talawas blog

Chuyên mục:

Lý Hữu Phước – Về quê ăn Tết (3)

08/06/2010 | 1:00 sáng | 6 Comments

Tác giả: Lý Hữu Phước

Category: Đời sống, Tạp văn
Thẻ:

(Xem kì 1,  kì 2)

Thứ Tư 25-01-2006 (26 tháng Chạp)

Rời Châu Đốc đi theo QL 91 về phía Tây Nam (song song với kinh Vĩnh Tế và biên giới Việt-Miên), chúng tôi đến Chùa Bà Núi Sam (thuộc xã Vĩnh Tế, phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc). Tại bàn thờ Bà có câu đối:

“Cầu tất ứng, thành tất linh, mộng trung chỉ thị,

Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.”

Hàng năm vào những ngày từ 23 – 27/4 âm lịch là lễ viá Bà[1], chùa rất đông đảo với khách thập phương về hành hương vía Bà. Mỗi năm vào dịp lễ, thị xã Châu Đốc đông đảo không dễ tìm khách sạn vì có đến hai triệu du khách từ các tỉnh khác đổ về đây.

Cách Chùa Bà vài chục thước bên kia đường là Lăng Thoại Ngọc Hầu. Khu lăng có đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu, mộ ông cùng hai phu nhân và khu mộ những người có công theo ông khai hoang, mở đất. Mặc dù được xây từ thời Minh Mạng (1828) lăng vẫn còn uy nghi và kiên cố. Ông tên thật là Nguyễn Văn Thoại (1761 – 1829), được phong tước Ngọc Hầu, là một danh tướng nổi danh của triều Nguyễn. Tôi có chép lại hai câu trong đền thờ tóm tắt chức vụ của ông:

Khâm sai thống chế Án thủ Châu Đốc đồn lãnh bảo hộ Cao Miên. Quốc ấn kiêm quản Hà Tiên trấn ban vụ.”

 

Sự nghiệp của ông gắn liền với công cuộc khai mở miền Hậu Giang và tên tuổi của ông còn nhắc lại qua những địa danh như: Thoại Hà, Thoại SơnVĩnh Tế. Năm 1818 vua Gia Long giáng chỉ cho đào Kinh Thoại Hà dưới sự chỉ huy của ông. Kinh đào theo lạch nước cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng Tây Nam, ngang qua chân núi Sập, tiếp với sông Kiên Giang, đổ nước ra biển Tây tại cửa Rạch Giá. Sau khi kinh đào hoàn thành, vua Gia Long khen và đặt tên kinh là Thoại Hà và ban tên núi Sập là Thoại Sơn.

Chợ Tịch Biên

Kinh Vĩnh Tế

Theo QL 91, từ Núi Sam xe chạy tới Tịnh Biên. Chợ Tịnh Biên khá lớn so với chợ cấp quận, đầy đủ đồ và rất rẻ. Phần nhiều hàng hóa ở đây là hàng của Thái, Cambodia, và hàng Trung Quốc. Đồ hàng ngoại ở chợ Tịnh Biên giống như các chợ biên giới khác như Châu Đốc, Tân Châu (An Giang), chợ Hà Tiên (Kiên Giang) và Hồng Ngự (Đồng Tháp). Đi chợ xong, chúng tôi đi bộ qua cây cầu bắc ngang qua kinh Vĩnh Tế. Đó là con kinh cũng do Thoại Ngọc Hầu chỉ huy bắt đầu đào vào năm 1819. Kinh này được vua Minh Mạng đặt tên là Vĩnh Tế Hà, tên đặt theo bà Châu Thị Tế[2] (vợ ông Nguyễn Văn Thoại). Kinh đào từ Châu Đốc (sông Hậu) nối thẳng với sông Giang Thành (Hà Tiên – Kiên Giang). Đây là một công trình kinh tế và quân sự chiến lược quan trọng của triều Nguyễn. Kinh Vĩnh Tế chạy dài song song với đường biên giới Việt-Miên, phân chia biên giới rõ ràng, vừa bảo vệ Cao Miên đang bị Xiêm La (Siam) dòm ngó, vừa là công trình kinh tế giao thông đường thủy. Hai kinh Thoại Hà và Vĩnh Tế nối lại bốn thị trấn lớn Long Xuyên – Rạch Giá và Châu Đốc – Hà Tiên tạo thành một chu vi giao thông quân sự giúp cho sự điều binh cơ động dễ dàng.[3]

Di tích căm thù ở Ba Chúc

Rời Tịnh Biên, xe chạy về Ba Chúc. Nơi đây có di tích Căm Thù Ba Chúc về cuộc xâm lấn biên giới và thảm sát người Việt do Khmer Đỏ Pol Pot (xảy ra từ 18-04-1978 đến 30-04-1978). Xe chạy vài chục cây số là tới thị trấn Tri Tôn. Tri Tôn (tên cũ Xà Tón, do tiếng Miên Xvay-ton) có một cộng đồng người Khmer rất đông, nên sinh hoạt, tập quán và cách kiến trúc nhà cửa lạ mắt hơn những huyện khác trong tỉnh. Đi qua vùng này tôi cứ tưởng là đang ở xứ đảo Java (Indonesia), trên đường người dân Miên vận chăn sà-rong đông đảo quanh các chùa chiền Khmer. Theo sách ghi lại, vùng Tri Tôn hồi xưa còn hoang vu, rậm rạp, dân cư rất thưa thớt, có nhiều đàn khỉ (xvay) trên cây cao, nối đuôi nhau mà chuyền đi (ton). Dân Khmer dựng chùa thờ Phật tại chợ Tri Tôn và đặt tên chùa là Xvay-ton – từ đó chuyển âm thành Xà Tón.

Chợ Hà Tiên

Lăng Mạc Cửu

Xe đi qua Kiên Lương và đến Hà Tiên nghỉ ngơi và ăn trưa trong tiệm hủ tiếu ngay tại chợ. Hà Tiên trên đà phát triển, mạnh nhất là về ngành du lịch, đường xá cầu cống mở mang rộng rãi và các từng nhà cao, khu chợ bắt đầu mọc lên nhiều. Trong khu di tích núi Bình San có lăng của Khai Trấn Quốc Công Mạc Cửu trên đỉnh đồi cao, tại đây tôi có thể nhìn thấy cả thị trấn Hà Tiên, còn bên dưới là mộ của con là Tổng binh Đô đốc Mạc Thiên Tích. Thi sĩ người Hà Tiên, Đông Hồ Lâm Tấn Phác có bài thơ vịnh cha con họ Mạc, có đoạn:

…Chẳng đội trời Thanh Mãn,

Tìm qua đất Việt Bang

Triều đình riêng một góc

Trung Hiếu vẹn đôi đường

Trúc thành xây vũ lược

Anh Các dựng văn chương…[4]

Cách lăng không xa là Thạch Động (còn gọi là Vân Sơn Động). Từ trên động tôi thấy cảnh đồng ruộng với sông, núi và nước hữu tình và hiểu được vì sao Mạc Thiên Tứ viết lên “Hà Tiên thập vịnh” (10 cảnh đẹp nổi tiếng ở Hà Tiên).

Không xa lắm từ Thạch Động đến cửa khẩu Xà Xía, bên kia là đất nước Cambodia. Theo đường QL 80, chúng tôi đến Rạch Giá vào lúc xế trưa. Đoàn du lịch vào khách sạn Hồng Nam, kế bên chợ mới Rạch Giá (chợ cũ bây giờ được chuyển thành công viên). Ban tối chúng tôi ăn cơm tại nhà hàng Vĩnh Hồng gần mé sông cầu đúc. Các món ăn đồ hải sản địa phương trong nhà hàng thật tươi và ngon miệng.

Cổng tam quan Rạch Giá

Đi tham quan gần mé biển mới được biết vùng đất này bồi lên bằng cát thổi lấn ra biển hàng trăm thước. Ở đây, nhà cửa khang trang cao cấp bắt đầu mọc lên nhiều. Năm nay Rạch Giá phát triển hơn xưa và hoàn toàn đổi chủ với giai cấp mới – những người có quyền lực từ phương Bắc xa xôi tới đây và một tầng lớp tư sản mới. Kiên Giang lâu nay đã khá giả vì có bờ biển dài và nhiều tàu đánh cá đi biển nên dân chung quanh chợ năm xưa – những người tư sản cũ – đã bỏ xứ đi gần hết. Ba mươi năm trước, người chợ Rạch Giá có nói với nhau: “Cột đèn đường nếu đi được… thì nó cũng vượt biên”. Ba mươi năm sau về lại đây, tôi vẫn chưa hiểu được gì về tội tình của đám người tư sản cũ và bao cuộc đấu tranh giai cấp, không biết mấy cột đèn đường của Rạch Giá có còn đồng ý với tôi?

Thứ Năm 26-01-2006 (27 tháng Chạp)

Xe chạy đến và ngừng trên đường Phó Cơ Điều (cũ)[5], tôi bước xuống xe và đứng bên kia đường trước nhà bà ngoại tôi. Căn phố lầu xưa đã được thay thế bằng khách sạn Gia Thảo cao lớn. Đang đứng chụp hình thì có người nhận ra tôi là cháu của bà T. X. L. Trong tôi có nỗi vui buồn lẫn lộn, một niềm vui của kẻ ở xa hồi hương ngộ cố tri và nỗi buồn man mác trước cảnh đời đổi chủ mà lòng vẫn còn tiếc nhớ đến những cảnh cũ người xưa…

Đền thờ Nguyễn Trung Trực

Đi vòng thị xã để xem lại những cảnh xưa như tòa tỉnh trưởng bên kia sông, các rạp hát Nghệ Đô, Châu Văn mà tôi đã từng xem nhiều lần vào những ngày nghỉ hè về Rạch Giá; nhà lồng chợ, chợ cá đồng, chợ cá biển giờ đây đã mất. Ghé qua mé biển là đền thờ Nguyễn Trung Trực (1838-1868). Ông hoạt động kháng chiến từ Tân An qua Rạch Giá. Năm 1861, ông đốt tàu Espérance tại rạch Vàm Cỏ, bên làng Nhật Tảo. Năm 1868, ông bị Pháp bắt và hành hình tại chợ Rạch Giá. Trước cổng đền thờ của Thượng Ðẳng Ðại Thần Nguyễn Trung Trực có câu đối:[6]

 

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa,

Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần.

(Lửa hồng Nhật Tảo vang trời đất,

Gươm lóe Kiên Giang rúng quỉ thần!)

 

Đến cổng Tam quan anh em tôi ngừng xe để chụp hình từ giã quê ngoại. Từ Rạch Giá đến Rạch Sỏi nhà cửa cất lên san sát theo hai bên lộ, tàu đánh cá đậu đông đảo hơn xưa rất nhiều, một phần là dân số bây giờ đã tăng trưởng đông, một phần các ngư phủ cập bến về quê chuẩn bị ăn Tết vui Xuân.

Bến Ninh Kiều, Cần Thơ

Theo QL 80 tới ngã ba lộ tẻ quẹo sang QL 91 để đến Cần Thơ. Thành phố Cần Thơ lớn đúng là thủ phủ của miền Tây. Tuy nằm trong tỉnh Hậu Giang, thành phố  này trực thuộc trung ương. Chúng tôi ăn trưa trên Du thuyền Cần Thơ (của Cần Thơ Tourist) trên bến Ninh Kiều bên dòng sông Hậu nhìn ghe tàu qua lại, gió mát hiu hiu. Trên thuyền, tôi được thưởng thức lại bière La Rue chánh hiệu Con Cọp ngày xưa.

Cần Thơ có siêu thị lớn, bán đủ đồ không thua các chợ ở Sài Gòn. Có điều là xe quá nhiều nên phải đợi rất lâu mới xuống được phà Cần Thơ để qua sông Hậu (Bassac hay là Tonle Bassac river) theo QL 1 về Vĩnh Long. Công trình xây cất cầu Cần Thơ do Nhật làm đã khởi công và sau khi hoàn tất sẽ giúp cho việc đi lại dễ dàng hơn.

Ghé chợ Vĩnh Long chạy vòng khu phố chúng tôi nghỉ mệt uống cà phê Trung Nguyên (tiệm Tây Nguyên). Rời thị xã Vĩnh Long chạy qua cầu Mỹ Thuận (sông Tiền, Mekong) và chạy về Sài Gòn… thì trời đã tối.

Thứ Sáu 27-01-2006 (28 tháng Chạp)

Tám giờ sáng, vừa trên lầu xuống là có xe đón từ nhà đi ra Sài Gòn ăn sáng. Đó là điềm tốt khởi đầu của một ngày toàn ăn với uống.

Ambiance của nhà hàng Brodard trang nhã và ấm cúng có lẽ vì có mang nhãn hiệu xưa – Brodard có mặt nơi đây hồi đường còn mang tên là Catinat – bây giờ là đường Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do tên đường cũ. Khung cảnh trong tiệm không khác gì xưa nhiều nhưng điều tiến bộ là trên menu có các món ăn sáng Việt Nam: hủ tiếu đồ biển thập cẩm, phở, cơm tấm… và đồ Tây phương (bacon & eggs, croissant…). Đặc biệt trên lầu nhà hàng có truyền hình cáp đang phát hình trận cricket của Úc – thật là home away from home! Tại nhà hàng Tây ở Sài Gòn, ăn đồ Việt và coi chương trình thể thao Úc, chuyện khó tin… nhưng có thật trong thời buổi hoàn cầu hóa này. Brodard ngon miệng và lịch sự vì… chỉ cần mang tên Brodard xưa![7]

Tôi đi theo phái đoàn vào Bịnh viện Răng Hàm Mặt Sài Gòn để cho đứa em tôi hỏi thăm về thủ tục về việc làm phước. Ôi, thủ tục nhà nước! Cho dù là làm… chùa, tự nguyện. Ráng chờ thêm chút nữa là chúng tôi vào ở Chợ Lớn ăn trưa tại nhà hàng Giang Nam để thưởng thức gà hấp muối chấm với hắc-xì-dầu (đúng goût cũ là muối tiêu xào dầu). Bấy lâu muốn thử lại gà Việt Nam nhưng vì có dịch cúm gia cầm (gà) và sợ vi khuẩn H5N1 nên mặc dù trên báo chí, truyền hình có dặn dò kỹ càng là phải mua gà đã kiểm duyệt và nấu trên 70oC, nhưng còn vài ngày nữa là về, thôi còn sợ và chờ gì nữa?

Buổi trưa uống cà phê tại khu tiếp tân và nhà hàng Đông Hồ. Giữa Chợ Lớn mà lại có một khu đất rất rộng lớn trang trí như ngoài vườn. Menu cà phê cầu kỳ đặt theo số từ đó mới dịch mã ra là loại cà phê gì. Cuối cùng cũng chỉ là cà phê Trung Nguyên với mấy tên cầu kỳ khác: 1) culi robusta, 2) robusta arabia, 3) arabia of sparrow, 4) excellent culi, 8. legendee và passiona-chari arabia (không số)… Nghệ thuật kinh doanh là chơi chữ – Việt lẫn Tây – cho ra vẻ chính gốc và dị thường làm cho khách hàng lấn áp ngẩn ngơ.

Chiều đến, cả nhà tổ chức tiệc tất niên gia đình tại nhà hàng Tân Nhã (gần Hội Việt-Mỹ Chợ Lớn hồi xưa). Khung cảnh tiệm không như đại tửu lầu, nhưng ấm cúng; cũng không danh tiếng trước 75, nhưng “tuyệt chiêu” của nhà hàng là món heo sữa quay. Lại đồ Tàu Chợ Lớn (bao nhiêu cho vừa?), rượu champagne Tây và rượu đỏ Úc, chiều tất niên 28 Tết, bà con và anh em trong gia đình tại bàn tiệc chuyện trò vui vẻ và cùng nâng ly rượu mừng[8]

Thứ Bảy 28-01-2006 (Giao Thừa 29 tháng Chạp)

 

Chợ Tết đường Nguyễn Huệ

 Sáng hôm nay đi dạo quanh chợ Sài Gòn và đến chợ Tết đường Nguyễn Huệ. Từ mấy ngày trước, đường Nguyễn Huệ được phong tỏa để chuẩn bị cho chợ Xuân. Nơi đây, người ta cho dựng lại những hình ảnh của đất Nam kỳ Lục tỉnh qua đồng ruộng với xe ngựa, đồ gốm, quán nước nhà quê, gói và nấu bánh tét, dệt chiếu… Giữa chốn phồn hoa đô thị, những hình ảnh êm đềm của thôn quê với những cây mai vàng hiện ra trước mắt, nhìn lạ mắt lòng vui vui.

Gần bên chợ Tết, chúng tôi vào tiệm Café Central (Sun Wah Tower, đường Nguyễn Huệ) ăn trưa với món hủ tiếu Nam Vang, phở và chả giò. Tiệm ăn sạch sẽ, mát mẻ cao cấp có dân địa phương khá giả và dân ngoại quốc vào ăn đông. Những quán ăn, tiệm cà phê ở Sài Gòn có hai mục đích: vừa là chỗ ăn uống vừa là chỗ nghỉ ngơi hóng máy lạnh cho mát rồi đi tiếp. Tôi đi bát phố dọc theo đường Đồng Khởi vào Parkson Centre, nơi đây có lẽ là department store sang trọng nhứt của Sài Gòn. Ở đây có nhiều hiệu danh tiếng như là Cartier, Mont Blanc… và có nhiều hàng đồ thủ công nghệ rất đẹp của Việt Nam.

Xế trưa tôi bước vào Hotel Majestic để uống cà phê nghỉ chân và để thăm lại một phần lịch sử của Sài Gòn. Thành lập năm 1925 do công ty Huibon Hoa[9] góc đường Catinat và Quai de Belgique (Tự Do và Bạch Đằng cũ nhìn qua rạch Bến Nghé đổ ra sông Sài Gòn), Hotel Majestic đã chứng kiến nhiều sự đổi thay không ngừng của thủ phủ miền Nam. Chính tại khách sạn, trên bar rượu ở sân thượng, tác giả Graham Greene lấy cảm hứng viết cuốn tiểu thuyết The Quiet American. Tại lobby của khách sạn, Catinat Lounge là điểm hò hẹn của những người quyền thế thời thuộc địa, là nơi mà có lẽ chính trường miền Nam được bàn luận và sắp đặt, và cũng là chỗ tụ tập của những ký giả quốc tế vào thời cao điểm của chiến trường Việt Nam. Trước cửa Cyclo Café có tấm hình trắng đen xưa chụp cảnh những xe Tây đậu trước cửa khách sạn với hàng chữ “Les Peugeots et les Citroens en face de l’Hôtel Majestic en 1960”. Ngồi trong tiệm cà phê với khung cảnh trang trí Art Décor, nhìn sông nước và đường xá với khách qua lại, tôi suy nghĩ phải viết gì cho chuyến đi này, thôi thì cứ mơ tưởng mình như là Graham Greene đang cầm và cắn bút… thì đã có chết ai đâu!

Chiều cuối năm, một mình lại đi dạo phố, lang thang trên vỉa hè Sài Gòn để tìm lại không khí của ngày năm tàn tháng hết. Buổi chiều này có sự nao nức của một ngày cuối năm, từ trưa đường phố Sài Gòn đã được dọn dẹp sạch sẽ và vắng vẻ vì mọi người tranh thủ về nhà sớm để chuẩn bị dọn dẹp cúng giao thừa và đón ông bà. Một năm có nhiều đêm ba mươi đi qua thầm lặng, để đổ dồn và nhường cái trang trọng cho đêm ba mươi Tết. Đi trên đường, tôi nhớ lại một bài hát và tưởng mình như là người con trai đến thăm người yêu và gặp nàng (tên là Sài Gòn) vào buổi tối cuối năm, cảnh vật đổi sắc chào Xuân, lòng người vui mở hội như đêm ba mươi: Anh đến thăm em đêm ba mươi, còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi?… Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết?[10]

 

Hát chèo giữa Sài Gòn

 

Tối đêm giao thừa, biết trước là các nhà hàng tiệm ăn lớn đều đóng cửa, chúng tôi tổ chức ăn cơm nhà với thịt kho, dưa giá, củ kiệu… theo đúng tục lệ cổ truyền trong Nam. Trên đài truyền hình có chương trình nhạc và hát chèo cổ (giữa đất Sài Gòn sao không hát cải lương?) và những chương trình trực tiếp phát hình đón Xuân khắp nơi trong nước, từ Cao Bằng tới Cà Mau. Từ trên sân thượng cả nhà xem đốt pháo bông, và từ xa nghe tiếng pháo (bông) nổ vang rền để tống cựu nghinh tân: Xuân đã đến rồi[11]

Chúa Nhựt 29-01-2006 (Mùng Một Tết)

Mùng một đi lễ nhà cha

Mùng hai nhà vợ, mùng ba nhà thầy

Lăng Ông Bà Chiểu

Tám giờ sáng hôm nay tôi xuất hành ra phi trường để tiễn em và cháu đi về xứ và xong đó đi chùa. Chùa Vĩnh Nghiêm mùng một Tết người người tấp nập, nhang khói mịt trời không giống với cảnh thanh tịnh hái lộc đầu Xuân tại chùa mình tuởng tượng. Từ chùa tôi đi tới Lăng Ông Bà Chiểu. Dịp Tết, người Sài Gòn Chợ Lớn đi thăm Lăng để cúng Ông, xin xăm, cầu phước và cầu tài; còn riêng tôi muốn viếng lại một di tích lịch sử và tỏ lòng tri ân đối với vị công thần khai phá bờ cõi này. Lăng Ông Lê Văn Duyệt ở tại quận Bình Thạnh, cổng chánh nằm về phía Nam với cổng Tam quan với ba chữ Hán lớn (đại tự phù điêu): Thượng Công Miếu. Trước lăng có hai ngôi mộ của Ông và phu nhân (chánh thất tả quân phu nhân Ðỗ Thị Phận). Vào chánh điện, bàn thờ Ông được đặt giữa với chân dung của ngài trong triều phục, bên trái là bàn thờ Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất, bên mặt thờ Quan Kinh Lược Sứ Nam Kỳ Phan Thanh Giản. Trong chánh điện có câu đối ca ngợi công đức:

Nam Triều quảng bá thinh danh, tỉnh biên tái kình thiên nhất trụ,

Bắc chấn trường lưu nghĩa khí, diệu tinh linh hộ quốc thiên thu.

(Uy danh truyền xa cả Nam triều, yên bờ cõi chống trời một cột,

Nghĩa khí lưu danh khắp đất Bắc, tỏ linh thiêng giúp nước ngàn thu.)

Mùng một Tết đường Sài Gòn giống như mấy mươi năm thuở trước vì vắng xe thưa người và phố xá đóng cửa. Một mình trên chiếc xe gắn máy tưởng như ngược về dĩ vãng, dạo chơi trên con đường kỷ niệm trong trí nhớ của thời còn cắp sách đến trường. Chắc cảnh vật, cây cỏ Sài Gòn vẫn còn nhận ra tôi sau bao năm dài vắng bóng?: “Hỡi thành đô với linh hồn bách thảo, Còn nhớ ta chàng tuổi trẻ tóc bay?”[12]

 

Ghé qua đường Tôn Thọ Tường cũ (Tạ Uyên) vào tiệm kêu cơm với dĩa thịt đủ thứ: gà, xá xíu, thịt quay, lạp xưởng gan (chỉ Chợ Lớn mới có), để nhớ lại từng hương vị màu sắc của món mấy món ăn Tết Chợ Lớn. Qua Minh Phụng về Phú Định và dừng xe trước ngôi nhà cũ, lòng càng nhớ về ngày xưa nhưng có điều mừng là được chụp hình nhà tự nhiên vì năm nay công an đã dọn đi rồi. Đang chạy đến đường Khổng Tử trời bỗng có cơn mưa rào, ngừng xe bên đường để trú mưa nhìn người và xe qua lại, ôi sao giống Sài Gòn qua những cơn mưa như cảnh năm nào!

Trường Taberd

Chiếc xe Honda lăn bánh dọc theo bến Hàm Tử, qua chợ Nancy về khu chơi Xuân ở vườn Tao Đàn (cũ), và ngừng tại cổng trường cũ Taberd để lại mơ nghĩ về những năm cuối cùng thời trung học… Ghé qua đường Đồn Đất, Thảo Cầm Viên và khắp cả đường phố Sài Gòn đến quận Tân Bình, Gia Định… Trên chiếc Honda Cub 50cc cũ cà rịch cà tang, tôi có vẻ lạc hậu và xuống cấp so với những trai thanh gái lịch, tài tử giai nhân dạo Xuân năm nay. Sau này về đến nhà, có dịp xem báo Việt trên internet và tôi có đọc bài tường thuật phê bình “Việt kiều ăn Tết thua Việt cộng”, chắc cũng có lẽ đúng phần nào…

Thứ Hai 30-01-2006 (Mùng Hai Tết)

Sài Gòn sáng mùng Hai Tết còn đang ngủ mê sau một cuộc ăn chơi dài, tôi gom góp mớ hành trang – phần nhiều là sách – lên phi trường… về với vợ con. Trong tờ báo trên tay, người ta bàn luận và xét lại về cái cách ăn Tết của người Việt. Nào là trên thế giới đến nay chỉ còn ba nước Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam còn hưởng thụ 3 – 4 tuần Tết Âm lịch và Dương lịch gộp lại. Nào là đã đến lúc ta phải định nghĩa lại “bản sắc dân tộc” của sự ăn Tết theo lịch ta trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập thế giới. Theo tôi, từ ngàn xưa Tết là dịp để xả láng, quên đi những nhọc nhằn dẫu cho tới đâu thì tới và tôi xin sửa lại câu hai ca dao sau cho phù hợp hơn với phong cách “chơi cho lịch mới là chơi” của người mình:

Tháng Giêng là tháng ăn chơi,

Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba rượu chè,

Tháng Tư sang đến mùa hè,

Cái nghèo lại đến lè nhè suốt năm…

Hơn hai tuần ăn chơi đón Xuân như là trong một giấc mơ, vui thì thật là vui được gặp lại những hình ảnh cũ bấy lâu nay không thấy, nhưng hình như có cái gì mất mát không giống lắm như Tết năm nào trong trí nhớ. Đất cũ thay đổi rất nhiều, người Sài Gòn năm xưa tôi biết chẳng còn bao nhiêu và cách tư duy của người mới ở đất này đã thay đổi, hay là có lẽ chính mình đã đổi thay rồi chăng? Xin giã biệt Sài Gòn, một địa danh đã đi vào dĩ vãng từ lâu mà tôi vẫn còn ráng gọi, giã từ những hình ảnh đẹp ngày xưa và xin chép mấy câu để hoàn lại bốn chữ sắc phong[13]khúc ruột ngàn dặm”:

Ba mươi năm rồi, thật hay hư?

Bôn ba cầu thực[14], bấy lâu chừ!

Trở về quê cũ, đời xa lạ,

Khúc ruột tuy còn, khúc ruột.

Viết xong ngày 26 tháng 03, 2006

Ảnh trong bài của tác giả

 

Tài liệu tham khảo

[AA] Ancient Angkor – Michael Freeman, Claude Jacques, 2003

[AAIT] Angkor, An introduction to the temples – Dawn Rooney, Odyssey Guides, Fourth edition 2005

[LPC] Lonely Planet – Cambodia, Fifth edition 2005

[NBXN] Nam Bộ xưa và nay, NXB TP HCM – Tạp chí Xưa & Nay, 2001

[Q6HCM] http://www.quan6.hochiminhcity.gov.vn/

[TBĐ] Tập bản đồ Giao thông đường bộ Việt Nam – NXB Bản đồ Việt Nam, 2004

[TĐTP] Tự điển thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh, NXB Trẻ 2001

 

 

© 2010 Lý Hữu Phước

© 2010 talawas

 


[1] Bắt đầu lễ viá “Lễ Tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24/3 âm lịch. Sau đó là “Lễ Cúng Túc Yết”, được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26/4 âm lịch. Đây là lễ cúng chánh thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, nhị vị phu nhân và các tướng lĩnh của ông về miếu Bà. Các ngày lễ tiếp theo gồm có: Xây chầu, Lễ Cúng Chánh Tế, Lễ Hồi Sắc… Những lễ này nhằm nhớ ơn các bậc tiền nhân có công trong những buổi đầu khai hoang mở đất, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, làm ăn phát tài và sức khỏe dồi dào… Lễ vía Bà chắm dứt bằng Lễ Thỉnh Sắc Thần để rước sắc Thoại Ngọc Hầu cùng chư vị về lại lăng.

[2] Bà là con của ông Châu Vĩnh Huy, một hào phú trong làng Cù Lao Dài (Vĩnh Long ngày nay).

[3] “Water in Mainland Southeast Asia” (Siem Reap, 30 November – 2 December 2005). Communication for the Workshop organized by the Centre for Khmer Studies and the International Institute for Asian Studies.

(http://www.khmerstudies.org/events/Water/Bourdeaux%20Nov%202005.pdf)

“…. the Huế court engaged an ambitious project to transform the marshes parts of the Gia Định Thành by promoting new colonization hamlets and citadels, by digging a hydraulic network for commercial and above all strategic aims. The Thọai Hà canal linking Long Xuyên to Rạch Giá (1818) and the Vĩnh Tế canal linking Châu Đốc to Hà Tiên (1824) allowed the control of the quadrangle of Long Xuyên, to install troops along this linear frontier. But if these canals flank the marshes plain, they can’t drain it, they can’t penetrate it, and they can’t allow to expand an irrigate agriculture except on the hills (giồng) and along riverbanks, arroyos (rạch, vàm) and new canals.”

[4] Năm 1671, Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu), mang binh sĩ và một số sĩ phu lên thuyền rời khỏi Phúc Kiến về phương Nam để trốn nhà Thanh. Năm 1724, Mạc Cửu dâng toàn bộ đất đai và được phong làm Khai Trấn Quốc Công cai trị lãnh thổ Căn Khẩu, đổi tên thành Long Hồ dinh. Từ 1729, Long Hồ dinh nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan. Mạc Cửu mất (1735), con là Mạc Thiên Tích (Tứ) – tên thật là Mạc Tông, tự Sĩ Lân – nối nghiệp được phong làm Tổng Binh Đô Đốc. Long Hồ dinh đổi tên thành trấn Hà Tiên.

Mạc Thiên Tích có công lao từ quốc phòng, nội chính đến kinh tế, văn hóa ngoại giao ở đất Hà Tiên. Ông sáng lập ra hội tao đàn Chiêu Anh Các. Các tác phẩm chính của Chiêu Anh Các là: 1) Hà Tiên thập cảnh toàn tập, 2) Minh bột di ngư thi thảo, 3) Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, 4) Châu thị trinh liệt tặng ngâm, 5) Thi truyện tạng lưu tiết phụ, 6) Thi thảo cách ngôn vị tập.

Hà Tiên thập vịnh được Mạc Thiên Tích sáng tác viết bằng chữ Hán năm Bính Thìn (1736), miêu tả 10 cảnh đẹp ở Hà Tiên. Đó là các cảnh:

  • Kim Dự lan đào,
  • Bình san điệp thúy,
  • Tiêu Tự thần chung,
  • Giang Thành dạ cổ,
  • Châu Nham lạc lộ,
  • Đông Hồ ấn nguyệt,
  • Nam Phố trừng ba,
  • Thạch Động thôn vân,
  • Lộc Trĩ thôn cư,
  • Lư Khê ngư bạc.

Sau đây là mấy bài dịch của Đông Hồ

Cò đâu kể số muôn ngàn

Tuôn mây vén núi mang mang bay về

Đầy bốn bề kêu la tở mở

Lộn ròng ròng như vỡ chòm ong

Rơi ngân rớt phấn giữa không

Sương ken đòi cụm tuyết phong khắp hàng

(“Châu nham lạc lộ” – Đông Hồ dịch)

Lưu loát hưởng dư ơn nước thạnh

Ê hề sẵn có của trời dành

Đâu no thì đó là an lạc

Lọ phải chen chân chốn thị thành.

(“Lộc trĩ thôn cư” – Đông Hồ dịch)

Biết phân ngôi, biết phân chủ khách

Tuy giang thôn nào khác Trường An

Trong ca nghe có tiếng vang

Cũng lời mặc khách cũng trang Cao Bằng.

(“Lư Khê ngư bạc” – Đông Hồ dịch)

[5] Phó Cơ Điều tên thật là Nguyễn Hiền Điều, cùng Chánh Cơ Nguyễn Trung Trực lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp. Ông bị bắt và hy sinh tại Rạch Giá. Đền thờ của ông hiện nay tại Giếng Cây Trâm, Rạch Sỏi, tỉnh Kiên Giang.

[6] Hai câu này trích trong bài điếu ông do Huỳnh Mẫn Ðạt viết.

[7] Năm rồi (tháng 6-2005) có dịp ghé California, có người bạn dẫn đi ăn nem nướng Nha Trang tại tiệm mang tên Brodard (Westminster Ave, Garden Grove, CA trong thương xá Tam Đa). Nhà hàng nhộn nhịp người vì nghe nói rất nổi tiếng ở quận Cam. Chủ tiệm khôn ngoan lấy cái tên rất Sài Gòn này!

[8] Bài hát “Ly rượu mừng” của Phạm Đình Chương

[9] Hui Bon Hoa (1845-1901) – thường được gọi là Chú Hỏa, tên là Hoàng Trọng Sinh, người tỉnh Phước Kiến, lúc mới sang Việt Nam buôn bán ve chai (như Quách Đàm). Sau giàu, vô quốc tịch Tây, đổi tên là Jean Baptiste Hui Bon Hoa [TĐTP]. Từ đó Huibon Hoa trở thành họ cho các con. Đầu thế kỷ 20, Chú Hỏa là một trong những người giàu nhất Sài Gòn và miền Nam, có rất nhiều nhà phố ở Sài Gòn Chợ Lớn. Giữa quận 1 có ngôi nhà Chú Hỏa đồ sộ, chiếm một khu lớn chung quanh là bốn đường Phó Đức Chính, Nguyễn Thái Học, Lê Thị Hồng Gấm, Calmette. Chợ Bến Thành cũng do một phần tiền của Chú Hỏa bỏ vào cất. Bệnh viện Đô Thành cũ (đường Lê Lợi Quận 1) kế bên chợ Sài Gòn cũng do công ty Huibon Hoa xây cất năm 1937. Tại Lăng đức Tả Quân tôi thấy có tấm bản (plaque) liệt kê những ân nhân đóng góp trùng tu lăng năm 1937 (Pagode Reconstruite en 1937 – liste de donateurs), gia đình Huibon Hoa có tặng số tiền lớn là 200 đồng.

[10] Bài ca “Anh đến thăm em đêm ba mươi” của Vũ Thành An

[11] Bài ca “Đón Xuân” của Phạm Đình Chương

[12] Bài thơ “Khi mới nhớn” của Đinh Hùng

[13] Chuyện đời xưa về một nhà trọc phú, nhờ tiền bạc nhiều nên mua chức tước, được triều đình cho bốn chữ sắc phong và ông cho viết bốn chữ trên tấm hoành phi để trước nhà. Người đời có câu đối mỉa mai, chửi khéo:

“Bốn chữ sắc phong, hàm cụ lớn

Trăm năm danh giá, của bà to”

hàm cụ lớn đối với của bà to, vừa đối chan chát vừa tục – đúng là miệng đời. Hai câu này tương tự như câu đối của Nguyễn Khuyến – Câu mừng cô Tư Hồng

“Hai chữ bao phong hàm Cụ Lớn

Nghìn năm danh tiếng của bà to”.

[14] Trích câu “tha phương cầu thực” – đi làm kiếm miếng ăn để sinh sống ở phương trời xa.

Bình luận

6 Comments (bài “Lý Hữu Phước – Về quê ăn Tết (3)”)

  1. Phùng Tường Vân viết:

    Đốt Lò Hương Cũ

    Tôi thấy thích thú đọc Bút Ký – Hồi Ký “Về quê ăn Tết” của họ Lý, ông là một “trung niên văn sĩ”, xuất thân “Trường Tây”, gốc Miền Nam mà trong viết lách ông sử dụng dồi dào văn liệu mới, cũ, Hán, Nôm…nhuần nhuyễn chính xác…nhưng điều khiến tôi bật cười là khi thấy ông dẫn thơ Đinh Hùng, bài “Khi mới nhớn” trong tập “Đường Vào Tình Sử”.

    Tôi sinh trưởng ở miền Bắc nhưng trong ký ức còm cõi của mình cho đến năm hai mươi tuổi về nơi tổ quán ấy, tôi nhớ mình không bao giờ sử dụng (nói cũng như viết) chữ “nhớn” thay vì chữ “lớn”, nay đột nhiên gặp lại một từ tưởng như đã khuất chìm mù mịt trong ký ức xuất hiện lại nơi bài thơ của một ông tổ thơ tình, tuy gốc Bắc (rặt) nhưng tôi cũng không nghĩ rằng ông lại sử dụng cái chữ “quê mùa” ấy trong một bài thơ nồng cháy yêu thương và xôn xao hoa mộng của tuổi học trò. Tò mò đi tìm nguồn thì thấy có nơi là “Khi Mới Nhớn” nhưng đa số là “Khi Mới Lớn”, tuy nhiên trong toàn bài không có chữ “lớn” nào bị thay thế bởi chữ “nhớn” cả, thấy cũng ngồ ngộ và vì bài thơ hay lắm, nên xin được post lại để mong được cùng ai ai sống lại thuở “giờ nao nức của một thời trẻ dại/hỡi ngói nâu hỡi tường trắng cửa gương, nào xin mời cùng tôi ta dạo bước lại “Đường Vào Tình Sử”…

    Khi Mới Lớn (Nhớn)

    Khi mới lớn, tuổi mười lăm, mười bảy
    Làm học trò mắt sáng với môi tươi
    Ta bước lên chân vẫn dạo bên người
    Ngoài cặp sách trần ai xem cũng nhẹ!

    Đời thấp thoáng qua học đường nhỏ bé
    Phố phường vui cuộc sống mới lên hoa
    Ta ngồi nghe những tiếng thị thành xa
    Hồn lơ đãng mộng ra ngoài cửa lớp

    Nắng thuở đó khiến lòng ta hồi hộp
    Ta nhìn cao mới rõ bị giam cầm
    Ôi tiếng nào vang bốn bức tường câm?
    Không khí nặng mơ hồ thầy với bạn

    Ta lớn lên, bước đường không giới hạn
    Có lẽ đâu kiềm giữ nổi tay người
    Tuổi hoa hồng kiêu hãnh của ta ơi!
    Tình đã hẹn ở trên đường nắng mới

    Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi
    Xa vở bài, mở rộng sách ham mê
    Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
    Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn

    Đời đổi mới từ ngày ta dấy loạn
    Sớm như chiều hư thực bóng hoa hương
    Ta ra đi tìm lớp học thiên đường
    Và khi đó thì mẹ yêu ngồi khóc…

    Ôi! khoái lạc những giờ trốn học
    Những bình minh xuân đẹp, những chiều thu!
    Bao cảnh nước mây đằm thắm hẹn hò
    Khi biếng gặp nhớ nhung pha màu áo

    Hỡi thành đô với linh hồn bách thảo
    Còn nhớ ta chăng, tuổi trẻ tóc bay?
    Làm học trò nhưng không sách cầm tay
    Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ

    Riêng ta nhớ những trưa hè sắc đỏ
    Đường hoàng lan nắng động lối đi quen
    Nhìn bóng cây chen bóng mộng hư huyền
    Ta đến đó lần đầu nghe rạo rực…

    Thấy phảng phất hình đôi vai, bộ ngực
    Làn môi tươi in một nét son hồng
    Cặp má đào phơn phớt ánh phù dung
    Đầu lả lướt mái tóc dài sóng gợn

    Ta ngây ngất cả tấm thân vừa lớn
    Bỗng rùng mình thở vội ánh dương qua
    Tưởng hương thơm một da thịt đàn bà
    Đinh Hùng
    (Đường Vào Tình Sử)

  2. Lê Anh Dũng viết:

    Đọc thấy bạn Phước ghi lại những câu đối, những lời ca ngợi công đức của những tiền nhân đã khai phá, mở mang, xây dựng, đã bỏ mạng để bảo vệ miền Nam của đất nước như lời tri ân, nhân đọc Đại Vệ chí dị
    ( http://nguoibuongio.multiply.com/journal/item/473/473 ), tôi cũng muốn viết câu đối cho Cường Bạo, nhưng mộng không thành nên đành phải viết dài dòng như sau (gợi hứng từ chí dị):

    Cường
    Bạo

    xẻ Tây Nguyên bán quặng nhôm là quốc sách
    chỗ không tài nguyên dồn dân, lấy đất lấy rừng
    từ núi rừng đến biển xanh
    ngổn ngang, nham nhở xây thành

    năm ngoái lấy rừng đầu nguồn
    phòng hộ lũ bán dưới danh cho thuê nửa kỷ
    xứ Thanh dân chống bán đất
    quan giết thẳng tay, bất kể trẻ gìa

    càng cuối kỳ nhân sự
    bán tháo tài nguyên càng ráo riết khẩn trương
    bán mãi
    rồi cũng chả còn gì
    Vệ Cường Vương âu lo việc (thuê, bán) nước
    giờ còn gì mà đem bán, cho thuê!

    Tể tướng Bạo, thật xứng danh là bạo
    lẫm liệt ban truyền
    làm xe tốc hành vĩ cuồng xuyên Việt,
    vay chơi 56 tỷ mỹ kim

    dân nghiến răng, nhai giận thành lửa
    vay như thế, bán cả dân cũng không trả nổi

    các vua Hùng, cùng bao tiền nhân đã có công dựng nước
    Cường Bạo ghi công phá nước
    nhà quê cho đến thị thành
    tan hoang sông núi, ngàn đời nhớ tên

    Qúi độc giả cao kiến thử viết câu đối viếng Cường Vương, Bạo Tể tướng, giải thưởng cho câu đối xuất sắc sẽ là được lưu danh trong văn sử cùng Cường Vương, Bạo Tể tướng, như cụ Nguyễn Khuyến đã lưu danh cùng cô Tư Hồng.

  3. Hoà Nguyễn viết:

    “Hà Tiên trên đà phát triển, mạnh nhất là về ngành du lịch, đường xá cầu cống mở mang rộng rãi và các từng nhà cao, khu chợ bắt đầu mọc lên nhiều”

    Xin ghi vài điều. Khoảng năm 2002, chúng tôi có dịp đi từ Sa Đéc đến Hà Tiên bằng đường bộ, xe chạy dọc theo kinh Vĩnh Tế, có dừng lại Ba Chúc, vào thăm nhà giữ hình ảnh, chứng tích về “tội ác” của Khmer đỏ, và gần bên là một ngôi chùa cổ, nhờ đọc lõm bõm được vài chữ Hán tôi hiểu là thuộc đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, phải có từ lâu đời. Quang cảnh chung quanh mênh mông hoang dã, nhà cửa thấp thoáng ẩn hiện nhưng ít thấy bóng người, nổi bật giữa thiên nhiên là những cây thốt nốt cao, rất lạ đối với tất cả chúng tôi trên xe (trừ anh tài xế). Có lúc xe chạy ngang qua một khu kinh tế mới, nằm phía bên trái con đường liên tỉnh (bên phải là kinh Vĩnh Tế), gồm những nhà sàn nhỏ, vách và mái lá, nhìn thấy được bên trong trống trơn vì nhiều nhà không có cửa. Nhưng biết là nhà còn người ở, vì bên dưới sàn giữa mấy cây cọc chống có vài con gà đang bươi đất. Sau đó chúng tôi gặp một đám học sinh mặc đồng phục xinh xắn, đi bộ và đi xe đạp ngược chiều. Mãi một lúc sau xe mới chạy qua ngôi trường ngói đỏ. Tính ra các em nhỏ đi bộ từ trường phải ba đến sáu cây số mới về tới nhà.

    Hà Tiên vào năm đó rất nghèo, có lẽ từ khi trở thành một huyện của tỉnh Kiên Giang, sau Giải phóng, ít được quan tâm tới. Chúng tôi được dịp viếng lăng Mạc Cửu, Thạch Động, ghé thăm nhà thờ cố thi sĩ Đông Hồ, mua vài tập thơ và sách ở đó, chắc như tác giả bài viết này. Thú nhất là buổi trưa nằm võng dưới hàng dừa xanh nhìn ra sóng nước, và khi chiều xuống ngắm mặt trời lớn, đỏ hồng lặn dần xuống biển Hà Tiên.

  4. Hoàng Trường Sa viết:

    Bạn Phùng Tường Vân thân mến,

    Bạn nhớ rất đúng. Tôi cũng nhớ như vậy tuy nguồn gốc chính xác về việc ông Trần Văn Trạch nói câu bất hủ về “cái cột đèn” trong hoàn cảnh nào (trong cuộc phỏng vấn nào) thì tôi cũng không nhớ và mong các bạn nào biết thì bổ túc cho.

    Độc giả Tuấn Nguyễn trong ý kiến về bài Chủ đề: Tiếng hát Trần Văn Trạch cũng viết như sau:

    “Chào Mỹ Kiều
    – Tuấn rất thích ông trần văn Trạch lắm, thuở nhỏ thời TT Ngô Đình Diệm, mổi lần chờ sổ số thì nghe quái kiệt Trạch hát: “Kiến thiết quốc gia giúp đồng bào ta mua lấy xe, nhà, giàu sang mấy hồi…” mà sao click vào mp3 của bạn lại bị chặn? không biết nữa.
    – Sau 1975 nghệ sĩ Trần văn Trạch, oversea có nói một câu bất hủ :“-Cái cột đèn đi được nó cũng đi” ông đi theo chế độ cũ VNCH, còn ông anh là Trần văn Khê đi theo CM, tôi có biết rõ ông Khê có người vợ VN quê mùa ở lại quê hương có người con trai là kiến trúc sư Trần văn Minh(trong trường đại học có biệt danh là Minh bò)chơi nhạc rất giỏi, hoạt bát.
    – Hai vị đi hai hướng vị nào cũng nổi tiếng : tấu hài và âm nhạc. Hiện nay ở VN có quái kiệt Thanh Long độc tấu bằng miệng nhưng cũng chưa có thể sánh bằng nghệ sĩ Trần văn Trạch được.
    – Xin được phép nói hơi lạc đề một tí! về thể thao có nhà văn Huyền Vũ đọc thể thao hấp dẫn đến nổi như mình đang chứng kiến trận đá banh vậy đó Mỹ Kiều ạ.”
    (tuannguyen)

  5. Phùng Tường Vân viết:

    Về Chuyện “Cột Đèn Biết Đi…”

    “… Ba mươi năm trước, người chợ Rạch Giá có nói với nhau: “Cột đèn đường nếu đi được… thì nó cũng vượt biên”.

    Câu nói thời danh liên quan đến chuyện “Vượt Biên” :“Nếu cái cột đèn nó biết đi thì nó cũng đi rồi” theo tôi nhớ thì thường được attribute cho nghệ sĩ Trần Văn Trạch, bào đệ của nhạc sĩ Trần Văn Khê, (tôi không rõ vị sau này có được phong danh hiệu “Nghệ Sĩ Nhân Dân” không ?) phát biểu trong một buổi phỏng vấn nào đó; “người chợ Rạch Giá” và “đồng bào cả nước” cho đến tận ngày nay thi thoảng vẫn còn nhắc lại câu nói ấy trên báo chí, mạng, thư tín…Tôi nhắc lại chuyện này hoàn toàn theo trí nhớ (cũng đôi khi nhòe nhoẹt rồi), nếu độc giả nào có nguồn chính xác hơn xin bổ sung cho .

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...