talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Hoàng Văn – Thực dân, nô lệ, ăn mày (2)

10/06/2010 | 12:00 chiều | 30 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Hoàng Văn

Chuyên mục: Tư tưởng
Thẻ: > >

(Xem kì 1)

Vậy thì phải trở ngược lại một chút với tiến trình “tôi đòi hoá” trong lịch sử Trung Hoa, nơi mà, theo nhà chuẩn khoa bảng, vua chúa chúng ta hay dân tộc chúng ta “từ đó mà ra”. Khi chấm dứt thời kỳ phân phong để tóm thu thiên hạ về một mối, Tần Thuỷ Hoàng đã tóm thu chữ “trẫm” của thiên hạ vào cái lưỡi của mình và biến tất cả thành “tôi”, như một thứ tôi đòi.[1] Mà cũng không phải trở ngược hơn 20 thế kỷ, chỉ hơn nửa thế kỷ thôi đã thấy cái sự thể tương tự khi, vào năm 1945, lúc mới có 55 tuổi, Hồ Chí Minh đã buộc cả nước, trong đó có những thế hệ 80 hay 90, gọi mình là “bác”. Dù không độc chiếm chữ ấy như bạo vương họ Tần đã làm với “trẫm”, ông chủ tịch này cũng đã ngạo ngược không kém.[2] Và cho dù mức độ có khác nhau bởi thời thế đã khác nhau, ông chủ tịch cũng chỉ hành động theo cùng một triết lý với bạo vương là tạo nên khoảng cách trong ý đồ lễ trị.

Khoảng cách giữa những bậc quân vương như Tần Thủy Hoàng với bề tôi là một khoảng cách thực xa, trong đó kẻ tôi mọi không thể ngẩng mặt đối diện mà chỉ có thể nhìn vào bực thềm dưới chân: “Muôn tâu bệ hạ”.[3] Khi một “bề tôi” như Xuân Diệu không dám ngẩng mặt trong cách “muôn tâu” hiện đại Con ngồi trước Bác mênh mông / Tội nhiều chưa dám ngẩng trông cha già thì khoảng cách ấy có thể phần nào xích lại nếu, như có thể thấy ở phần sau, vượt qua được cái chướng ngại “tội nhiều” bằng cách… lập công”.[4] Bằng danh xưng “Bác”, lãnh tụ của hệ thống thực dân nội hoá đã ranh mãnh tạo nên một khoảng cách vừa xa, vừa gần. Đủ xa để thấy ông ta vĩ đại quá, cao cả quá. Đủ gần đề thấy ông ta gần gũi quá, thân thuộc quá, như thể cùng chia sẻ một phần máu huyết với mình. Và để tạo nên cái khoảng cách vừa xa vừa gần ấy, nhà cách mạng đội mũ cối không nhất thiết phải độc chiếm chữ “bác” nhưng lại chiếm hữu những thứ khác thâm hiểm hơn nhiều.

Như cái bài hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng”, cũng ra đời vào năm 1945, chẳng hạn.[5]

Khi nhồi sọ vào các thế hệ mầm non những câu hát thuộc loại Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng / Ai yêu các em nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh, hệ thống toàn trị đã xâm lấn vào những tâm hồn trong sáng và những giềng mối quan hệ cùng tình cảm gia đình. Không ai có thể so đo hơn thua trong những tình cảm tế nhị và thiêng liêng như thế nhưng, ngay từ đầu, đầu óc non nớt của các em đã bị ô nhiễm với cái ý tưởng kỳ thị cảm tình. Không ai yêu các em bằng “Bác”, kể cả cha mẹ ông bà. Các em cũng không thể yêu ai hơn là yêu “Bác”, kể cả ông bà cha mẹ. Mà nếu phải chăm chỉ học hành thì trước hết, các em phải học để “xứng đáng” là “cháu Bác Hồ Chí Minh”[6] Một phương pháp giáo dục như thế không chỉ tách đứa bé ra khỏi những khuôn mặt gần gũi và thân yêu nhất của mình mà còn tách các em ra khỏi chính các em, vong gia và vong thân. Cực kỳ phản sư phạm.

Không chỉ phản sư phạm, đó còn là một phương pháp sặc mùi thực dân và cái ông “Bác kính yêu” ấy không chỉ kế thừa từ thực dân cái mũ cối ở trên đầu mà còn thừa kế cả cái dã tâm xâm lược ở trong tim. Khi nhồi sọ những đứa trẻ bằng những bài ca hay vè như thế, bộ máy cai trị của ông ta đã xâm lược vào những giềng mối quan hệ thiêng liêng, thâm hiểm hơn cả thực dân Tây hay thực dân Tàu.

Thật vậy. Khi áp dụng chính sách đồng hoá người Việt cổ, thực dân Trung Hoa của ngàn năm Bắc thuộc đã xâm lấn và hủy hoại những giềng mối quan hệ của tổ tiên chúng ta thời ấy với lớp tổ tiên đi trước. Khi hủy diệt những dấu vết văn tự trên đất nước chúng ta, thực dân Trung Hoa của 10 năm Minh thuộc đã tiến hành cái trò xâm lược thâm hiểm tương tự. Khi dạy cho học trò tiểu học bài sử đầu tiên “Tổ tiên chúng ta là người Gôloa”, thực dân Pháp đã thâm hiểm một thể với mục tiêu cắt đứt giềng mối quan hệ giữa học sinh thời ấy với những thế hệ tổ tiên từ trong các huyền sử xa xăm. Nhưng khi can thiệp vào những giềng mối và quan hệ tình cảm của các em thơ, hệ thống toàn trị mũ cối đã đẩy cái trò xâm lược thâm hiểm này xa hơn, sâu hơn vào từng ngóc ngách gia đình, can thiệp sâu vào tình cảm giữa những thế hệ đang giáp mặt với nhau.

Nếu Khổng Tử cho rằng “lễ” phải đi kèm với “nhạc” thì những bằng chứng “lễ/nhạc” như thế cho thấy lãnh tụ mũ cối của chúng ta đã áp dụng y hệt nguyên lý cai trị của các bậc quân vương.

Khi bề tôi của các bậc quân vương có liều mình xả thân, họ đã không ý thức rõ rằng họ đang xả thân cho đất nước của họ. Như những kẻ ăn lộc vua, họ xả thân là để báo đáp ơn vua. Trần Quốc Toản ngày xưa, có bóp nát quả cam trong tay tại Hội nghị Bình Than rồi trở về thành lập toán quân nghĩa dũng, vị anh hùng trẻ tuổi này cũng chỉ hành động với khẩu hiệu “Phá cường địch báo hoàng ân” chứ không nêu cao khẩu hiệu “vì nước”. Nếu “nước”, trong cách hiểu theo khái niệm “quốc gia” hiện đại, là sản phẩm của cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Âu châu và du nhập vào các nước Á – Phi trong nỗ lực giải thực thì, chính với những cuộc vận động giải thực này, người dân các thuộc địa này mới hiểu thế nào là xả thân cho đất nước của mình. Nhưng đó là những cuộc cách mạng thực sự là… giải thực. Với thứ “cách mạng” chỉ để thay màu da dưới cái mũ cối thì sự thể vẫn vậy nên, có xả thân thì, trước hết, những công dân ưng ý nhất của nó cũng phải nêu cao cái khẩu hiệu dâng công lên lãnh tụ và bộ máy cai trị nói chung. Thời thực dân Pháp, thanh niên Việt Nam bị dẫn dụ hay ép buộc sang chiến trường hay cơ xưởng Âu châu để đền đáp “ơn khai hoá” của nhà nước Đại Pháp chung chung. Thời thực-dân-hậu-thực-dân thì những thế hệ tiếp nối cũng chỉ lập lại cùng cái công việc đền đáp mang bản chất ăn mày với những khẩu hiệu lập công “dâng Đảng”, “dâng Bác” hay để “xứng đáng” với niềm tin mà hai thứ ấy đã trao. Nhỏ thì chăm học để xứng là “cháu”, lớn thì chăm chăm lao vào chỗ chết để xứng hay chăm chăm với ý tưởng làm sao để xứng với “niềm tin” của bộ máy cai trị. Đất nước có thể nào ngóc đầu lên nổi khi thế hệ tiếp nối thế hệ chăm chăm nhau cái sự “xứng đáng” ngu xuẩn này?[7]

Đó là những thế hệ mà giềng mối tình cảm, trong đó có cả giềng mối quan hệ với đất nước của mình, đã bị xâm lược và hủy hoại. Mà cả lãnh tụ đội mũ cối cũng đã bị hủy họai như thế nên, khi trăn trối một cách bình tĩnh trong bản di chúc viết đi viết lại trong vòng 4 năm trời, từ 1965 đến 1969, ông ta đã không mảy may đề cập đến những tổ tiên mà chính ông ta từng nhắc nhở là “có công dựng nước”. Có viết đi viết lại thì ông ta cũng chỉ viết về cái ngày “đi gặp cụ Mác cụ Lê” và “các bậc cách mạng đàn anh” vậy thôi.[8] Như thế thì vị lãnh tụ che đầu bằng cái mũ cối thực dân này cũng chỉ là một thứ ký sinh và ở đợ tinh thần. Ông ta thản nhiên rằng ông “không có tư tưởng nào khác ngoài tư tưởng Mác – Lê Nin”. Ông ta vui vẻ rằng ông không cần viết sách lý luận và hãy để việc này cho Mao Chủ tịch chu tất.[9] Rồi ông ta sắt son rằng ông ta có thể sai chứ Mao và Stalin không thể nào sai![10] Lãnh tụ “kính yêu” mà đã thế thì nói gì là những sản phẩm ưng ý nhất của cái hệ thống giáo huấn mà ông ta nặn ra?

Đó là hệ thống nhất quán từ A tới Z, bắt đầu từ tiếng “Bác”, từ bài “đồng dao” vong thân cho lứa tuổi nhi đồng đến khẩu hiệu “Đời đời nhớ ơn…” v.v… trong lớp học cho đến những mức độ tôi đòi hoá cao hơn, phức tạp hơn về những giá trị “vĩ đại” và “vinh quang” đầy tính tôi đòi. Và đó cũng chính là những giới hạn không thể vượt qua, cũng giống như hệ thống giáo dục khoa cử Nho học với những “húy” mà sĩ tử không thể phạm, những giáo điều phải học thuộc lòng. Để “thành đạt” trong một hệ thống như thế thì phải làu làu như những sản phẩm ký sinh của hệ thống, làu làu một cách hồn nhiên hay vờ vịt hồn nhiên.

Quen với một môi trường giáo dục như thế nên tôi đã ngạc nhiên đến ngẩn người trong lớp học tạm bợ ở trại tỵ nạn về những nền tảng giáo dục và văn hoá Tây phương. Lớp học dành cho những người tỵ nạn lõm bõm đôi chút tiếng Anh, đủ để làm việc cho các cơ quan của Liên Hiệp Quốc và buổi thảo luận do một nhân viên của cơ quan quốc tế này hướng dẫn tưởng là bình thường như một cơ hội để hoàn thiện tiếng Anh: “Theo bạn, ai là người vĩ đại nhất nhân loại”. Bình thường thôi và chúng tôi, đâu khoảng mười học viên, tiếp nối nhau nêu tên thần tượng của mình, vận dụng bằng hết khả năng Anh ngữ để chứng minh thật thoả đáng luận điểm của mình. Người theo Đạo Phật thì có Đức Phật. Tín đồ Thiên Chúa giáo thì có Chúa Jesus. Kẻ mê khoa học thì Albert Einstein, người mê văn chương thì Victor Hugo, Leo Tostoy và, có người thì đơn giản: “Mẹ tôi”. Chúng tôi thảo luận rào rào như thế bằng kiến thức và ngôn ngữ chắp vá của mình cho đến khi nhận được câu trả lời riêng cho từng người, để trong hộp giấy cứng, mang ra đọc ở ngoài hành lang.

    Lời đáp thật đơn giản và thật bất ngờ: một tấm gương soi dưới đáy để câu trả lời, cho bất cứ ai đến lượt, cũng chỉ là khuôn mặt của mình.

    Đó không đơn thuần là lời đáp cho một câu hỏi mà là một triết lý, một nền tảng văn hoá đã làm tôi ngây người như một phát minh thú vị. Mà quả là thú vị khi, trong một hoàn cảnh trớ trêu như thế lại có thể, vô hình trung, gặp lại Nguyễn Thái Học trên một miền đất lạ. Bạn mới là người vĩ đại nhất. Bạn cho rằng Đức Phật là người vĩ đại nhất ư? Bạn cũng có thể có trở thành Phật lắm chứ, vấn đề là bạn có muốn làm hay không! Bạn cho rằng Einstein là người vĩ đại nhất ư? Tại sao bạn không cố lên, bạn cũng có thể trở thành một nhà khoa học như ông ta lắm chứ? Vân vân, bao nhiêu là tên tuổi vĩ đại nhưng cứ ước mơ, cứ tưởng tượng và cứ gắng sức, hoàn toàn không có một giới hạn nào đặt ra trước mặt: Không thành công cũng thành nhân.

    Không thành công cũng thành nhân và hiện tại đã có quá nhiều lời ta thán về tình trạng “không thành công mà cũng chửa thành nhân” của nền giáo dục toàn trị với sự khủng hoảng hầu như toàn diện. Khủng hoảng từ sự áp dụng máy móc của những giáo điều xơ cứng đến sự lúng túng, thiếu sáng tạo trước những đòi hỏi gay gắt của cuộc sống. Khủng hoảng từ nhân phẩm của ông thầy cho đến đạo đức của học trò. Khủng hoảng từ chương trình giảng dạy cho đến thể lệ thi cử, khủng hoảng từ những thay đổi xoành xoạch chẳng đâu vào đâu và những chính sách mâu thuẫn, chồng chéo lên nhau. Một cuộc khủng hoảng mà, cả những người trí thức nhất và tâm huyết nhất vẫn phải bó tay trong cái khát vọng tạo nên cú hích thay đổi. Họ bó tay, bất lực. Họ mù tịt, chẳng biết phải bắt đầu cú hích ở chỗ nào.

    Thì cũng dễ hiểu thôi. Khi nền giáo dục đóng khung trong những giới hạn không thể vượt qua thì tự thân nó đã là một giới hạn không thể vượt qua, trớ trêu như là tự mắc vào cái bẫy của chính mình với cái tình thế Catch –22 không thể nào giải quyết.[11] Nếu hệ thống chỉ nhắm đến việc đào tạo những sản phẩm ký sinh thì những thành viên thành đạt nhất phải chứng tỏ được khả năng ký sinh cao nhất. Mà thành đạt nhất cũng có nghĩa là quyền lực nhất. Trong mối quan hệ cộng sinh giữa quyền lực như thế với và tình-trạng-hiện-hữu, cái status quo của hệ thống, thành viên nào dám vứt hết những phần thưởng nhận được để phá vỡ sự ổn cố của hệ thống đang trao thưởng cho mình?

    Như thế, chính bản chất thực dân của hệ thống toàn trị mới là căn nguyên lớn nhất của tình trạng khủng hoảng nói trên. Cái cuộc khủng hoảng toàn diện không thể nào cải tổ mà, để giải quyết, phải tiến hành sự thay đổi toàn diện mang tính cách mạng.

    Như cuộc khủng hoảng về đạo đức thầy trò chẳng hạn. Trang bị cái gọi “văn hoá mới xã hội chủ nghĩa” hay “văn hóa quần chúng”, hệ thống toàn trị đã xâm lấn vào văn hoá truyền thống và do đó “tách” công dân của mình ra khỏi những giá trị truyền thống ở đó thầy phải ra thầy và trò phải ra trò cùng những chuẩn mực “hiền minh” để tin, theo  khác. Bác đã lên đường nhẹ bước tiên, Mác Lê Nin thế giới người hiền, nếu chuẩn mực “hiền minh” của thứ “văn hoá mới” này là những lãnh tụ chuyên hô hào đập phá, hô hào cái sự tiêu diệt giai tầng khác để bảo đảm quyền lợi của giai tầng mình thì hậu quả phải là những thành viên quen mùi đập phá, quen mùi tiêu diệt và quen mùi với quyền lợi riêng mình, trong đó có những “thằng thầy” và những “thằng trò”.[12]

    Hay như, những lời ta thán về sự xuống cấp của tiếng Việt. Đây đó, đã có những lời báo động về ảnh hưởng của kỹ thuật, nhưng sự nhiễu xạ từ tác động kỹ thuật chỉ thuần túy là cạnh kỹ thuật bởi, trước sự du nhập của những cái máy computer hay cái mobil phone, ngôn ngữ chẳng đã từng bị ta thán là bết bát cái sự xuống cấp là gì? Vấn đề ở đây là, khi hệ thống toàn trị tách rời con người ra khỏi đất nước mình, do đó tách rời họ ra khỏi tiếng nói chung gọi là “Quốc ngữ” của mình và ngày đêm nhét vào tai họ ngôn ngữ chính trị của hệ thống. Hậu quả phải là tình trạng loạn ngôn khi tiếng nói đã bị nhiễu xạ và xuống cấp theo ngôn ngữ đấu tố, ngôn ngữ nghị quyết và ngôn ngữ tuyên truyền, thứ ngôn ngữ mang bản chất thực dân và mỵ dân của bộ máy giáo huấn toàn trị.[13]

    Và như, những lời ta thán về vấn đề sang nhượng lãnh thổ và sự thờ ơ của đa số công dân trước vấn đề lãnh thổ. Đã tiến hành “cách mạng” chỉ để thay đổi màu da dưới cái mũ cối thì hệ thống cũng chỉ kế thừa lãnh thổ như thể là kế thừa cái mũ ấy trên đầu. Đã kế thừa lãnh thổ như một thứ thực dân thì cũng hành động như một thứ thực dân và hậu quả là đất đai bị tùng xẻo y như là thời… mất nước. Và khi con người bị hệ thống tách ra khỏi đất nước, phải tồn tài bằng cách bám vào hệ thống như một thứ ký sinh, họ đâu còn biết đến “lãnh thổ quốc gia”? Cái mà họ biết hay chỉ vờ vịt biết là không gian sinh tồn, là cương vực riêng của hệ thống.

    Hẳn nhiên, những chủ trương ngu dân như thế không thể thể nào dung hợp với khát vọng sống của con người. Nếu đã không hợp với con người mà những từ ngữ dành cho sản phẩm của nó như “nô lệ”, “ăn mày”, “ở đợ tinh thần”, “con tin” hay “con nợ” và “ký sinh trùng chính trị” đã trở thành nhàm chán, chúng ta có thể nào sử dụng đến từ “con thú”?

    Xã hội thì phải luôn tiến hoá. Mà khi hệ thống toàn trị đang đẩy xã hội và con người đi vào những bước thoái hoá nối dài thì, có lẽ, hệ thống thực dân nội địa này cũng đang dần biến con người chúng ta trở thành con thú…[14]

    8.6.2010

    © 2010 Nguyễn Hoàng Văn

    © 2010 talawas


    [1] Trước đó thì là “trẫm” là đại danh từ nhân xưng ngôi thứ nhất nhưng từ đây thì chỉ mỗi Tần Thuỷ Hoảng được xưng “trẫm”, còn lại thì tất cả phải là “tôi”, nghĩ “tôi tớ”.

    Sử ký của Tư Mã Thiên, chương “Tần Thủy Hoàng bản kỷ”, bản dịch của Nhữ Thành, đã ghi với lời chú:.

    “… Quả nhân, một người nhỏ bé hưng bính trừ khử bọn bạo nghịch làm loạn. Nhờ uy linh của tôn miếu, sáu nước đều chịu tội thiên hạ bình định. Nay nếu không thay đổi danh hiệu thì không sao xứng với cái công lao đã làm được và truyền cho đời sau. Các ngươi hãy bàn nên đặt hiệu đế như thế nào.

    Thừa tướng là Vương Quán, ngự sử đại phu Phùng Kiếp, đình úy Lý Tư đều tâu:

    -Ngũ Đế ngày xưa đất chỉ vuông ngàn dặm, ngoài ra là đất đai của chư hầu và của man di, họ vào chầu hay không thiên tử cũng không cai quản được. Nay bệ hạ dấy nghĩa binh, giết bọn tàn ác và nghịch tặc, bình định được thiên hạ, bốn biển thành quận và huyện, pháp luật và mệnh lệnh đều thống nhất ở một nơi, từ thượng cổ đến nay chưa hề có, Ngũ Đế đều không bằng. Bọn thần sau khi bàn bạc kỹ lưỡng với các bậc sĩ thấy rằng: Ngày xưa có Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Thái Hoàng, nhưng Thái Hoàng là cao quý nhất. Bọn thần liều chết xin dâng tôn hiệu của nhà vua là Thái Hoàng, mệnh ban ra gọi là “chế”, lệnh ban ra gọi là “chiếu”, thiên tử tự xưng gọi là “trẫm” (1).

    Nhà vua nói:

    -Ta bỏ chữ “thái”, lấy chữ “hoàng”, thêm chữ “đế”, của những vị đế thời thượng cổ hiệu gọi là Hoàng Đế còn những điều khác thì như lời các khanh tâu.

    ……………………..

    1. Các đời trước không dùng danh từ “chế” và “chiếu”. “Chế” quan trọng hơn “chiếu”, chỉ nhà vua mới được dùng chữ ấy, còn Thái Hậu thì có khi dùng chữ “chiếu” khi thay thế nhà vua trị dân, nếu gọi là “chế” tức là có ý muốn làm vua. “Trẫm” trước là một đại từ chỉ ngôi thứ nhất dành cho mọi người. Sách đạo giáo dùng chữ trẫm để chỉ một lực lượng siêu tự nhiên, một đấng không ai trông thấy. Bọn Lý Tư đề nghị dùng chữ này là vì thế.”

    …”

    [2] Theo tiểu sứ chính thức thì Hồ Chí Minh sinh ngày 19.5.1890, nghĩa là năm 1945 mới có 55 tuổi.

    Xin dẫn câu thơ của Xuân Diệu, bài “Anh Cụ Hồ”, Thơ dâng Bác, tuyển tập 1945 -1955

    Trẻ con sớm dậy thoảng tơ vương.

    Bác ở trong lòng biết mấy thương!

    Bô lão đêm nằm mơ lứa tuổi,

    Thấy vui như nhớ một vừng dương.

    [3] Bậc tôi tớ, không được ngẩng đầu nhìn thẳng mặt bậc quân vương, chỉ được phép nhìn vào bệ đá dưới chân vua mà tâu.

    [4] Xuân Diệu, “Thơ dâng Bác Hồ”, viết năm 1953

    [5] Phong Nhã, “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”

    “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng (3 lần)

    Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt Nam.”

    Phong Nhã tên thật là Nguyễn Văn Tường, sinh năm 1924. Bài này sáng tác vào cuối năm 1945, lúc Hồ Chí Minh mới có 55 tuổi nhưng cũng đã “già hoá” ông ta: “Hồ Chí Minh kính yêu Bác đã bao phen bôn ba nước ngoài vì giống nòi / Bác nay tuy đã già rồi / Già rồi nhưng vẫn vui tươi…”

    [6] Bài thơ “Thư Trung thu” của Hồ Chí Minh, đăng báo Nhân Dân ngày 25-9-1952:

    Ai yêu các nhi đồng

    Bằng Bác Hồ Chí Minh?

    Tính các cháu ngoan ngoãn

    Mặt các cháu xinh xinh

    Các cháu hãy cố gắng

    Thi đua học và hành

    Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

    Tùy theo sức của mình

    Để tham gia kháng chiến

    Để gìn giữ hoà bình

    Các cháu hãy xứng đáng

    Cháu Bác Hồ Chí Minh.

    [7] Thí dụ như ca khúc “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” của Huy Thục: “ Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận / Trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác / Nở ngàn hoa chiến công ta dâng lên Người / Dâng lên tới Đảng cả niềm tin chiếu sáng ngời…”

    Cũng có thể thấy điều này qua các khẩu hiệu mới nhất như “Công an nhân dân chỉ biết còn Đảng còn mình” hay “Đảng, mùa Xuân, Dân tộc”.

    Xem: Nguyễn Tôn Hiệt, “Những khẩu hiệu quái đản”, Tiền Vệ:

    http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=10633

    [8] Theo thông tin chính thức của Đảng Cộng sản thì Hồ Chí Minh bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật của mình vào năm 1965, và sửa đi sửa lại trong những dịp sinh nhật tiếp theo. Trong di chúc có đoạn:

    Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.”

    Xem:

    http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340579&cn_id=344472#Kwl9PlPEcFPR

    [9] Nguyễn Văn Trấn (1995) Viết cho mẹ & Quốc hội, California: Văn Nghệ, tr. 143:

    “Hôm đó, là tổ trưởng, tôi làm nhiệm vụ phản ảnh trực tiếp. Một mình Bác Hồ, một mình tôi. Tôi báo cáo tình hình, anh em trong tổ nói bộ hết duyên rồi sao mà lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm tư tưởng chỉ đạo Đảng ta. Nhưng anh em giao là nói trong tổ cho nhau biết chớ không phát biểu ở hội trường. Và đã lỡ miệng nói một điều quan trọng như vậy, trong quan hệ quốc tế này thì ngậm miệng đừng nói đi nói lại là hơn. Hồ Chí Minh nhắm hí mắt như Staline khi gặp vấn đề khó nghĩ, và tìm chữ. Tôi thưa tiếp: – Có đồng chí còn nói: Hay ta viết “tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh” có phải hay hơn không! – Câu nói của tôi làm cho mắt ông già rạng lên theo lời đáp cấp kỳ: – Không, tôi không có tư tưởng ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê nin.”

    Chuyện xảy ra trong Đại hội Đảng lần thứ hai, năm 1951 tại Chiêm Hoá, Tuyên Quang/ Tổ này “Tổ Nam bộ” hay “Tổ quốc tế” gồm Hồ Viết Thắng, Kay Xon (sau là Tổng Bí thư ĐCS Lào), Ung Văn Khiêm, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Bùi Lâm, Bùi Công Trừng. Trần Công Tường, Trần Duy Hưng, v.v…

    Trong một cuộc phỏng vấn, khi một ký giả hỏi tại sao ông không bao giờ viết các tác phẩm nghiên cứu về tư tưởng, Hồ Chí Minh trả lời “Tôi có gì để viết nữa, tất cả lý luận cần thiết Mao Chủ tịch đã nghĩ đến và viết ra rồi”.

    Xem: William J. Duiker (2000) Ho Chi Minh. New York: Hyperion, tr. 5.

    [10] Bùi Minh Quốc. “Làng văn một thời, và…” talawas [23/6/2004 ]

    http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=2180&rb=0102

    [11] Catch 22 là tên một tác phẩm của nhà văn Mỹ Joseph Heller, xuất bản lần đầu năm 1961 và nhưng từ ngữ này đã trở thành một thành ngữ diễn tả tình trạng bị ràng buộc bởi hai phía, tiến thoái lưỡng nan.

    Nhân vật trong truyện là Đại úy Joseph Yossarian, phi công lái máy bay oanh tạc trong Đệ nhị Thế chiến. Phi công này xin nghĩ bay với lý do bị tâm thần, không đủ sức bay theo điều khoản Catch-22. Tuy nhiên theo bác sĩ quân y thì khi phi công này đến yêu cầu “nghỉ bay vì lý do tâm thần”, chứng tỏ anh ta còn tỉnh táo.

    [12] Trích trong bài “Bác ơi” của Tố Hữu, bài thơ đề ngày 6.9.1969.

    [13] Tôi đã hai lần trình bày về tác động giữa quyền lực và ngôn ngữ trên Tiền Vệ.

    Xem: Nguyễn Hoàng Văn, “Ngôn ngữ, văn học và chính trị”:

    http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=3927

    cùng: “Ngôn ngữ và quyền lực”:

    http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=5605

    [14] Liên quan đến “con thú” và “con người”, tôi nhớ câu thoại trong đoạn mở đầu phim Chuyện tử tế của đạo diễn Trần Văn Thủy: “Chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi đau khổ của con người mà chăm lo riêng cho bộ da của mình”.

    Theo dõi những cuộc tranh luận hay cãi cọ về dự án đường sắt cao tốc tại Việt Nam sẽ tìm thấy rất nhiều kiểu lập luận theo kiểu “quay lưng… chăm lo riêng cho bộ da của mình”:

    - Bộ trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng: Muốn “chọn phương án hoành tráng nhất, làm đường sắt cho tốc độ 300 km/h dù chỉ chở được hành khách vì “muốn đi ngay vào hiện đại”.

    - Bộ Trưởng 4T, Lê Doãn Hợp: “Nếu ta làm đường thì họ mới ưu ái cho vay vì tình nghĩa với Việt Nam chứ nếu ta muốn đầu tư nông thôn, vùng sâu vùng xa thì làm sao vay được”.

    - Giám đốc công an TP Hải Phòng Trần Bá Thiều: “Người ta cho vay thì mình cứ vay, có nơi cho vay là tốt quá. Cứ ý kiến ra, ý kiến vào. Nếu Chính phủ đã quyết liệt như vậy thì tại sao Quốc hội không ủng hộ Chính phủ? Tần Thủy Hoàng xưa nếu không quyết liệt thì làm sao để lại Vạn lý Trường Thành?”.

    Xem:http://boxitvn.wordpress.com/2010/06/05/n%E1%BB%A3-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngoi-nhi%E1%BB%81u-con-nghi%E1%BB%87n-s%E1%BB%91ng-d%E1%BB%9F-ch%E1%BA%BFt-d%E1%BB%9F/

    Phản hồi

    30 phản hồi (bài “Nguyễn Hoàng Văn – Thực dân, nô lệ, ăn mày (2)”)

    1. [...] http://www.talawas.org/?p=21230 [viii] Nguyễn Tôn Hiệt, Ông nghè Ngô Tự Lập không thiệt thà chút nào [đối thoại] http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=10688 [...]

    2. Hoà Nguyễn nói:

      Ông P viết : ” (bác nói) không phải nhờ tài của HCM mà VM cướp được chính quyền… Thời kỳ 1945 – 1950, tôi thấy HCM khá khéo léo trong quan hệ ngoại giao.” .

      Tôi nghỉ cướp chính quyền ở Hà Nội do nhóm VM ở nội thành thừa cơ hội thực hiện, và những mưu toan, hoạt động của họ được ông Nguyễn Hữu Đang thuật lại trong một bài đã đăng trên talawas. Nhưng theo các tài liêu tôi đọc đâu đó, ông Trường Chinh có vai trò rất quan trọng, có thể ở vị trí chỉ đạo trong biến cố 19-8. Thử nhắc tiếp các sự cố tiếp theo để thấy rõ hơn. Tôi dựa theo những tài liệu nghĩ là tin được.

      Ngày 20-8, VM chiếm đài vô tuyến điện ở Bạch Mai, phát thanh lời hoan hô và kêu gọi của phong trào Việt Minh, và như vậy họ nắm được phương tiện thông tin, tuyên truyền nhanh chóng, lợi hại, có sức áp đảo. Ngày 21-8, nhóm thanh niên trí thức họp tại đại học xá Hà Nội, gửi điện yêu cầu Bảo Đại thoài vị. Ngày 22-8, Mặt trận VM bắt đầu xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Ở Huế, Trần Trọng Kim khuyên Bảo Đại đừng nhờ lính Nhật chồng lại VM, ví sẽ mất chính nghĩa với dân và với Đồng Minh. Nên biết lúc đó triều đình Huế từ Bắc vào Trung có khoảng 22 ngàn lính khố đỏ, khố xanh, nhưng không có bộ Binh (bộ Quốc Phòng) để điều động, và số lính trên thuộc quyền các địa phương nhưng phần đông đã bỏ theo VM hay các đảng phái khác. Ngày 22-8, Bảo Đại đánh điện mời VM vào Huế. Ngày 23-8, chính phủ lâm thời của VM thành lập, Chủ tịch kiêm Ngoại giao là Hồ Chí Minh, nhưng cà nước không ai biết HCM là ai, lúc đó đang ở đâu. Ngày 25-8, Bảo Đại đọc chiếu thoái vị, trao quốc ấn và bảo kiếm cho đại diện VM là Trần Huy Liệu, và Cù Huy Cận; như vậy phong trào VM có danh nghĩa được vua nhà Nguyễn chuyển giao quyền lực, từ đó nắm hết các cơ quan chính phủ, đại diện quốc dân trước thế giới, và các đảng phái nào khác chống lại VM chỉ là phỉ, phiến hay nguỵ.

      Cũng trong ngày 25-8-1945, ông Hồ Chí Minh được đưa từ Tân Trào về nhà của một nông dân ở ngoại thành Hà Nội. Theo ông Võ Nguyên Giáp sau này kể lại lúc đó HCM rất yếu phải (khiêng) đi bằng cáng. Theo tài liệu khác, trước đó khi còn trong vùng “giải phóng”, HCM từng bị bệnh kiết lỵ rất nặng, nhóm OSS của Mỹ phải gọi một bác sĩ Mỹ nhảy dù xuống chữa trị mới “qua khỏi”. Có tấm ảnh chụp HCM và Võ Nguyên Giáp đứng cạnh nhau, cho là lúc ở hang Pác Pó, năm 1941, VNG mặc bộ đồ tây trắng, thắt cà vạt, mang giày, còn HCM mặc short, mang dép, trông gầy yếu như già khoảng 60 (thật ra lúc đó HCM mới 51 tuổi), nên dễ được gọi là “bác”, trong dân gian còn gọi là “cụ” (như nói tiền cụ Hồ, bộ đội cụ Hồ),

      Từ ngày 14-8, Nhật tuyên bố trao trả Nam bộ cho triều đình Huế, giao chính quyền Nam kỳ cho Trần Văn Ân, và Hồ Văn Ngà là Phó Khâm sai (Khâm sai Nguyễn Văn Sâm lúc đó ở Huế, chưa vào tới). Bảo Đại tuyên bố huỷ bỏ các hiệp ước đã ký với Pháp. Nhật đầu hàng ngày 15-8. Đền ngày 20-8, được tin Hà Nội khởi nghĩa, Xứ Uỷ Nam kỳ (của Đảng CS) họp tại Chợ Đệm, tỉnh Chợ Lớn, quê của Nguyễn Văn Trấn. Ngày 22-8, VM tiến vào chiếm các công sở tại Tân An. Ngày 23-8, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đổi tên Thanh niên Tiền phong do ông lãnh đạo thành Thanh niên Cứu quốc. Đêm 24 VM chiếm dinh Khâm sai, sở cảnh sát, đài phát thanh, bưu điện, nhà đèn, kho bạc. Sáng ngày 25-8, cán bộ Thanh niên Cứu quốc huy động được một số đông đảo quần chúng trước tòa Thị Sảnh Sài Gòn, ra mắt Lâm Uỷ Hành Chánh do Trần Văn Giàu làm chủ tịch, và Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời tại Nam bộ, đồng thời nắm luôn chính quyền đang bỏ trống.

      Ngày 27-8, HCM gặp các bộ trưởng trong chính phủ tại phủ Khâm sai. Ngày 2-9-1945, trước bàn thờ tổ quốc dựng tại vườn hoa Ba Đình, mấy trăm ngàn người về dự lể Độc lập, và Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn :” …Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo Hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.
      Lời nói bất hủ ấy trong bản tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ….Bản tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân quyền của Cách Mạng Pháp năm 1791 cũng nói: ” Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn tự do và bình đẳng về quyền lợi”

      (Dựa theo tài liệu thấy ngoài này).

      Biến cố “toàn dân khởi nghĩa” từ Bắc vào Nam nhìn chung vẫn là nhẹ nhàng, không đổ nhiều máu, Nhưng tiếp theo là những thủ tiêu, khủng bố, và chiến tranh kéo dài cho tới 30 năm sau. Ông Hồ Chí Minh đối phó và loại trừ các đảng Đại Việt, Quốc Dân đảng, củng cố quyền lực tuy khôn khéo, nhưng dễ dàng vì ở thế “thượng phong”. Nếu so sánh, vào năm 1954, Ngô Đình Diệm đứng trước tình hình phức tạp hơn, hay khó khăn không kém, và cũng vượt qua được. Chính sách ngoại giao của ông Hồ Chí Minh vào thời đó có thành công hay không còn là một dấu hỏi, hay tuỳ quan điểm. Có lẽ chỉ thành công ở mặt giúp kéo dài thời gian để tiêu diệt hết các lực lượng chống đối trong nước, trước khi Pháp đặt chân lại Hà Nội. Nhưng cả Pháp và VN lúc đó đều giằng co trên bàn hội nghị vì đều muốn “mua thời gian”, để tập họp đủ lực lượng trước khi tung ra chiến trường.

    3. P nói:

      Bác Hòa Nguyễn:

      Cám ơn bác đã trả lời khá chi tiết.

      Trong phản hồi của bác, bác nói không phải nhờ tài của HCM mà VM cướp được chính quyền. Tôi chưa đọc nhiều về vai trò của HCM trong giai đoạn này nên không dám có ý kiến. Thời kỳ 1945 – 1950, tôi thấy HCM khá khéo léo trong quan hệ ngoại giao. Ít nhất ông ta cũng đã làm khá nhiều việc để củng cố nền độc lập thông qua con đường ngoại giao (với Pháp và Mỹ – một điều khiến Stalin không ưa ông). Tuy trong lúc HCM ngoại giao thì VM cũng rục rịch chuẩn bị chiến tranh. Nhưng chuẩn bị thì cũng chưa phải là chiến tranh.

      Từ đó tôi thấy ông HCM có tinh thần dân tộc hơn là tinh thần CS. Rất tiếc cuối cùng những nỗ lực của ông thất bại, khiến HCM ngả hẳn về phía CS để được trợ giúp chống Pháp.

      Cái dở mà tôi thấy là trong nước đã không đoàn kết được để cùng đối phó với người Pháp. Mà cái này HCM có lỗi, nhưng không phải là người có lỗi duy nhất. Những tổ chức chống cộng cực đoan cũng quyết không đội trời chung với HCM.

      Ngoài ra, cái mà bác Hòa Nguyễn gọi là “vận nước”, cũng chính là cái ý tôi đã nói trước đây, tức về “điều kiện thuận lợi” thì chưa chắc là HCM có ít điều kiện thuận lợi hơn người khác đâu.

      Bác Nguyễn Đăng Thường:

      Bác so sánh HCM với Bin Laden, tôi cũng có thể so sánh HCM với Bush cha lẫn con, với Nixon, với Johnson, với Ngô Đình Diệm, etc. Tôi không nghĩ là mấy ông kia nhân bản hơn HCM rất nhiều đâu. Nói cách khác, chỉ có thể dùng số liệu để xem ai phạm nhiều sai lầm hơn, nhưng phạm ít sai lầm hơn chưa chắc là nhân bản hơn.

      Tất cả những người kể trên đều vì quyền lợi của một nhóm người nào đó [có thể là cả một dân tộc, hay một đảng phái, etc.] để đưa ra những quyết định ảnh hưởng tới đời sống sinh mệnh hàng vạn người khác. Ai nhân bản trong số họ?

      Thú thật, ở vị trí lãnh đạo như họ, những người thực sự đáng được gọi là có nhân bản tôi đếm được rất ít.

    4. Nguyễn Đăng Thường nói:

      Bác Trương Đức ui,

      Hiệp Định Hòa Bình Phản Hồi đã ký xong
      vậy là ta có thể “bắt xua” mừng ngày Đại Đoàn Kết
      và hẹn gặp nhau lại trong một trận Đống Đa khác.

      Chót nhưng không chét
      xin đa tạ Bác Phùng Tường Vân sứ giả hòa bình.

      Và xin tái bút:

      Lần sau có đọc Phản “hèn”
      Thấy lỗi chính tả cứ… khen đừng “rầy”!

      Hi hi.

      Kính quí.

    5. Trương Đức nói:

      “Tuy nhiên lời châm biếm ngụ ý rằng kẻ đã viết sai chính tả ắt phải thiếu suy nghĩ “chín chắn” thì tôi e là hơi bị… thiển cận chăng?” (Nguyễn Đăng Thường)

      @ông Nguyễn Đăng Thường,

      Ông nói đúng. Thú thực là tôi đã có cái ngụ ý châm biếm như ông nói, khi viết “Xin ông Nguyễn Đăng Thường thay vì cứ tiếp tục sử dụng lại các từ ngữ “sai lệch”, hãy suy nghĩ lại và viết (lách cho) “chín chắn” (hơn).” Xin ông thứ lỗi! Việc này đã xảy ra được, chẳng qua cũng là do tôi bị “dị ứng” với câu này của ông: “Xin độc giả và ông Trương Đức thay vì cứ tiếp tục sử dụng lại các định kiến đã sáo mòn, hãy suy nghĩ lại cho chín chắn hơn.” nên mất bình tĩnh, và dẫn đến việc có cái nhìn “thiển cận” về ông khi viết PH trả lời ông. Nhưng thôi, “chiểu” theo tấm lòng quí mến mà bác Phùng Tường Vân (Cám ơn “lão tướng” của tôi!) gửi đến cho ông và cho tôi, tôi xin:

      Lần sau có viết Phản hồi
      Những lỗi chính tả thì… thôi đừng “sờ”!

      Trân trọng.

    6. Phùng Tường Vân nói:

      “Giữ gìn nhau mong thuở Ta Về…”

      Thưa hai ông Nguyễn Đăng Thường & Trương Đức.

      Tôi, phải núp dưới bóng cao cả của Nguyễn Du, mới có được hai câu vần vè này xin được gửi tới hai vị với tất cả lòng quý mến :

      Ta còn chút bút lực này
      Xin gìn giữ nó đừng giày cho tan !

      Trân trọng,

    7. Hoà Nguyễn nói:

      Ông P nói : “ tại sao chính quyền Trần Trọng Kim không có đủ lực, không có đủ sự ủng hộ, không có đủ khả năng tuyên truyền, không được tổ chức chặt chẽ như Việt Minh

      Theo tôi nghĩ đó chuyện thời và thế, hay các nhà Nho cho là vận nước.

      Đảng CS là một tổ chức quốc tế, có nhiều kinh nghiệm trong vận động quần chúng và cướp chính quyền. Không phải nhờ vào tài giỏi của ông Hồ lúc đó vừa từ biên giới về Tân Trào, hay của ông Trường Chinh người dường như thật sự chủ động trong biến cố 19-8 ở Hà Nội, mà người của đảng CSVN đã được nghiên cứu, huấn luyện theo các phướng cách, kinh nghiệm ở Liên Xô và Trung Quốc.

      Trong khi đó, các thế lực chính trị khác chỉ suy tư và phản ứng theo lối mòn với phương thức cũ. Chình phủ Trần Trọng Kim gồm nhiều trí thức đúng nghĩa, tchỉ trong 5 tháng đã làm được nhiêù việc, như phong trào Thanh Niên Tiền phong của Phan Anh, Bình dân học vụ, bắt tay xây dựng nền giáo dục quốc dân phù hợp với nước nhà “độc lập” của Hoàng Xuân Hãn. Nhưng Nhật bất ngở đầu hàng ngày 15-8 làm chính quyển Huế chới với, và chắc là nội các họp cả ngày 16/8 để có thể ra nhiều quyết định trong ngày 17-8. Góp ý trước, tôi không ghi lời kêu gọi quốc dân của Bảo Đại, xin trích thêm : “ Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc…mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc. Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hy sinh về tất cảc phương diện.
      Trẫm để hạnh phúc của toàn dân lên ngai vàng của Trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hy sinh như Trẫm
      “.

      Đọc đoạn trên chúng ta thấy hai điều: (1) Bảo Đại coi như nước nhà đã độc lập, chỉ quan tâm chuyện Pháp trở lại ; (2) Bảo Đại nói rằng ông sẵn sàng làm dân thường ngay từ hôm đó, chứ không phải tới khi trao ấn kiếm cho Việt Minh mới nói điều này.
      Sau đó, triều đình có thể đã ban bố tình trạng khẩn trương, nhưng không có gì đặc biệt, hay đề phòng phong trào VM lúc đó có khuynh hướng chống Nhật.

      Các chính trị gia, như ông Ngô Đình Diệm, trước dựa vào thề lực của Nhật để chống Pháp, nay phải mất một thời gian để nhận định lại và có hành động thích hợp với tình hình mới. Các nhóm Cao Đài, Hòa Hảo trong Nam cũng từng theo Nhật, nên có thái độ không khác ông Diệm. Các đảng phái khác ở miền Trung trước đó có nhóm dựa vào Nhật và có nhóm chống Nhật, nên thế lực phân tán. Các lực lương VN Quốc Dân đảng ở TQ trước theo quân Nhật vượt biên giới đánh Pháp, đến khi Pháp bắt tay với Nhật thì họ bị Pháp tiêu diệt, nên lực lượng quân sự không còn gì. Các đảng phái quốc gia ở TQ lại thiếu đoàn kết.

      Lúc đó, phía VM đã thuyết phục được khâm sai (của triều đình Huế) Phan Kế Toại, và bộ trưởng Thanh Niên Phan Anh về với họ. Phan Kế Toại có con đang hoạt động cho VM, và em Phan Anh là Phan Mỹ là đảng viên đảng CS. Trước nữa, ông Hồ Chí Minh cùng hoạt động với nhóm tình báo Mỹ OSS ở biên giới, nhờ vậy phong trào VM coi như nằm bên phe Đồng Minh thắng trận. Vài nhân viên tình báo Mỹ có mặt trong lể Độc lập ngày 9-2-1945 tại Ba Đình. Theo lời kể của vài nhân chứng (đăng trên báo chí trong Nam trước 1975), ngày 19-8, công chức Hà Nội tổ chức mít-tinh trước Nhà Hát lớn để biểu dương ý chí bảo vệ đất nước, ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng cán bộ VM len lõi vào đám đông, bắn mấy phát súng, trương biểu ngữ và cướp diền đàn, biến thành cuộc biểu tình của VM.

      Chưa kể đến nạn đói năm Ất Dậu (1945) làm con người dê theo với phong trào quá khích, giải pháp chính trị cực đoan, hay nghiêng về phía người nghèo khổ, và sẵn sàng hy sinh.

    8. Nguyễn Đăng Thường nói:

      1 Trả lời Bác P:

      Xin lỗi bác tôi chưa đọc bài viết của Vũ Ngự Chiêu. Tuy nhiên, với tôi (mà chắc cũng với đại đa số?) cái giỏi cần phải được lồng vào cái khung nhân bản. Hồ Chí Minh có thể đã có nhiều cái giỏi (để cướp chính quyền ở Hà Nội, hay để làm những chuyện hại dân hại nước, chẳng hạn) nhưng đó chỉ là cái giỏi của một tay bất lương (?), một tướng cướp, một lãnh tụ mafia, thậm chí của một đại gia mít hiện nay (?), như tôi đã nói.

      Đó cũng là cái “giỏi” của các tay khủng bố Ảrập đã giật sập World Trade Center (do sáng kiến và hỗ trợ/hộ trợ của “thiên tài” Bin Laden).

      Đó cũng là cái “giỏi” của các tay “hackers” đã phá hoại Talawas trước đây.

      Mong bác cũng đồng ý. Nếu không thì tui xin giơ hai tay lên xin… đầu hàng.

      2. Trả lời ông Trương Đức:

      a) Thưa ông, thiễn nghĩ của tôi là “đánh” Tây/thực dân/đế quốc mãi, đã hơi bị… nhàm tai rồi.

      “Ngu dân” mà ngay thế hệ đầu đã có những tên tuổi như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Dương Quảng Hàm, Hồ Biểu Chánh… và thế hệ tiếp nối đã có Tự Lực Văn Đoàn, thơ và tiểu thuyết lãng mạn, hiện thực tả chân, trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương, báo chí tư nhân, hiệp hội, vân vân, thì cũng nên “ngu” lắm chứ.

      Tôi “dị ứng” lập luận “ngu dân” nên đã mất bình tĩnh, và có thể vì đã hấp tấp mà không nhìn thấy từ “ngu” đóng ngoặc nên đã giận cá chém thớt chăng? Xin ông thứ lỗi.

      Thành thật cám ơn ông đã mách lỗi chính tả. Tôi hay phạm lỗi chính tả vì ba cái lý do ác ôn này: (1) hồi nhỏ đã theo học chương trình Pháp (dân nô lệ mà), (2) dốt tiếng Việt, (3) lười tra từ điển.

      Tuy nhiên lời châm biếm ngụ ý rằng kẻ đã viết sai chính tả ắt phải thiếu suy nghĩ “chín chắn” thì tôi e là hơi bị… thiển cận chăng? Vì suy nghĩ (chín chắn hay nông cạn) thường phải xảy ra trước lúc viết (viết đúng hay viết sai chính tả). Nói cách khác, dưới các lỗi chính tả vẫn có thể có những suy nghĩ “đứng đắn” và ngược lại, dưới một bài viết đúng chính tả vẫn có thể là những lập luận “tào lao”?

      Thưa ông, ngoài ra chắc ông cũng đã có nghe nói về chứng bệnh “dyslexia” khiến người “bệnh” luôn luôn viết sai chính tả, mặc dù họ có thể là những “thiên tài”? Ông vào web gõ “dyslexia” và “famous dyslexic people” nó sẽ một danh sách khá dài.

      Cuối cùng, về cái lỗi chính tả to tát của tôi, tôi rất thích cái cung cách “chú bé bắt được con công” hí hửng, tự hào, vỗ tay reo mừng rất dễ thương của ông.

      Trân trọng.

    9. Tôn Văn nói:

      Bác Trương Đức,

      Tôi … „lạm nghĩ“ rằng mình cũng có hứng thú tìm hiểu các con chữ như bác; Có điều làm sao bác tìm ra những chữ hiếm thế, mà lại … LATINH làm tôi cứ RỐI TINH lên!

      Tra sang tiếng Anh thì có thêm:
      “Aquila non captat muscas” … meaning “never despairing”. – “Đừng nên nghi hoặc sự đời”?
      Thôi thì quay về „chốn cũ người xưa vậy“.

      *
      Rosa Luxemburg (đúng tên là LuxeNburg, bị thư lại ghi nhầm và lấy dùng luôn!) thực là một nhân vật xuất chúng. Bà học nhiều chuyên nghành xã hội và tự nhiên (toán học); Năm 26 tuổi (1897) bà làm luận án tiến sỹ ở Zurich. Bà thường làm việc lý luận và báo chí, chấp bút cho chương trình của Đảng Cộng sản Đức. Được coi là „phát ngôn viên (Wortführerin) của cánh tả đảng Xã hội chủ nghĩa Đức“. Bà tranh luận với tất cả các „đấng mày râu“ khác quan điểm trong đó có cả Lênin mà năm 1905 mới gặp ở London. Tôi nghĩ lời Lenin nhận xét về Rosa Luxemburg là sự đánh giá trí tuệ và năng lực của bà.

      Tôi nhớ lại câu đó phần vì có thói hay thuộc lòng những câu ấn tượng. Nhưng cái … „ấn tượng“ trực tiếp gây ngạc nhiên là vẫn thấy có người thuộc nhiều và đem ứng dụng nhanh những bài học thời còn cắp sách…

      Thực ra, nhớ lời các Sư Thày nói rằng có những „Bồ tát làm nghịch hạnh“ – Nghĩa là những người cứ làm hay nói những điều „trái xoáy“ mà nghĩ cho cùng thì đó cũng là hiện thực và có tác dụng cảnh tỉnh hoặc thử thách đối với „thuận hạnh“ – tôi cố gắng không ác cảm nhiều và biết đâu họ cũng đóng góp … „hoạt náo“ cho diễn đàn?!

      *
      Chút ít chia sẻ; Xin lỗi quần hào.

    10. Trương Đức nói:

      “Một đầu óc minh mẫn trong một thể xác tráng kiện.”
      “Có được người để trao đổi, học hỏi – Là vàng.”

      @các bác Hoàng Trường Sa, Tôn Văn thân mến,
      Xin cám ơn các bác về những điều trong PH của các bác!
      Với bác HTS, tôi tìm thấy một minh họa sinh động cho câu thành ngữ latin “Một đầu óc minh mẫn trong một thể xác tráng kiện.”, gọi là… góp vui một chút với các bác!
      Với bác TV, tôi xin được “sửa sang” (tức là làm “sang” thêm một chút câu “Có được người để trao đổi, học hỏi – Là vàng.” của bác!) thành “Có được diễn đàn để trao đổi, học hỏi – Là talawas!”

      Thân mến!

      @ông Nguyễn Đăng Thường,

      Ông viết, “3. Dân trí VN thời đó đã thấp, lại bị chế độ phong kiến và tiếp theo là chế độ thực dân làm cho “ngu” thêm… (Trương Đức)

      Không đúng. Xin độc giả và ông Trương Đức thay vì cứ tiếp tục sử dụng lại các định kiến đã sáo mòn, hãy suy nghĩ lại cho chính chắn hơn. Thực dân Pháp tuy có bóc lột, nhưng người Pháp cũng có mở mang dân trí với giáo dục miễn phí, khoa học, nghệ thuật, xây trường, nhà thương, chợ, tòa thị sảnh, cầu đường, tự do tín ngưỡng, v.v…”.

      Tôi xin có 2 ý kiến về việc này:

      1. Khi tôi nói “…và tiếp theo là chế độ thực dân làm cho “ngu” thêm…”, chữ “ngu” tôi để trong ngoặc kép, là với dụng ý nên hiểu theo ý văn cảnh của đoạn văn tôi viết trước đấy. Tức là, cái ý tôi muốn nói ra ở đây là “mầm mống dân chủ” không được “nảy sinh” trong xã hội do những chính sách ngu dân của chế độ thực dân, chứ tôi không đề cập đến vấn đề “Thực dân Pháp tuy có bóc lột, nhưng người Pháp cũng có mở mang dân trí với giáo dục miễn phí, khoa học, nghệ thuật, xây trường, nhà thương, chợ, tòa thị sảnh, cầu đường, tự do tín ngưỡng, v.v…” của ông. Bởi vì, nhìn từ khía cạch “khai sáng dân trí” thì có thể cho rằng “nước Mẹ Pháp vĩ đại” là “có công” đối với “An Nam thuộc địa” đấy, nhưng nhìn từ khía cạnh “ngu dân, bóc lột” thì “Thực dân Pháp”, hay nói chung là chế độ thực dân, đã có tội với dân tộc Việt Nam. Nhưng đây lại là một vấn đề khác, xin trao đổi với ông vào một dịp khác. Chỉ xin nói gọn lại như thế này: Về tổng thể, thực dân Pháp là có tội với dân tộc Việt Nam, kiểu như cái chế độ độc tài do ĐCSVN của ông Hồ Chí Minh nắm giữ hiện giờ ở VN là có tội đối với dân tộc VN. Tôi xin trích một đoạn của bài chủ, “Khi quyền lực chính thống tự tách mình ra, không nương tay bóc lột cộng đồng để phục vụ lấy mình như một cộng đồng con, nó đã là hiện thân của một thứ “thực dân”. Nội hoá hay ngoại hoá, đã đối phó với khát vọng sống của cộng đồng thì thứ thực dân nào cũng ngay ngáy kiểm duyệt để che đậy bản chất ăn cướp và bóc lột của mình. Nhưng kiểm duyệt cũng chỉ là một biện pháp cụ thể trong mục tiêu ngu muội hoá con người, như một đường lối nhất quán. Khi hệ thống toàn trị sắt máu hơn cả chính quyền thực dân trong chính sách ngu muội hoá ấy, nó đã sợ hãi sự thật và mong mỏi công dân của mình ngu dốt hơn cả thế lực cai trị bên ngoài đã từng sợ và từng mong.[9] Như thế, nếu cái mũ cối được xem là biểu tượng của chủ nghĩa thực dân phương Tây thì hệ thống toàn trị hiện tại không chỉ kế thừa từ thực dân Pháp cái mũ ở trên đầu mà kế thừa cả cái chủ trương ngu dân ở bên trong cái đầu.”(trích Nguyễn Hoàng Văn), để làm rõ hơn cái ý của tôi. Và xin ông đọc thêm bài này, mà trong đó có đoạn “Trong phong trào Duy tân, Phan Châu Trinh cùng Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đã lập nên một “bộ ba Quảng Nam”, đi đến nhiều miền đất nước, mở nhiều trường dạy học những tri thức mới. Vào năm 1908, hai năm sau khi được phát động, phong trào Duy tân đã lan rộng khắp cả nước, tạo nên sự kiện “Trung Kỳ dân biến”, mà sau đó, tiếc thay, đã bị thực dân Pháp và tay sai dập tắt.”

      2. Tôi thấy từ “chính chắn” không có trong từ điển tiếng Việt, chỉ có từ “chín chắn” thôi. Xin ông Nguyễn Đăng Thường thay vì cứ tiếp tục sử dụng lại các từ ngữ “sai lệch”, hãy suy nghĩ lại và viết (lách cho) “chín chắn” (hơn).

    11. Tôn Văn nói:

      mens sana in corpore sano

      Bác Trương Đức,

      Trước khi suy nghĩ thêm về đề tài „hot“ này, xin gửi bác lược dịch phần tra cứu về câu latin trên mà bác đã cho biết (theo Wikipedia tiếng Đức):

      Khẩu ngữ này là lược ghi giáo ngữ (Satiren) của thi hào thành Rôma Juvenal:
      Satiren 10, 356: Orandum est, ut sit mens sana in corpore sano.
      Hàm nghĩa câu nói của Juvenal là
      việc khấn cầu của con người nói chung nên hướng về sự lành mạnh của tâm hồn và thân xác.

      Thân mến.

    12. P nói:

      Bác Hòa Nguyễn:

      Những gì bác nói cơ bản cũng không sai. Tuy nhiên, tại sao chính quyền Trần Trọng Kim không có đủ lực, không có đủ sự ủng hộ, không có đủ khả năng tuyên truyền, không được tổ chức chặt chẽ như Việt Minh? Theo tôi biết, bên cạnh đó, các nhóm đảng phái quốc gia khác không có nhóm nào tổ chức tinh vi và sâu rộng trong quần chúng bằng Việt Minh. Kết quả họ bị Việt Minh dễ dàng thanh toán/thủ tiêu trong trò chơi quyền lực và ý thức hệ.

      Bác Nguyễn Đăng Thường:

      Bác chỉ ra những cái dở của ông Hồ Chí Minh, tôi cũng đồng ý. Nhưng bên cạnh cái dở thì ông Hồ có những cái giỏi. Những cái giỏi của ông Hồ Chí Minh thì Vũ Ngự Chiêu cũng đã có phân tích, tôi đọc và đồng ý với những phân tích đó, nên xin không phải nói lại.

    13. Nguyễn Đăng Thường nói:

      1. Nhân dân nào thì lãnh tụ đó, nhân dân đẻ ra lãnh tụ (Trương Thái Du)

      Không đúng. Hay chỉ đúng một phần, rất nhỏ. Nói vậy là bỏ quên / phủ nhận nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm”, cuộc di cư vĩ đại năm 1954, thuyền nhân, v.v. Chế độ cộng sản đã tự áp đặt lên nhân dân VN bằng bạo lực, tuyên truyền, vì đã không có bầu cử tự do, hoặc có bầu cử nhưng không có sự lựa chọn, v.v.

      2. Tôi nghĩ về mặt làm chính trị và ngoại giao thì ông Hồ giỏi hơn 3 ông kia. (P).

      Không đúng. Nếu Hồ Chí Minh có “giỏi”, có “tài” thì chỉ là cái “giỏi”, cái “tài” của lãnh tụ mafia cướp của, giết người. Ném đá giấu tay. Bề ngoài thơn thớt nói cười (tuyên truyền), bề trong nham hiểm (độc tài) giết người… bằng súng đạn Nga, Tàu, v.v.

      Nếu “ông Hồ” mà tài, giỏi thì các lãnh tụ cộng sản ờ các nước nhỏ cũng đều “tài giỏi” tất. Sự thật là ngược lại. Các “sáng kiến”, các bước “nhảy vọt” của Mao Trạch Đông hay các lãnh tụ cộng sản khác chỉ gây ra những thảm họa (cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa, giết chim chóc phá hoại mùa màng, v.v.)

      Thật ra Hồ Chí Minh và các lãnh tụ cộng sản ở các “tiểu quốc” chỉ thụ hưởng / thừa hưởng cái guồng máy chính trị độc tài và bộ máy tuyên tuyền tinh vi do Lênin, Stalin và đồng bọn sáng chế và hoàn chỉnh tột độ.

      3. Dân trí VN thời đó đã thấp, lại bị chế độ phong kiến và tiếp theo là chế độ thực dân làm cho “ngu” thêm… (Trương Đức)

      Không đúng. Xin độc giả và ông Trương Đức thay vì cứ tiếp tục sử dụng lại các định kiến đã sáo mòn, hãy suy nghĩ lại cho chính chắn hơn. Thực dân Pháp tuy có bóc lột, nhưng người Pháp cũng có mở mang dân trí với giáo dục miễn phí, khoa học, nghệ thuật, xây trường, nhà thương, chợ, tòa thị sảnh, cầu đường, tự do tín ngưỡng, v.v.

    14. Hoà Nguyễn nói:

      P nói: 1. Tôi nghĩ về mặt làm chính trị và ngoại giao thì ông Hồ giỏi hơn 3 ông kia. Nhưng xét “điều kiện thuận lợi” thì phải xem lại cho cặn kẽ, chưa biết ai có điều kiện thuận lợi hơn ai đâu .

      Vào ngày 15-8-1945, khi Nhật Hoàng đầu hàng Đồng Minh, Bảo Đại là vua và Trần Trọng Kim là thủ tướng của nước VN (thống nhất), tuy vừa có danh nghĩa độc lập, nhưng thực sự lệ thuộc Nhật, và cao lắm có thể coi như đồng minh của Nhật (chỉ từ tháng 9/3/1945 ). Nếu có cơ hội và khôn khéo xử trí như Xiêm lúc đó, có thể chính quyền Bảo Đại được Đồng minh công nhận, và VN được độc lập ngay từ đó. Trường hợp tệ hại hơn, khi Pháp trở lại, VN sẽ chiến đấu như các nước Miến, Nam Dương (tên gọi lúc đó cho Indonesia), và vì Pháp sẽ không được Mỹ giúp, VN sẽ giành được độc lập ít đổ máu hơn kháng chiến 9 năm và chiến tranh chống Mỹ sau này. Nếu có cuộc kháng chiến chống Pháp do Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim lãnh đạo, chắc chắn dễ được sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc gia ( cho tới 1949), nên dễ thành công hơn (Mỹ không ưa chủ nghĩa thực dân, vả THQG thù ghét Pháp).

      Ngày 17-8-1945, Bảo Đại gửi điện văn cho Truman, tổng thống Mỹ, cho biết :…các nước Đông Dương tuyên bố độc lập, và quả quyết giữ vững nền độc lập ấy…Chính sách thực dân không còn hợp thời.. Trong cuộc chiến vừa kết liễu, dân tộc chúng tôi không dự chiến mà cũng đã chịu bao nhiêu thống khổ..“. Bảo Đại cũng gửi cho De Gaulle, đang lãnh đạo nước Pháp thắng trận nhưng suy yếu, yêu cầu Pháp :” công khai nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam, và từ bỏ mọi ý muốn tái lập chủ quyền hay bất cứ hình thức cai trị nào của Pháp “.

      Nhưng Bảo Đại không có cơ hội làm được gì tốt cho dất nước. Chỉ hai ngày sau,19/8, Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội. Ba cường quốc đồng minh là Pháp, Mỹ, và Trung Hoa Quốc gia lúc đó không thể không biết đảng Cộng sản đã nắm chính quyền ở Việt Nam. Và lời kêu gọi của Bào Đại coi như không hề có.

      Như vậy, hình như dân tộc Việt Nam đã bị lỡ cơ hội có được độc lập từ sau ngày Nhật đầu hàng, hay nếu phải đánh nhau với Pháp thì ít bị tổn hại hơn, và chắc không có cuộc “nội chiến 20 năm” (theo lời hát Trịnh Công Sơn) từ 1955 cho tới 1975.

      Tất nhiên không có tên gọi Cụ Hồ hay Bác Hồ, không có lăng Bác ở Ba Đình sau này, và nhiều chuyện khác. Dù vậy, vẫn có khả năng một nội chiến dai dẳng giữa Quốc Cộng, như xảy ra ở Trung Hoa, Phi, Mã Lai lúc đó hay Nepal hiện nay, khi chiến tranh ý thức hệ bao trùm khắp thế giới. Nhưng chưa chắc ĐCSVN lãnh đạo đất nước cho tới ngày nay, lý do chủ yếu là họ không có được danh nghỉa là lực lượng (yêu nước) duy nhất chống Pháp, giành độc lập khi Nhật đầu hàng. Lễ Độc lập 9-2-1945 thật sự là lễ cướp được chính quyền từ tay Trần Trọng Kim và Bảo Đại, không phải từ Nhật hay Pháp.

    15. Tôn Văn nói:

      Bác Trương Đức,

      Tôi bất ngờ vô đây lại được gặp bác. Thực tình tôi thấy bác … gửi vội nên có ý … góp vui. Ngầm ý của tôi cũng là muốn thử cho hết mẹo IT của bác Huy Nam. Cái VUI là: Bác nói lại và được nghe bác Trương Nhân Tuấn reo lên: Heureka! Cái QUÝ là: Bác Huy Nam làm xong việc thiện thì không thấy trở lại để … hàn huyên. Tôi chỉ thấy quý những điều nho nhỏ như thế; Bác ạ.

      *
      Đọc bác rất vui, vì tôi được học hỏi thêm. Những câu latin bây giờ mới biết, gợi tôi nhớ lại những phiên bản các thày giáo nhắc nhở mà nay mới biết ngọn nguồn: Thày giáo dạy thể dục năm lớp 5/10 nói với chúng tôi: Người thông tuệ mà sức khỏe kém thì không khác gì đựng đồ quý trong túi rách. Thày dạy sinh vật năm lớp 8/10 nói: Tâm hồn khỏe không thể nằm trong xác thân yếu đuối. Etc.

      *
      Trong phần „tôn giáo“ tôi có tìm được ít lời của Ngô Thì Nhiệm; Thấy có ý nghĩa, xin chép lại để trao đổi:
      Đồ đệ lại bạch rằng:
      - Trong thiên hạ vật gì là tốt?
      Thầy đáp rằng:
      - Mọi vật đều tốt cả. Vật gì ta thích thì tốt, ta không thích thì không tốt. Cho nên có cái tốt mà không tốt, có cái không tốt mà tốt.

      Hải Lượng đại thiền sư nói:
      - Có sinh là bất sinh, có diệt là bất diệt.
      … …

      *
      Học theo một câu tục ngữ, xin chia sẻ cùng bác:
      Nghĩ đến một điều tâm đắc – Là Bạc;
      Có được người để trao đổi, học hỏi – Là vàng.

      Thân mến.

    1 2
    • talawas - Lời tạm biệt

      Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả