật học nhưng không giống hầu hết những ngành khoa học tự nhiên khác, phải đương đầu với các cấu trúc có bản chất phức, nghĩa là các cấu trúc mà ta chỉ có thể mô tả được các thuộc tính đặc trưng của chúng bằng các mô hình chứa đựng một số lượng tương đối lớn các biến số. Chẳng hạn, cạnh tranh là một quá trình sẽ mang lại những kết quả nhất định nếu diễn ra giữa một số đủ lớn những đối tượng tham gia.

Trong một số lĩnh vực, cụ thể trong những ngành khoa học tự nhiên, có các hiện tượng phức tương tự, ta có thể vượt qua những khó khăn trong việc thu thập thông tin cụ thể về từng phần tử riêng lẻ bằng cách sử dụng các dữ liệu về tần suất tương đối, hoặc xác suất, xuất hiện các tính chất riêng biệt khác nhau của các phần tử đó. Nhưng điều này chỉ đúng trong trường hợp chúng ta nghiên cứu cái gọi là “các hiện tượng phức phi tổ chức”, như cách phân biệt được biết đến rộng rãi của tiến sĩ Warrant Weaver (trước đây thuộc Rockefeller Foundation), chứ không phải “các hiện tượng phức có tổ chức” mà chúng ta phải nghiên cứu trong các ngành khoa học xã hội[2]. Tính phức có tổ chức ở đây có nghĩa là đặc tính thể hiện sự phức tạp của các cấu trúc phụ thuộc không chỉ vào các tính chất của các phần tử đơn lẻ hợp thành chúng và tần suất tương đối phát sinh các tính chất này, mà còn vào cách thức liên kết giữa các phần tử riêng lẻ đó với nhau. Vì điều này, chúng ta không thể thay thế thông tin cụ thể về các phần tử riêng lẻ bằng thông tin thống kê khi lý giải sự vận động của các cấu trúc đó, và nếu chúng ta muốn lý thuyết của chúng ta đưa ra những tiên đoán cụ thể về các sự kiện riêng rẽ, thì chúng ta buộc phải có thông tin đầy đủ về từng phần tử riêng lẻ. Nếu không có các thông tin cụ thể về từng phần tử riêng lẻ, chúng ta buộc phải giới hạn các tiên đoán của chúng ta chỉ dưới dạng, mà tôi đã từng đề cập trong một tác phẩm khác, tiên đoán mô thức – các tiên đoán về một số trong các thuộc tính chung tự hình thành của các cấu trúc, nhưng không bao hàm các nhận định cụ thể về từng phần tử riêng lẻ cấu thành nên các cấu trúc đó[3].

Điều này đặc biệt đúng đối với các lý thuyết của chúng ta về sự định trị của các hệ thống các mức giá và tiền lương tương đối vốn tự hình thành dựa trên một thị trường hoạt động suôn sẻ (a well-functioning market). Sự định trị các mức giá và tiền lương này phụ thuộc vào các tác động gây ra bởi các thông tin cụ thể do bất kỳ thành viên nào tham gia vào thị trường có được – một tập hợp các dữ kiện mà không một bộ óc hay một nhà khoa học quan sát nào có thể biết được toàn bộ. Thực chất, đó chính là nguồn gốc tính ưu việt của trật tự thị trường, và cũng là lý do tại sao khi không bị quyền lực chính thể ngăn cản, nó thường thay thế các dạng trật tự khác, khiến cho lượng tri thức về các sự việc cụ thể, phân tán trong vô số người, được đem vào sử dụng nhiều hơn bất kỳ cá nhân riêng lẻ nào có thể nắm giữ để phân bổ nguồn lực. Nhưng bởi vì chúng ta, những nhà khoa học quan sát, có thể không bao giờ biết được tất cả các yếu tố quyết định một trật tự như thế, và do đó cũng không thể biết được đâu là cấu trúc cụ thể về các mức giá và tiền lương tại đó cho cung và cầu cân bằng ở mọi nơi, nên chúng ta cũng không thể đo lường được các chênh lệch so với trật tự cân bằng đó; chúng ta cũng không thể thực hiện  kiểm nghiệm thống kê đối với lý thuyết [về thất nghiệp] của chúng ta vì rằng chính các chênh lệch so với hệ thống các mức giá và tiền lương ở trạng thái “cân bằng” là nguyên nhân khiến cho việc bán một số trong các sản phẩm và dịch vụ tại các mức giá chào bán không thể thực hiện được.

(còn tiếp)

Bản tiếng Việt © 2010 Đinh Tuấn Minh

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] “Scientism and the Study of Society”, Economia, tập IX, số 35, tháng 8/1942, được tái bản trong The Counter-Revolution of Science, Glencoe, III., 1952. Đoạn trích nằm trong trang 15 của the Counter- Revolution of Science.

[2] Warren Weaver, “A Quarter Century in the Natural Sciences”, The Rockefeller Foundation Annual Report 1958, chương I, “Science and Complexity”.

[3] Xem bài luận của tôi “The Theory of Complex Phenomena” trong The Critical Approach to Science and Philosophy. Essays in Honor of K.R. Popper, do M.Bunge biên soạn, New York 1964, và được tái bản (có bổ sung) trong cuốn sách của tôi Studies in Philosophy, Politics and Economics, London và Chicago, 1967.

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Friedrich August von Hayek – Sự ngụy tạo tri thức (kỳ 1)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả