talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Thị Hoàng Bắc – Đến rồi đi

02/06/2010 | 12:00 chiều | 38 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Bắc

Chuyên mục: Tổng hợp
Thẻ: >

Ba mươi tháng Tư Đen, tôi đi Hà Nội.

Ấy ấy, các bác chớ có mà nhanh nhẩu phản hồi đoảng là tớ đội mũ ngược bán nước cũ (miền Nam) lươn lẹo cầu vinh với nước mới (miền Bắc), thế ra vẫn là hai nước Việt sao, nhá, chẳng qua là nhà cháu có tí công tác tình cờ rơi vào hai tuần cuối tháng Tư và đầu tháng Năm năm nay ấy thôi…

Thế là cờ đỏ rợp trời Hà Nội, thế là tivi hát hùng ca giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước, nhưng bây giờ nghe không còn sợ giật mình như trước chẳng qua vì… vào thành ra cửa tây, xe ngựa chạy như bay…, nghe hát giải phóng không còn thấy sợ như ngày ấy khi chính quyền ta di tản hết rồi, thành phố lặng yên vắng ngắt, mọi người mọi nhà nằm yên thin thít nín thở như chết, ngoài đường không một bóng xe, bỗng thình lình từ cái loa nào đó vang lên tiếng hát… xác nhận thành phố đã có chủ mới!

Nhưng không sao, mấy loại đài đó là đài dớ dẩn, bấm bấm vài cái sang đài khác chập chờn thì cũng hip hop, hoà nhạc jazz, liên hoan chân dài có Jennifer Phạm nói tiếng Anh như gió, Mr. Đàm mùi mẫn nhạc sến sợ lên trời, lên trên trời… hai đứa hai nơi, nhưng em chỉ muốn làm người trần gian, Ngô Thanh Vân bay lượn Bước nhảy Hoàn vũ, và còn khối gì phim truyện đắc ý để xem. Tôi đi đâu cũng ba chân bốn cẳng về phòng xem tivi để luyện tiếng Việt cho đúng giọng Hà Nội.

Chả bù đêm hôm trước, ra khỏi sân bay Nội Bài, đang phấn khởi đắc ý, lần này mình đi Hà Nội chẳng khác gì Nhất Linh Đi Tây thuở ấy, chỉ không có được cái sướng theo bác Linh là được tha hồ đọc rạng ngày lên bãi hái chè oang oang ngoài phố mà chẳng làm Tây giật mình, mình thì ngược lại, được cái thú tha hồ nói giọng Bắc giả cầy với các cháu lái xe taxi:

“Cháu ơi, cầu này là cầu gì thế cháu?”

“Ủa, nghe cô lói giọng Hà Lội mà cô không phải là người Hà Lội à?”

Buôn dưa lê với cháu nái xe một hồi thì biết cháu quê ở Quảng Linh, trước nái xe tải, bây giờ thì chuyển qua nái taxi, ít tiền hơn nhưng đỡ mệt hơn, hai tư tuổi mà đã vợ hai con v.v… Sau hai tuần ở Hà Nội, Hạ Long, Ninh Bình, gặp gỡ, tán chuyện tầm phào với người này người kia thì thấy họ tỉnh bơ bờ dậu cho rằng Quảng Linh là Quảng Linh chứ làm gì có tỉnh nào tên là Quảng Ninh, Hạ Long thì tuy có cái bảng to đùng ra đấy nhưng vài người ngoan cường vẫn bảo là Hạ Nong.

Đi city tour thì tất nhiên phải có đi thăm Lăng Bác, vào thăm lăng bác âm u, các chị bộ đội dở mu ra chào, trời nắng, tôi không phải bộ đội nhưng chưa kịp dở nón nên bị anh cảnh vệ dữ dằn lừ mắt phất tay ra hiệu. Tôi thấy Bác nằm nghiêm trang, hồn hậu, đèn mờ nên mặt như mặt sáp, sau này vào xem ông Mao ở Trung Quốc cũng thấy không biết đâu là thật đâu là giả, nhưng nói chung, Bác Hồ mình đẹp trai hơn Bác Mao, theo tôi. Khu nhà ở của Bác nguy nga bát ngát, người tour guide nói tiếng Anh giới thiệu đây là nhà cũ của French Ambassador, một tên Tây trong đoàn xì xào, dạo đó Việt Nam là thuộc địa của Pháp thì làm sao có đại sứ?

Cụ già xứ Nghệ sống thanh đạm và có vẻ lặng lẽ, tủ sách nhỏ, vài quyển sách cũ đã tróc gáy, sờn bìa, thậm chí mất cả bìa, giấy ố vàng rất giống mấy quyển sách của ông già tôi khi ông về hưu; vườn hoa, ao cá, nhà sàn, khu vườn mênh mông, nếu hồi ký sách vở của vài nhân vật thân cận Bác nói đúng thì những năm cuối đời không được các đồng chí cho tham gia việc nước, suốt ngày cứ ra vào vỗ tay nói chuyện với cá không biết nói chỉ biết đớp mồi, ông cụ sống cô tịch lặng lẽ mà lại không được la đà tiêu dao thoải mái rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp, gót sen theo đủng đỉnh một đôi dì, vừa hé ra một dì Xuân gì đấy đã bị Bộ Chính trị tàn sát ngay, tôi thấy tội nghiệp Bác, sống thế có khác gì Bác đang bị cầm tù… Tuổi già của mọi người, dù là của một người thông minh kiệt xuất như ông cũng không hơn gì bọn dân ngu như tôi, rồi mình sẽ có chuyện để tự an ủi nếu lỡ có buồn khi về hưu bị ngồi một mình…

Một người phụ nữ bán hàng rong

Văn Miếu

Hà Nội ba mươi sáu phố phường không lớn, không trẻ trung, nhà cao cửa rộng hiện đại như Sài Gòn nhưng rất giống Rome, Bắc Kinh, Paris ở vẻ cổ kính đan xen với hiện đại. Chùa Trấn Bắc, trấn bắc hành cung cảnh dãi dầu, Ô Cầu Giấy Henri Rivière bị Cờ Đen giết, người anh hùng áo vải nửa đêm trừ tịch định ngày xuất chinh kéo một mạch quân ra Bắc rượt Tôn sĩ Nghị chạy te, bỏ mặc lính hắn nghẽn cầu chết chôn thành Gò Đống Đa, Quốc Tử Giám, một thời sĩ tử ưu tú khăn xếp áo the trang nghiêm đến nghe giọng giảng bài sang sảng của các bậc danh nho. Nói về cái giọng danh nho sang sảng một thời của Hà Nội chắc phải nhắc đến bác Bô-xít Nguyễn Huệ Chi thôi. Bác gầy, tầm thước, tôi đã gặp mấy lần ở Mỹ, gặp lại bác vẫn vậy, hồn nhiên, thư sinh, và hùng hồn sang sảng, nói hồn nhiên vì khi nghe chúng tôi đến, bác Chi chơi nguyên một bộ pyjama, một ống quần xăng lên, một ống bỏ xuống, ra đến tận đầu ngõ đứng chờ (nhà của bác Chi và bác Dương Tường đều là những căn nhà đẹp và đều ở trong ngõ,) vào nhà, sẵn gặp một đám khách đang sẵn sàng hóng chuyện, bác sang sảng hùng hồn kể một lèo chuyện bị công an lôi lên làm việc vì cái website bauxite, nhưng lại được công an tặng rượu quý sau đó; đến khi chúng tôi đề nghị chụp ảnh trong nhà thì bác đi thay một bộ đồ áo sơ mi và quần tây mới toanh cáo cạnh, còn nguyên cả giấy nhãn hiệu vướng ở cổ lòng thòng. Tôi nghe bác gọi vợ bằng tên: “này Hương (?), vào chụp ảnh đi!” tôi nghe không rõ lắm tên bác gái, nhưng cách xưng hô của một cặp vợ chồng lớn tuổi đã từng là mối tình sinh viên nghe vẫn nhẹ nhàng trong sáng và… hấp dẫn như của một cặp tình nhân trẻ. Ra đến cửa tôi được Nguyễn Thị Minh Hà ở Nhà xuất bản Phụ Nữ cho biết thêm thông tin, bác gái là Nguyễn Kim Hưng cũng là một chuyên gia Hán-Nôm của Hà Nội.

Hai gian nhà là thư viện tư gia Hán-Nôm của Nguyễn Huệ Chi thì khỏi nói, mai sau dầu có bao giờ mong sẽ được bảo quản tốt hơn tủ sách của thầy Vương Hồng Sển hiện nay ở miền Nam.

Nói về bảo quản di tích ngàn năm Thăng Long thì chỉ có Lăng Bác là vào hạng nhất, nhưng xác của Bác thì nghe đâu tháng 10 này lại phải đem đi Nga để bảo quản lại. Ở khu triển lãm các dạng nhà cổ, nhà sàn dân tộc thì nhân viên tỉnh bơ nấu ăn thật ngay trong bếp thiết kế giả, vài người lăn kềnh ra soải tay soải chân nằm ngủ tự nhiên trên sạp tre, mặc kệ du khách tò mò xem xét ngắm nghía, cứ ngỡ họ làm mẫu minh hoạ người Việt cổ, nhưng ngó lại không phải vì họ đang ăn mặc… giống như tôi, ở Quốc Tử Giám, tôi thấy các cánh cửa gỗ bị long ốc ra, những con ốc cũng bằng gỗ của một thời văng đâu mất tiêu, cánh cửa bị dẹp qua bên xếp xó bụi bám để dành chỗ bày hàng bán các món rùa giả, bia tiến sĩ bằng plastic… cho khách du lịch. Cũng ở đó, không ai quắc mắt tôi phải dở nón ra khi vào nơi trang nghiêm, nên cha mẹ các em nhỏ tha hồ dạy con (làm cái phép) đến sờ đầu, cỡi cổ rùa đá để chụp ảnh (sau này bất chiến tự nhiên thành, học lai rai cũng có tiến sĩ hay phó tiến sĩ?) Nhiều bia tiến sĩ đã mờ chữ đi một nửa, có tấm mòn gần hết, trong khi sách của cụ Hồ có long gáy hay mất bìa cũng vẫn được an toàn nằm kín trong tủ khoá chẳng làm sao mà đụng đến được!

Tôi đến Hà Nội cũng hơi… trật đường rầy. Xem thời tiết trước ở internet thì thấy rất nóng, chỉ toàn mang áo quần ngắn tay ngắn chân, ai ngờ đến nơi lại rét nàng Bân thế là tha hồ run cầm cập. Nhưng sau đó ghé chơi thăm công ty của Nguyễn Thuỵ Kha và Trần Thị Trường được mời ăn bánh trôi thân em vừa trắng lại vừa tròn mà Trần Thị Trường nói là nhân dịp tết Hàn thực là tết ăn đồ lạnh, tại trời nóng quá phải ăn đồ lạnh cho mát hay tại để nhớ ông Khuất Nguyên? Tôi đem ý này hỏi một cháu nái xe khác, cháu nói, là tết thì ăn tết thế thôi, chả biết ông nào với bà nào, và gọi điện nhắc vợ ngay “em ơi, hôm nay tết hàn thực đấy nhé!” Ở miền Nam tôi chưa hề ăn tết này nên thấy người Hà Nội rất cổ truyền. Cũng phải thôi, sống giữa một miền núi non đan xen quá khứ và hiện tại gần gũi chen lẫn gắn bó như thế, con người hồn nhiên sống với lịch sử và Hà Nội tương tự với Huế, có thể bảo thủ một chút, nhưng phong cách bảo vệ cổ truyền hơn hẳn những miền khác của đất nước, trong một ý nghĩa tích cực.

Ba má tôi từ miền Trung vào Nam lập nghiệp đã lâu, sinh đẻ anh chị em chúng tôi ở Sài Gòn, chúng tôi đi học ở Sài Gòn, Đà Lạt, Nha Trang, lớn lên tôi lại có việc làm và gia đình ở Nha Trang, những di tích lịch sử của tôi cũ lắm là Lăng Ông Lê văn Duyệt, sau đó là mấy cái tháp Chàm, tôi đi qua đi lại chỉ thấy hơi mặc cảm chút xíu là mình chiếm nước người ta lại còn diệt chủng họ nữa thì chẳng có gì đáng tự hào, Lăng Ông thì tôi buồn vì cách xử sự tàn ác với nhân tài của một ông vua xứ Huế của mẹ tôi.

Nhưng đến Hà Nội thì tôi thấy cái gì là cội nguồn, cái gì là lịch sử, và cái gì là các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải ra công giữ nước. Khi lên biên giới đến xem Hữu Nghị Quan thấy cột mốc biên giới quả có bị lùi lại thật, quả các đồng chí công an Trung Quốc có dương oai diệu võ thật, người nói câu nói trên dù có là ai đi nữa cũng không thể bị/được gọi bằng những từ xỏ xiên như già hồ, cáo hồ, giặc hồ, con hoang của Hồ Sĩ Tạo… như trưa nay khi về lại Mỹ, đi ăn trưa với vài người bạn tôi nhặt được trong mấy tờ báo tiếng Việt địa phương ở đây sử dụng, cũng vẫn cái luận đề sát cộng, diệt cộng năm mươi năm trước sặc mùi máu, mà máu của ai đây mới được chứ, máu đã đổ thành sông thành biển, tám mươi tám triệu người trong nước không ai đọc, không ai viết, không ai suy nghĩ, không ai chia sẻ những gì như ghetto người Việt ở đây viết dai, nói dài, đọc dở. Chúng ta đang tự đóng cửa rút cầu, tự cô lập, tự xa lạ mình với tổ quốc, đất nước gốc, với đồng bào ta để làm gì vậy?

Tôi không ngạc nhiên khi nghe nói đến vô số lực lượng đối lập võ mồm mà các bậc thân hào nhân sĩ người Việt nước ngoài lớn tiếng kêu gọi, ở nước ngoài quý ông bà anh chị muốn nói gì thì nói, công an có sờ gáy bắt bớ đụng đến cọng lông chân nào của anh chị đâu, nói cho vui, cho nổi bật, để xả stress, để tự sướng thì dễ, nhưng nói và được lắng nghe thì khó lắm, quý ông Lê Xuân Khoa, Nguyễn Hữu Liêm, Đỗ Kh., Nguyễn-Khoa Thái Anh… lâu lâu cũng vì mấy cái vụ này mà bị phản hồi lăng mạ tơi bời. Trong nước nghe các anh chị Nguyễn Huệ Chi, Đà Linh, Trần Thị Trường kể chuyện chạm trần mà không vượt ngưỡng, chuyện công an văn hoá làm việc mới là ghê. Lần tổ chức ra mắt quyển Thơ đến từ đâu đã phải làm như đánh du kích không bằng, và banderole giới thiệu đã phải thay đi đổi lại mấy lần để… thoát. Tuy nhiên, so với cái lần đã lâu rồi, thuở nhà thơ Đỗ Kh. cầm bản thảo tập hợp những truyện ngắn trong và ngoài nước do nhóm Hợp Lưu Nhật Tiến, Khánh Trường chủ trương đưa về cho nhà văn Hoàng Lại Giang in và đã không thành, Đỗ Kh. thì lại bị công an theo sát nút, coi như Nguyễn Đức Tùng và số phận Thơ đến từ đâu lần này gặp may mắn hơn, để may ra Trần Thị Truờng lấy lại vốn chút chút vì đã chơi ngông tung tiền ra xuất bản. Ở Việt Nam, chưa có nhà xuất bản tư nhân, muốn in sách báo phải hợp đồng với nhà xuất bản của nhà nước, và trường hợp Thơ đến từ đâu là hợp đồng của công ty Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Thị Truòng ký với nhà xuất bản Lao Động. Nhưng đạt được hợp đồng hay chịu ký hợp đồng in sách tư nhân lại là một chuyện khá gay go, bây giờ tôi mới hiểu tại sao ông Đặng Tiến bảo phải đánh giá cao nhà xuất bản Lao Động trong trường hợp này.

Tác giả (trái) cùng dịch giả Đoàn Tử Huyến, ba người bạn Mỹ và nhà văn Đà Linh tại Nhà sách Đông-Tây

Nhưng tiệm sách tư nhân thì khá lớn và khang trang mà lại có phong thái ấm cúng, sang trọng và tất nhiên có cá tính riêng tây hơn những hiệu sách Tràng Thi hay Fahasa của nhà nước. Tôi tình cờ có dịp đến dự buổi ra mắt sách của nhà văn trẻ Linh Lê ở hiệu sách Đông Tây của dịch giả Đoàn Tử Huyến, thấy đông đảo độc giả đến dự, mua sách, ký sách, trao đổi, chuyện trò rôm rả mà thèm. Vì là nơi hội tụ nhân sĩ Bắc nên đã được gặp và nghe các bài nói chuyện và giới thiệu về sách vở quan trọng của Phạm Xuân Nguyên, Lê Anh Hoài, gặp mặt Đà Linh, Đoàn Tử Huyến, Trần Thị Trường và diễn viên Xuân Tóc Đỏ một thời và bây giờ anh đang là đạo diễn một số phim tài liệu và phim truyền hình…

Tháng Năm, Hà Nội lại nóng như điên. Tôi ra Hồ Gươm ngồi hóng mát một mình, liễu rũ la đà, nước đậm rong rêu, chờ mãi chả thấy hậu duệ rùa nào của cụ-rùa-ngậm-gươm năm xưa xuất hiện, trai thanh gái tú Hà Nội bây giờ tây hơn Tây cặp kè khoác vai ôm ấp thoải mái nơi ghế đá, một bác gái ngồi cạnh, áo cánh trắng, quần đen ống rộng, và ngắn như thời bao cấp thiếu vải, tay phe phẩy cái quạt giấy màu tím, tôi buôn dưa lê với bác đỡ buồn.

Tôi quên rồi, nguời Việt mình hay hỏi tuổi người khác thẳng tưng, bác hỏi tôi:

“Năm nay bác bao tuổi rồi?”

Tôi giật mình nhưng lanh miệng phịa:

“Tôi tuổi Dần.”

Bác gái lẩm nhẩm tính, mới biết bác khoảng sáu mươi, trẻ tuổi hơn tôi. Trời ạ, mà tôi lại quần jean áo sơ mi ngắn tay sọc kẻ. Thấy một cái quạt đan bằng lát rất đẹp tôi mua chơi nhưng rồi chỉ vứt ở khách sạn không dám phe phẩy mang theo đi ngoài đường sợ thấy mình giống ông địa, bác gái nói, bác nói giọng Bắc lơ lớ giọng Nam nhỉ, tôi bảo vâng, tôi ở trong Nam ra chơi, bác bảo giời nóng thế này hiệu tôi bán chăn đệm ga nên cũng ế ẩm lắm nên mới ra đây ngồi chơi một chốc; một chị bán quà rong mời chúng tôi mua quả dứa, hồng xiêmna mà ăn cho mát; chị khác đi buôn đồ đồng nát ghé lại góp chuyện thì lại khuyên tôi nên ăn thử quả mã tử mát hơn. Nếu tôi phiên dịch các câu chuyện này ra tiếng Nam thì phải nói thế này: trời nóng như zầy, tiệm bán mền gối khăn giường của tui ai mà mua, mời hai cô mua trái thơm, lồng mứctrái mảng cầu, còn chị bán ve chai thì khuyên nên ăn củ năng cho mát người hơn.

Và thế nghĩa rằng thì là… tôi đang hiểu và biết nói được đến… hai thứ tiếng Việt! Ba mẹ tôi là người Trung, tất nhiên tôi sẽ dễ dàng hạ sang tone nặng trịch, rứa là tui nọi được tợi ba thự tiệng Việt rồi đó nghẹ. Thời buổi toàn cầu hoá, khuynh hướng nổi bật hiện nay là mỗi người nên tự trang bị cho mình ít nhất là hai sinh ngữ, bilingual, cho nó văn minh văn hoá, tôi thấy yên chí lớn, vì với khả năng nghe và nói tiếng Việt vừa rồi, tôi đã là multilingual rồi còn gì.

Khoẻ re, khoẻ re… như con bò kéo xe, người lần đầu đến rồi đi từ Hà Hà, Nội Nội!

Virginia, tháng 5/ 2010

(Ảnh trong bài của tác giả)

© 2010 Nguyễn Thị Hoàng Bắc

© 2010 talawas

Phản hồi

38 phản hồi (bài “Nguyễn Thị Hoàng Bắc – Đến rồi đi”)

  1. Hoàng Trường Sa nói:

    Để minh họa cho tính BẤT LƯƠNG của tuyên truyền của ĐCSVN về “căn cước và vị trí của Người Việt hải ngoại” tôi xin trình bày với quý vị về cuốn sách xuất bản tại VN năm 2003 do Nhà xuất bản Đà Nẵng (CHXHCN VN) ấn hành nhan đề “ TRÊN ĐẤT MỸ (Người Việt ỏ Mỹ viết về Mỹ, viết về mình)” của “Nhiều tác giả” do Đỗ Quang Hạnh tuyển chọn và giới thiệu.

    Khi gõ những dòng này, cuốn sách nói trên đang ở trước mặt tôi. Đây thật ra là những truyện ngắn đăng trên trang Web Việt Báo bên Mỹ do các tác giả người Việt ở Hoa Kỳ tham gia vào cuộc thi viết văn “Giải thưởng Việt Báo” đóng góp. Ông Đỗ Quang Hạnh đã làm một việc duy nhất là chọn ra một số bài mà ông ưng ý (tôi đếm được cả thảy là 46 bài) đem in thành sách bán kiếm tiền (không biết có viết thư xin phép các tác giả hay không). Cuốn sách này tôi đang cầm trong tay giá $16 đô la Úc (tôi mượn từ Thư viện Marickville ở Sydney). Điều DUY NHẤT ông Đỗ Quang Hạnh làm là viết LỜI GIỚI THIỆU, tả oán lý do tại sao phải xuất bản cuốn sách này xong đem in. Chấm hết.

    Nhưng điều BẤT LƯƠNG, DỐI TRÁ nằm trong đoạn sau đây trong phần Giới Thiệu sách của ông ĐQH (nếu ta tạm bỏ qua việc sử dụng bài vở của người khác một cách bất hợp pháp) mà tôi chép lại NGUYÊN VĂN trên trang 8 (chữ in hoa là do tôi thực hiện để nhấn mạnh):

    “Nhận thấy có nhiều bài viết sống động và thực tế về đời sống người Việt tại Mỹ cũng như sự mô tả nhiều góc cạnh được trải nghiệm bằng mồ hôi và cả nước mắt về nước Mỹ hiện tại, tôi đã BIÊN SOẠN tập sách này. VỚI QUAN ĐIỂM TÔN TRỌNG CÁC TÁC GIẢ Ở MỨC CAO NHẤT, NHƯNG NẾU CÓ NHỮNG GÌ TRONG BÀI VIẾT CÓ THỂ LÀM BẠN ĐỌC TRONG NƯỚC KHÓ THÔNG CẢM CŨNG NHƯ KHÔNG CÓ LỢI CHO SỰ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THÌ XIN MẠN PHÉP LƯỢC BỎ. Điều quan trọng hơn cả là mục đích của tập sách, bởi lẽ dù những người Việt ở Mỹ hiện mang quốc tịch Mỹ, hay mới có “thẻ xanh” (Green Card) hoặc vẫn chưa nhập tịch Mỹ, vẫn là “đồng bào”, con cùng mẹ, Mẹ Việt Nam”. (Đỗ Quang Hạnh)

    Đấy, từ đây ta có thể suy nghĩ thêm về dự án “căn cước và vị trí người Việt hải ngoại” do các công dân nước CHXHCN VN thực hiện bất cứ tại nơi nào trên quả đất.

  2. nguyen mai linh nói:

    Xã hội nào con người nấy

    Trích [Về sau tôi mới biết động cơ của việc phản đối này của người xướng xuất vốn liên quan đến một vài đòi hỏi riêng tư nào đấy, mà nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như là việc xin ở lại làm giảng viên Trường Massachussetts và cả xin vào làm nhân viên của WJC của ông Luyện đều không có kết quả. Đơn giản chỉ có thế] Ngưng trích

    Tôi không ngờ đây là câu phát biểu của vị học giả đáng kính Nguyễn Huệ Chi. Chẳng nhẽ, giành giựt là mục tiêu tối thượng của con người sao?

  3. 1mitee nói:

    Kính gửi: Các Bác Trần Văn Tích và Hoàng Trường Sa

    Tôi đã đọc các bài “ĐỌC, VIẾT VÀ HỎI THEO CHỈ ĐẠO” của bác Trần Văn Tích và bài “Ngẫm nghĩ về ba tư cách văn hóa của tôi trong những ngày làm việc ở William Joiner Center” của ông Nguyễn Huệ Chi do bác Hoàng Trường Sa giới thiệu.

    Trước hết xin nói đôi điều tôi tìm hiểu được về William Joiner Center thuộc trường đại học University of Massachusetts, Boston, chuyên nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả xã hội. Kevin Bowen là giám đốc và Nguyễn Bá Chung hiện là điều hợp viên các chương trình giao lưu văn hóa, thi ca với Việt Nam. Kevin Bowen phục vụ ở VN 1968-1969, còn Nguyễn Bá Chung thì du học ở Mỹ trước 1975.

    Trung tâm này nhận tài trợ từ các chương trình của chính phủ Hoa Kỳ như National Endownment for the Arts hay các quỹ tư nhân như Rockefeller Foundation. Đặc điểm của các sinh hoạt hàn lâm của trung tâm này là phản chiến, khuynh tả và phóng túng (liberal) như phần lớn các cơ sở tương tự ở các trường đại học, nhất là ở Boston, Massachusetts. (Ở miền trung tây Hoa Kỳ thì có University of Wisconsin at Madison, còn miền Tây thì có University of California at Berkeley.)

    Qua Nguyễn Bá Chung, WJC đã mời Lê Lựu, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Duy, Tô Nhuận Vĩ, Lâm Thị Mỹ Dạ v.v. sang thăm hay ở lại làm việc tại trung tâm này.

    Đặc biệt người đầu tiên sang Mỹ là Lê Lựu, tác giả Thời Xa Vắng đã được Nguyễn Bá Chung dịch sang tiếng Anh, sau khi sang thăm Massachusetts trở về Hà Nội đã viết một bài về tình trạng xã hội tiểu bang Massachusetts với nhiều dối trá và bịa đặt đã bị tác giả Trần Trung Đạo phê bình nặng nề trong một bài viết trong bộ cũ talawas.

    Riêng đối với dự án “Constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora – Tạo dựng căn cước và vị trí Người Việt hải ngoại”, nay thấy kết quả nghiên cứu của hai ông NHC và HNH về dự án này, tôi phải lấy làm xấu hổ vì sự bất lương trí thức (intellectual dishonesty): Như ông Trần Văn Tích đã vạch ra trong số thư mục 41 tác phẩm tham khảo thì hết 16 quyển là của TT Nhất Hạnh và 4 quyển của Nguyễn Hiến Lê! TT Nhất Hạnh thì không phải là người tỵ nạn Việt cộng như đại đa số người Việt hải ngoại và ông Nguyễn Hiến Lê thì đã mất từ lâu!

    Vậy thì căn cước của tôi, một người tỵ nạn cộng sản là gì? Trước đây tôi cũng tò mò để xem hai học giả từ Hà Nội này sẽ nói gì về mình, về cộng đồng mình, nhưng nay thì thôi chắc không cần đọc cũng biết các ông ấy viết gì rồi. Bài phân tích của Bác Tích đã nói khá rõ rồi.

    Đối với bài của ông Nguyễn Huệ Chi, ngay phần đầu đã làm tôi chán ngán khi ông nói về trường hợp ông Nguyễn Hữu Luyện, một người bị tù nhiều năm vì là lính VNCH trước 1975, khi sang Mỹ đi học lại và nghe nói là WJC mời hai học giả từ Hà Nội nghiên cứu và viết lại căn cước cộng đồng tỵ nạn thì ông ấy phản đối và dùng con đường pháp lý kiện WJC. Nhưng trong bài của mình, ông Nguyễn Huệ Chi viết:

    “Hóa ra việc mời hai chúng tôi của WJC bị phản đối trong cộng đồng Việt Nam dưới sự xướng xuất của một vị sinh viên vốn từng theo học chương trình Thạc sĩ về Mỹ quốc học tại Trường ĐH Massachussetts tên là Nguyễn Hữu Luyện. Về sau tôi mới biết động cơ của việc phản đối này của người xướng xuất vốn liên quan đến một vài đòi hỏi riêng tư nào đấy, mà nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như là việc xin ở lại làm giảng viên Trường Massachussetts và cả xin vào làm nhân viên của WJC của ông Luyện đều không có kết quả. Đơn giản chỉ có thế.”

    Đây là lối ngụy biện “ad hominem attack” bằng cách tấn công nhân cách người phê bình cho là có động cơ thấp kém, cá nhân. Ông Nguyễn Huệ Chi có bằng chứng nào về những điều ông viết một cách mông lung ở trên để hạ phẩm cách (character assassination) đối với ông Nguyễn Hữu Luyện như thế? Nếu ông nhớ không lầm thì ông phải có dẫn chứng chứ!

  4. Giác Văn nói:

    Trong phản hồi truớc của tôi hơi vội vã thành ra mấy câu thơ cóc nhảy có điểm sai như là bản nhạc chấm dứt không về đúng chủ âm. Cho nên xin sửa lại như sau:

    Lần sau có đến đừng đi vội
    Hãy ở lại Hà Nội
    Và tham gia nữ bộ đội
    Rồi khi nào vào thăm lăng bác
    Có đứng hay ngồi
    Cũng bớt… âm ôi.

  5. phuonghaphuong nói:

    Nguyễn Thị Hoàng Bắc: “Tôi ra Hồ Gươm ngồi hóng mát một mình, liễu rũ la đà, nước đậm rong rêu, chờ mãi chả thấy hậu duệ rùa nào của cụ-rùa-ngậm-gươm năm xưa xuất hiện, trai thanh gái tú Hà Nội bây giờ tây hơn…”

    TIẾT XUÂN HÀ NỘI

    Trời xuân bẽn lẽn lá xôn xao
    Sương tiết lả lơi hé nụ chào
    Góc phố lượn lờ mơi kiểu dáng
    Hàng cây e ấp gợi lời rao
    Chị gái ỡm ờ ôm gốc đứng
    Anh trai lân lựa gật đầu giao
    Lẫn trong thanh trống rền cung mõ
    Hà nội nghìn năm khỏ thấp cao.

    Phương Hà Phương

  6. Giác Văn nói:

    Tôi có một “đề xuất” nhỏ với bà Hoàng Bắc:

    Lần sau có đến đừng đi
    Ở lại Hà Nội
    Tham gia nữ bộ đội
    Để vào lăng bác
    Đứng ngồi
    Bớt… âm u.

  7. noileo nói:

    Xin phép đuợc trích dẫn lại nơi đây, một đoạn trong “ĐỌC, VIẾT VÀ HỎI THEO CHỈ ĐẠO” của ông Trần Văn Tích:

    “…nhà văn dùng văn học phục vụ cái ác có thể phải trả lời trước pháp luật, mặc dầu đó là một nhà văn có tài. Tác phẩm mang lại giải thưởng Nobel cho Knut Hamsun năm 1920 là Phúc lợi của đất (Markens grode, 1917); nhưng từ tháng 10 năm 1888, khi cho đăng tiểu thuyết Đói (Sult) trên tạp chí Ny Jord, Hamsun đã nổi tiếng ngay. Tuy nhiên vì nhà văn Na uy này đã hợp tác với phát xít Đức trong Thế chiến II nên sau chiến tranh, bị xử tội phản quốc và phạt tiền nặng; dẫu rằng trong giới nghiên cứu văn học quốc tế có người nhận định trường hợp Hamsun thán phục chủ nghĩa quốc xã chẳng qua chỉ là hậu quả của sự ngây thơ và dốt nát. Ezra Pound, nhà thơ và phê bình Hoa Kỳ, học lực uyên bác, người nâng đỡ những T.S.Eliot, James Joyce, R.Tagore, D.H.Lawrence v.v.. qua việc đăng tải thi ca của họ trên các tạp chí Poetry và The Little Review; vì ngưỡng mộ Mussolini, vì tuyên truyền cho chủ nghĩa phát xít Ý trên đài phát thanh Ý mà bị quân đội Mỹ bắt năm 1944, bị kết án phản quốc, và năm 1946 bị đưa vào một dưỡng trí viện ở Washington. Những tên bồi bút văn nô gian xảo vô sỉ thần thánh hoá Stalin, Mao, Hồ rồi cũng sẽ có ngày phải trả lời công luận và lịch sử…

    (http://nguoiviethaingoai.org/4_2.html)

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả