talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Vật lý lượng tử, cửa sổ cho thấy thực tại phi vật chất

19/06/2010 | 7:00 sáng | 5 Comments

Tác giả: Phong Uyên

Category: Tôn giáo, Tư tưởng
Thẻ:

Cách đây 50 ngàn năm khi biết chôn người chết và làm những nghi lễ, người Sapiens tổ tiên loài người hiện đại đã có ý thức chết không phải là hết. Các đạo giáo ra đời 45 ngàn năm sau đã thiêng liêng hoá ý thức đó và tạo ra những tín điều là có một thế giới của thánh thần, của Thiêng liêng. Nhưng khi con người có đủ tri thức để biết suy luận và đưa ra những tư tưởng mới có thể phản bác những tín điều của đạo giáo, triết học ra đời. Nền tảng của triết học là lí lẽ (raison) chứ không phải đức tin. Và ở nơi nào đạo giáo không đủ mạnh vì chỉ là những thần thoại như ở Hi Lạp vào những thế kỷ thứ VI, thứ V tr.CN, thì những tín điều bị những tư tưởng triết học thay thế lần lần. Triết học Hi Lạp đạt tới trình độ phát triển tột bậc khi chia làm 2 phái: Duy tâm, Duy vật.

Triết gia nổi tiếng của phái Duy vật là Démocrite với thuyết nguyên tử (Atomisme). Theo Démocrite, mọi vật đều được cấu tạo bởi những đơn vị nhỏ nhất của vật chất gọi là nguyên tử. Tinh thần con người cũng được cấu tạo từ những nguyên tử nên khi chết tinh thần cũng sẽ tan rã và biến mất.

Platon là nhà hiền triết nổi tiếng nhất của phái Duy tâm (gọi là Duy ý). Platon quan niệm vật chất thuộc về thế giới cảm nhận (le monde sensible) có thể nhận thức được bằng ngũ quan. Nhưng thế giới cảm nhận chỉ là phản ánh của thế giới có thật, thế giới của Chân ý (Idée), gọi là thế giới Tri thức (le monde intelligible). Muốn nhận thức được thế giới Tri thức, phải vận dụng trí tuệ (Intelligence), lí trí và toán học.[1]

Suốt thời thượng cổ các nhà hiền triết Hi Lạp thuộc hai phái duy tâm, duy vật tranh luận nhau bất phân thắng bại. Cả 2 phái đều biết tận dụng toán học và Khoa học để chứng minh những biện chứng của mình. Nhờ vậy mà khoa học và toán học tiếp tục phát triển ở Âu Tây cho tới ngày nay. Đa số các triết gia Tây phương từ thời Phục hưng cho đến thời Cận đại cũng là những nhà toán học và khoa học.

Phải đợi tới thế kỷ thứ XVII, toán học và Vật lý học mới chứng minh được ý tưởng vạn vật biến chuyển của Héraclite bằng 2 định luật của Newton là Luật chuyển động và Luật vạn vật hấp dẫn (Gravitation universelle). Những định luật này có tính tất định (déterminisme), cho biết một cách chính xác cùng một lúc vận tốc và vị trí, của một vật thể và sự tương tác của nó với những vật thể khác cùng nằm trong không gian thời gian. Còn thuyết vật chất được cấu tạo từ những nguyên tử của Démocrite thì chỉ được chứng minh từ cuối thế kỷ thứ XIX với Thomson, Rutherford, Becquerel, Marie Curie…, những người khai sinh ra khoa Vật lý hạt nhân (Physique nucléaire) sau này.

Nhưng khoảng nửa đầu thế kỷ thứ XX, khi làm những thí nghiệm trên những hạt nhỏ hơn nguyên tử và cấu tạo ra nguyên tử gọi là những hạt cơ bản (particules élémentaires), các nhà Vật lý thấy những hạt nhỏ nhất này có những đặc tính ngược lại với tính tất định của quy luật Vật lý cổ điển như:

Tính bất định (non déterministe): Không thể biết cùng một lúc vị trí (position) và vận tốc (xung lượng, vitesse) của một hạt cơ bản.

Sở dĩ như vậy là vì muốn nhìn thấy vị trí của một hạt cơ bản như 1 électron chẳng hạn, thì phải chiếu sáng nó bằng photons. Photon có 1 xung lượng đáng kể so với xung lượng của électron nên khi đụng vào hạt này để chiếu sáng nó thì cũng làm biến đổi xung lượng của nó. Bởi vậy khi chiếu sáng để biết chính xác vị trí của électron thì không thể biết chính xác vận tốc (xung lượng) của électron được nữa.

Lưỡng tính Sóng – Hạt (dualité onde – corpuscule): Một hạt cơ bản có thể biểu hiện dưới một trong 2 dạng, tùy cách quan sát (dụng cụ quan sát đo lường): hoặc dưới dạng hạt như một hạt vật chất hoặc dưới dạng sóng như trong các hàm sóng vật lý.

Khả năng của một hạt cơ bản có thể biểu hiện dưới 2 dạng khác nhau đã tạo ra hiện tượng vô định vị (phénomène de non localité), hay đúng hơn là hiện tượng vướng mắc lượng tử (intrication quantique): Thí nghiệm Alain Aspect làm năm 1982 ở Đại Học Paris XI: Một cặp hạt cơ bản bị tách xa nhau và phóng ra cùng 1 lúc ở 1 khoảng mà muốn thông tin cho nhau, thông tin phải đi mau hơn tốc độ của ánh sáng (sự không thể có được theo thuyết tương đối hẹp của Einstein). Khi đo bằng phân cực ” + “, ” — ”  thì 2 hạt này có cùng 1 phân cực, hoặc + hoặc –. Chỉ có thể giải thích hiện tượng này khi chấp nhận là “cặp” hạt cơ bản thật ra chỉ là 1 hàm sóng, chỉ là 1 hạt.

Tính bất định và lưỡng tính Sóng – Hạt nằm trong Nguyên lý bất định của Heisenberg (Principe d’indétermination de Heisenberg), đã gây ra những cuộc bàn cãi vô tận giữa Einstein, Bohr, Heisenberg, những nhà vật lý lỗi lạc nhất đầu thế kỷ thứ XX đã khai sinh ra khoa Vật lý lượng tử. Không thể giải thích được các hiện tượng này nếu không công nhận là các hạt cơ bản cấu tạo ra vật chất đều không có tính tất định, tạo ra hiện tượng chồng chéo (superposition des états), trái với quan niệm của Vật lý cổ điển cho mọi vật thể vật chất chỉ thuộc về 2 loại được phân định rõ ràng, hoặc là hạt hoặc là sóng, chứ không thể ở cả 2 trạng thái trái ngược nhau được.

Nguyên lý bất định chứng tỏ cơ bản của mọi vật chất đều không có tự tính. Cách quan sát, dụng cụ quan sát, có ảnh hưởng tới sự biểu hiện của vật và sự tương tác của những vật với nhau.

Khoa Vật lý lượng tử và những khám phá mới của ngành Vật lý Hạt (Physique des particules), không những đã làm thay đổi tổng thể những quan niệm (paradigme) của khoa Vật lý cổ điển về vật chất, mà còn đem lại cho ta nhiều suy nghĩ về triết học và đạo giáo:

Không thể suy nghĩ mà không tự đặt cho mình một số câu hỏi.

Câu hỏi 1: Đâu là ranh giới của vật chất? Tính chất của vật chất là gì? Thử trả lời:

1. Những năm gần đây, khoa Vật lý Hạt phát hiện ra mỗi ngày một nhiều những hạt như quarks, neutrinos, bosons… còn nhỏ hơn các hạt cho tới nay được coi là những hạt cơ bản của vật chất nữa. Trong số những hạt này có những hạt cấu tạo ra protons, neutrons, như những hạt Quarks mà Gell-Mann, nhà Vật lý Giải Nobel 1969 cho là hạt cơ bản của các hạt cơ bản vì đã tạo thành ra các hạt này. Sự tồn tại của các hạt này khiến không biết đâu là giới hạn của cái “vô cùng bé nhỏ” (infiniment petit).

2. Máy gia tốc LHC bắt đầu hoạt động ở Genève, không những có thể cho ta biết những bí ẩn của nhiều hạt như neutrinos chẳng hạn, mà còn hứa hẹn phát hiện ra nhiều hạt “lạ” nữa, đặc biệt là hạt boson de Higgs. Hạt này có thể cho biết nguồn gốc khối lượng (masse) của các hạt cơ bản tạo thành vật chất. Bởi vậy Higgs boson được coi là “hạt của Thượng đế”. Hawking phủ nhận Thượng đế, phủ nhận luôn sự tồn tại của hạt này và gây ra những cuộc tranh luận với Higgs gần đây.

3. Cần nhắc lại là nhà Vật lý Giải Nobel de Broglie cho tính chất của mọi vật chất là sóng.

Nói tóm lại, càng khám phá ra nhiều những “li ti” cấu tạo ra cơ bản của vật chất, càng không biết đâu là ranh giới của vật chất nữa. Rút cục khoa học cho tới nay vẫn chưa trả lời được vật chất là gì mà chỉ quan niệm nó qua những phương trình toán học, những vectơ trạng thái (vecteurs d’états), những định đề (postulats).

Câu hỏi 2: Những nguyên lý của Vật lý lượng tử có phù hợp với những ý niệm của các đạo giáo không? Trả lời:

Trịnh Xuân Thuận và nhà sư Matthieu Ricard, tiến sĩ khoa học, thư ký riêng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, có viết chung nhau một cuốn sách[2] để chứng tỏ là có nhiều điểm tương đồng giữa những ý niệm của các đạo giáo và những lý thuyết khoa học hiện đại. Nhưng theo tôi, Vật lý lượng tử có cái đặc biệt là đưa ra những nguyên lý, không những phù hợp với những ý niệm chính của Phật giáo và KiTô giáo, mà còn giúp ta hiểu được những ý niệm này.

Tôi xin bắt đầu bằng những ý niệm của Phật giáo như Vô thường, Vô ngã, Tính không, duyên khởi

Vô thường (annica, impermanence), Duyên khởi (coproduction conditionnée) có nghĩa là không chắc chắn, thay đổi, không trường tồn, mọi sự đều vướng mắc vào nhau, dựa lên nhau mà có. Đó cũng là nghĩa của Nguyên lý bất định: Các hạt cơ bản không có trạng thái nhất định, vướng mắc vào nhau, chồng chất nhau.

Không tính, Vô ngã: Có thể giải thích bằng Lưỡng tính Sóng – Hạt: Không tính không phải là hư vô, trống rỗng mà là không có tự tính mà chứa đựng tất cả mọi hiện tượng. Các hạt lượng tử không có tự tính nhưng chứa đựng mọi hiện tượng của vật chất: Vật chất biểu hiện tùy theo cách nhìn: cái có của nó trong dạng hạt và cái không của nó trong dạng sóng.

Và kết thúc bằng 2 ý niệm chính của  Ki Tô giáo.

Chúa hoá thân (Incarnation): Giê-su Ki tô vừa đích thực là Người, vừa đích thực là Trời, có thể hiểu được dễ dàng nếu hiểu tính chất vừa là hạt vừa là sóng của các hạt cơ bản.

Hồn xác bất tách biệt (Un de corps et d’âme): Theo cuốn Giáo lý Công giáo, trong con người tinh thần và vật chất không phải là hai bản chất bị hợp với nhau (2 natures unies) mà là sự hợp nhất thành một bản chất duy nhất (une unique nature) ngay từ đầu. Bởi vậy sau Phán quyết cuối cùng (Le Jugement dernier) linh hồn và thể xác sẽ lại làm một với nhau và sống lại (résurection). Có thể hiểu ý niệm này qua hiện tượng chồng chéo (superposition d’états) của các hạt cơ bản.

Câu hỏi 3: Vật lý lượng tử có cho ta thấy có một tầm thực tại nằm ngoài không gian và thời gian không?

Vật lý lượng tử và Vật lý Hạt chưa thể chứng minh, và sẽ không thể chứng minh được sự tồn tại (existence) của một thực tại nằm ngoài không – thời gian, nhưng đang hé một cánh cửa sổ cho ta thấy bóng dáng của thực tại ấy trong các hạt cơ bản.

Có lẽ từ cả mấy ngàn năm nay trí óc con người vẫn còn bị ảnh hưởng của các đạo giáo nên chỉ quan niệm Trời là cái gì vĩ đại nhất, và khi nghĩ đến Trời, khi tìm Trời là tìm ở “trên trời” (le ciel), là tìm trong cái bao la của vũ trụ, cái vô cùng tận (infiniment grand) của Pascal. Chỉ từ khi những tiến bộ về khoa Vũ trụ học cho thấy vũ trụ chỉ bắt đầu (khi Big bang bùng nổ cách đây 13 tỷ 700 ngàn năm) bằng 1 electron và 1 proton kết tụ thành một nguyên tử nhỏ nhất là Hydrô, mới thấy là muốn kiếm Trời, nghĩa là muốn kiếm có hay không 1 thực tại phát sinh mọi hiện hữu, thì phải kiếm nó ở sau (hay ở trước cũng vậy, vì ở ngoài không gian thời gian nên không có trước sau) cái bé nhỏ nhất. Vật lý lượng tử và Vật lý hạt cho thấy cái bé nhỏ nhất tạo ra vũ trụ và mọi vật chất trong vũ trụ là các hạt cơ bản, không phụ thuộc không gian thời gian. Hạt cơ bản (nhái theo Platon) là bóng dáng của thực tại phi vật chất nằm ngoài không gian và thời gian.

Kết luận

Qua những đặc tính của các hạt cơ bản, Vật lý lượng tử cho ta thấy có thể có một thưc tại phi vật chất, gọi là thực tại tinh thần, nằm ngoài không gian – thời gian. Nhưng cho là có một thực tại phi vật chất, thực tại đó có phải là Trời đã sáng tạo ra không gian, thời gian và mọi hiện hữu vật chất cũng như tinh thần không? Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ đưa ra một suy luận là ta thử coi tinh thần mỗi con người là dạng hàm sóng và thể xác là dạng hạt. Khi tinh thần phải từ bỏ thể xác, hàm sóng con người sẽ hoà nhập với Hàm sóng nguyên thủy mà các đạo Thiên Chúa gọi là Trời, đạo Phật gọi là Phật tính.

Tôi cũng xin nhắc lại câu nói của Pasteur “Un peu de science éloigne de Dieu, beaucoup de science y ramène” (Một chút khoa học làm xa Trời, nhiều khoa học làm trở lại Trời).

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas


[1] Phong Uyên, “Những ý niệm tương đồng trong tư tưởng các nhà hiền triết Hi Lạp, Phật Thích Ca, Khổng Tử, Lão Tử”, talawas blog 03/03/2010.

[2] Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận, l’infini dans la paume de la main (Vô tận trong lòng bàn tay), Fayard/Nil, 2000.

Đầu đề cuốn sách làm tôi nhớ lại bài thơ gắn trên một ghế gỗ ở vườn Kensington, London:

To see a World in a grain of sand   Cả Thế giới ta nhìn trong hạt cát
And Heaven in a wild flower          Và Trời trong hoang dã một nhành hoa
Hold Infinity in the palm of your hand  Nắm trong lòng bàn tay là Vô tận
And Eternity in an hour               Và Trường cửu chỉ nằm trong nửa khắc

Bình luận

5 Comments (bài “Phong Uyên – Vật lý lượng tử, cửa sổ cho thấy thực tại phi vật chất”)

  1. Bach Phat Gia viết:

    Mặc dù bản thân mỗi người đều có thể tự mình thực nghiệm tính chất không thực của không gian khi lên mạng internet, nhưng chắc có lẽ nhiều người vẫn còn rất hoài nghi về việc này, bởi vì các giác quan của chúng ta đều chứng thực rằng không gian, thời gian và số lượng là hoàn toàn có thật. Phật giáo thì đã phát biểu từ hơn 2000 năm nay rằng tất cả chỉ là ảo hóa, không có gì là thật cả, xin trích một đoạn trong Kinh Bát nhã ba la mật đa : “Chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm, thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức , vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý , vô sắc thanh hương vị xúc pháp…”
    Tạm dịch : Các pháp (vạn sự vạn vật) có bản chất là không, không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm, như vậy trong cái không, không có vật chất, không có các cảm giác như thọ (tiếp xúc), tưởng (tưởng tượng), hành ( chuyển động, hoạt động), thức (phân biệt), không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân xác, ý thức, không có các đối tượng của các giác quan là sắc (vật chất), thanh (âm thanh), hương (mùi hương), vị ( vị giác của lưỡi), xúc ( cảm giác của thân thể), pháp ( đối tượng của ý thức)…
    Tôi xin mạo muội nói thêm cho rõ ràng hơn, chỉ cần chứng tỏ không gian là không thực thì các đại lượng kia (thời gian, số lượng)cũng đều không thực.
    Ai cũng thấy khoảng cách không gian giữa Sài Gòn và Hà Nội là có thực. Nó được cấu tạo bởi hơn 1500 km đường đất, trên bề mặt quả địa cầu bằng đất đá. Tuy nhiên các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới đã chứng thực vật chất được cấu tạo bằng những hạt ảo, lượng tử là hạt ảo, các hạt cơ bản là ảo không thể độc lập tồn tại, cái mà ta thấy và cảm nhận được chỉ là mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau giữa các hạt ảo trong cơ cấu nguyên tử và vật chất. Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Frank Turek (Tiến sĩ môn Thần học biện giải –Apologetics- đồng tác giả với Norman Geisler trong quyển sách “I Don’t Have Enough Faith to be an Atheist _Tôi không đủ niềm tin để làm một kẻ vô thần”, hai người nói trong một định đề (postulate) : “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (a)(Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ mà phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘hiện tiền’).
    Vật chất chỉ là kết hợp nhân duyên ảo hóa, thế còn khoảng không gian không có chút vật chất nào (khoa học gọi nó là chân không lượng tử (quantum vacuum) xem http://vietsciences.free.fr/giaokhoa/vatly/vatlyluongtu/caikhongtrongluongtu.htm )thì có tồn tại không ? Như tôi đã nói trong phần góp ý trước, không gian đó cũng không có thực, nên tín hiệu từ một photon trong hiện tượng rối lượng tử đã không mất một chút thời gian nào để truyền đến photon kia. Hay nói cách khác, hai photon chỉ là một, số lượng không có thực.
    Như vậy về mặt lý trí, ta có thể lý giải về tính chất ảo hóa hay không thực của không gian. Về mặt thực nghiệm ta cũng có thể chứng thực điều đó trên internet. Ta có thể dùng Yahoo Messenger hoặc Skype, nói chuyện đồng thời với vài ba người bạn, mỗi người ở cách xa nhau cả vạn km, khoảng cách không gian không còn nữa.
    Thế thì tại sao các giác quan của ta vẫn thấy không gian là có thực ? Chính đó là chỗ mà Phật giáo nói rằng do nhất niệm vô minh mà ta thấy có vũ trụ vạn vật, chúng sinh, con người. Giác ngộ trong Đạo Phật là phá được cái vô minh đó.
    (a) : trích nguyên văn từ “Religion and the quantum world” của Giáo sư Keith Ward phát biểu tại Gresham College ngày 09/03/2005

  2. Nguyễn Việt Thanh viết:

    “Dès l’instant où l’homme soumet Dieu au jugement moral, il le tue en lui-même.”
    (Albert Camus)

  3. Hoà Nguyễn viết:

    Xin nóí thêm về một hai ý tưởng trong phản hồi trước để làm rõ hơn ý tôi muốn nêu, và tránh hiểu lầm nếu có.

    Câu hỏi tôi nêu lên là từ suy luận của ông Phong Uyên viết: nguyên lỳ vật lý lương tử phù hợp với những ý niệm chinh cùa Kiti giáo : về “ Chúa hoá thân“, và về hồn xác bất tách biệt “. Tôi không đặt câu hỏi hay thắc mắc về tín lý của đạo Thiên Chúa.

    Thật ra, quan niệm về linh hồn trong đạo Thiên Chúa cũng có thể gần ý niệm về thức hay đôi khi gọi là “thần thức” trong Phật giáo. Ngay ở Phật giáo nguyên thuỷ cũng đã nói tới Thức trong thuyết Ngũ Uẩn và Mười hai Nhân Duyên. Sau này, Thức được phân tích sâu xa hơn và toàn thể hay phần cốt lõi gọi là Tâm. Để giải thích vể Thức, Tâm hay ngay cả linh hồn, người ta có thể dùng thí dụ lấy trong các hiện tượng tự nhiên hay thuộc vật chất, nhưng không thể cho một thuyết vật lý nào đó là “phù hợp” (hay không phù hợp) với giáo lý hay tín lý tôn giáo luận bàn về thức hay linh hồn. Lý do là vì vấn đề thuộc hai phạm trù khác nhau: một bên hiển nhiên khảo sát hiện tượng thuộc vật chất, và bên kia đối tượng tìm hiểu không phải như vậy, tạm gọi là phi vật chất.

    Đã có một so sánh rất hay thấy ở đây của một vị (tôi không nhớ tên) khi thí dụ thân xác như máy truyền hình ai cũng thấy được và Thức hay Tâm như sóng vô tuyến lan truyền trong không gian, cũng hiện hữu nhưng nếu chỉ bằng giác quan bình thường con người không thể nhận biết. Khi “tune” truyền hình (văn đài) đúng tần số với sóng vô tuyến, hình ảnh và âm thanh sẽ hiện lên và phát ra từ TV, bằng không TV sẽ không có gì hết. Cũng đã có thí dụ đơn giản hơn ví thân xác như bóng đèn, và linh hồn như điện được dẫn đến từ nguồn điện. Có bóng đèn, nhưng không có điện thì đèn không thể cháy sáng, hay có điện mà không bóng đèn thì cũng không thể có ánh sáng.

    Nhưng trên chỉ là hai thí dụ dùng cách so sánh tương tự để giúp hiểu được sư “gá ghép” giữa linh hồn với thân xác (theo Thiên chúa giáo), hay giữa “sắc” và “Thức hay Tâm ” (theo Phật giáo). Cũng dễ nhận thấy là điện hay sóng điện cũng là “vật chất” như bóng đèn hay TV. Khi nhìn thuyết lượng tử dưới quan điểm của khoa học thì không thể nói nó phù hợp với một giáo lý hay tín lý nào bàn về linh hồn hay thức, không thuộc đối tượng nghiên cứu của khoa học vật lý. Nói riêng về Phật giáo, Thức là yếu tố cấu tạo ( constituent) phi vật chất của con người (thành tố vật chất là Sắc), trong khi theo tôi hiểu, hạt tử hay sóng nóí trong vật lý lượng tử thấy qua quan sát là hai biểu hiện (vật chất) của cùng một vật thể cực vi, dù mang hai tính chất khác nhau.

  4. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Phong Uyên viết : “Nhưng theo tôi, Vật lý lượng tử có cái đặc biệt là đưa ra những nguyên lý, không những phù hợp với những ý niệm chính của Phật giáo và KiTô giáo…“.

    Tôi chưa bàn từ khám phá mới trong vật lý lượng tử có thể suy ra hay giải thích thuyết lý Vô thường, Vô ngã, Duyên khởi, Tính không của Phật giáo.

    Nhìn từ Ky tô giáo, ông Phong Uyên suy ra: (1) Chúa hoá thân (Incarnation), (2)Hồn xác bất tách biệt . Tôi nghĩ quan điểm (thần học) này cần làm sáng tỏ.

    (1) Chúa hoá thân : Theo ông Phong Uyên, Giê-su Ki tô vừa đích thực là Người, vừa đích thực là Trời. Tôi nghĩ khi so sánh với tính chất của hạt cơ bản và nói Jesus mang “lưỡng tính”, vừa tính Trời vừa tính người như thế, thì cái lưỡng tính này phải là vĩnh cửu, phải có từ lúc vô thủy đến khi tận thế (như sự tồn tại của vật chất). Nhưng trường hợp của Jesus, lúc trở lại Trời ngài còn mang thân phận con người nữa không ? Kinh Thánh cho thấy Chúa Jesus chỉ là người trong 33 năm sống nơi trần thế, ở Palestine. Như vậy ông Phong Uyên cần giải thích rõ hơn.

    (2) Hồn xác bất tách biệt : Theo kinh Thánh kể, khi Chúa Trời hà hơi vào mũi Adam thì từ đó Adam có linh hồn, và linh hồn này được truyền qua bà Eva và các con cháu về sau (tức loài người). Nhưng khi con người chết, nếu thân xác không được ướp để giữ gìn lâu dài tất sẽ tan rã, mục nát, và trong trường hợp chết không toàn thây (như bị thú dữ ăn thịt), lúc đó linh hồn sẽ ở lại phần nào của chút thân xác nếu còn lại ?

    Dường như người Thiên Chúa giáo cho sau này sẽ lên thiên đàng cả xác lẫn hồn (các xác ở trong mồ sẽ đuợc dựng dậy). Nhưng từ khi chết đến lúc được lên thiên đàng, có thể rất dài lâu vì còn phải chờ đến ngày Phán xét cuối cùng, và trong thời gian đó linh hồn sẽ ở đâu ? Tôi không có ý đặt nghi vấn gì về tín lý này, nhưng khi cho quan điểm “Hồn xác bất tách biệt” có thể dựa theo thuyết lượng tử, ông Phong Uyên cần nói thêm cho rõ.

    Thật ra, thuyết Duyên khởi, Không tính trong Phật giáo cũng dùng để bác bỏ quan điểm của Bà la môn về Đại ngã (hiểu như đấng Tạo hóa) và Tiểu ngã (hiểu như linh hồn). Theo đó không nhất thiết phải có Tạo hóa dựng nên vũ trụ, mà vạn vật do Không tính (không có bản chất cố định), không thể thường hằng (vô thường), nên mới bị tác động qua lại với các nhân duyên khác (theo duyên khởi), để trở thành cái gì mới, khác với lúc ban đầu. Có người còn lý luận : cho dù có Tạo hóa, thì sau khi sáng tạo ra vũ trụ, vạn vật, đấng Tạo hóa đó cũng phải thay đổi, không thể như trước được nữa, và sẽ tiếp tục thay đổi khi vũ trụ nở rộng ra, khi vạn vật biến dịch, chuyển hóa, nghĩa là không thể mang tính Thường hằng (sẽ bàn lại trong dịp khác).

    Tóm lại, theo tôi nghĩ những điều mới phát hiện trong thuyết lượng tử, về các hạt cơ bản của hạ nguyên tử, có vẻ phù hợp (hay không trái chống) với các thuyết lý của đạo Phật, nhưng không làm sáng tỏ như thế với các tín lý trong Thiên chúa giáo.

  5. Bach Phat Gia viết:

    Triết học tính Không của Đạo Phật nói rằng không gian, thời gian, số lượng, cũng chỉ là ý thức, là tưởng tượng (thế lưu bố tưởng 世流布想 )chứ không có thật, không có gì là thật cả (vạn pháp giai không).
    Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) mới được khoa học chứng thực gần đây là thực nghiệm tiêu biểu xác nhận tính tương đối của không gian, thời gian và số lượng, tức là cả ba đại lượng trên đều không độc lập tồn tại. Hiện tượng rối lượng tử là hiện tượng các hạt cơ bản như photon, electron, proton, neutron, và kể cả nguyên tử, có thể xuất hiện đồng thời tại hai hoặc nhiều vị trí khác nhau, khiến người quan sát không thể xác định chúng là một hạt cùng lúc ở nhiều vị trí, hay là nhiều hạt giống hệt nhau ở tại các vị trí khác nhau. Nhưng điều quan trọng là nếu có sự biến đổi của một hạt ở vị trí này thì tất cả các vị trí khác đều biến đối y hệt, tức thời, bất kể khoảng cách bao xa. Nicolas Gisin, nhà vật lý của Đại học Geneve phát biểu : “điều thú vị ở đây là tự nhiên có thể tạo ra các sự kiện cùng xuất hiện ở nhiều địa điểm”
    Năm 2002, nhà vật lý Australia gốc Trung Quốc Ping Koy Lam cùng cộng sự tại Đại học Quốc gia Australia ở Canberra (ANU) đã thực hiện thành công thí nghiệm chuyển thông tin theo nguyên lý hoàn toàn mới dựa trên “tương tác ma quỷ” tức hiện tượng rối lượng tử, của các quang tử (photon). Đúng vào lúc một chùm laser chứa những dữ liệu thông tin nhất định bị huỷ tại một vị trí trong phòng thí nghiệm, thì nhóm của Lam đã thấy xuất hiện một chùm laser khác giống hệt như thế tại một vị trí khác cách vị trí ban đầu 1 mét. Mặc dù chùm sáng không hề chuyển động từ điểm này đến điểm kia nhưng vì hai chùm sáng giống hệt nhau nên người quan sát có cảm tưởng rằng, chùm sáng đã được di chuyển tức thời, từ điểm này đến điểm kia.
    Trong một thí nghiệm khác gần đây hơn, các nhà khoa học tại Geneve, Thụy Sĩ tạo ra những cặp photon hoặc các gói ánh sáng. Chúng được chia ra rồi truyền qua cáp quang được Swisscom cung cấp, đến hai trạm tại hai ngôi làng thuộc Thụy Sĩ cách nhau khoảng 11 dặm (18 kilômét). Các trạm khẳng định rằng từng cặp photon vẫn kết nối với nhau – bằng cách phân tích một photon, các nhà khoa học có thể dự đoán tính chất của photon kia. Hai photon đã tương tác với nhau một cách tức thời. Nếu cho rằng hai photon đã chuyển tín hiệu cho nhau thì tín hiệu đó phải di chuyển với tốc độ không tưởng, gấp vạn lần tốc độ ánh sáng.
    Hiện tượng rối lượng tử xác định rõ ràng rằng không gian, thời gian và số lượng là không có thật, các đại lượng này chỉ phát sinh trong tâm thức của người quan sát khi có đủ điều kiện. Khoa học hiện đại hiểu rằng người quan sát có vai trò quan trọng trong việc hình thành các hiện tượng.
    Nhận thức này đối với giới khoa học là mới, nhưng đối với Phật giáo thì không mới vì đã được nói tới từ lâu trong kinh điển. Trong tác phẩm Thành Duy thức luận (成唯識論 ) của đại sư Huyền Trang, tập họp và biên dịch từ các tác phẩm duy thức học của các Bồ-tát Thế Thân (世親 Vasubandhu) và Vô Trước (無著 Asanga) người Ấn Độ, có một câu đúc kết rất rõ ràng và rất sâu sắc : “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” ( Ba cõi Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới chỉ là tâm, tất cả sự vật vô hình, hữu hình trong pháp giới, trong vũ trụ đều chỉ là thức). Thế Thân là em của Vô Trước, nhỏ hơn khoảng 20 tuổi, Thế Thân là Tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Độ, là tác giả của “Duy thức tam thập tụng” gồm 30 bài tụng ngắn, tất cả 600 câu, bao quát triết học duy thức. Ngài mất mà chưa kịp giải thích 30 bài tụng. Sau đó 10 vị đại luận sư của Ấn Độ đã giải thích ý nghĩa 30 bài tụng, mỗi người 10 quyển, cộng 100 quyển, trong đó nổi bật là Trần Na (sa. diṅnāga) và đệ tử của ông là Hộ Pháp (Dharmapàla). Lúc Huyền Trang đến Ấn Độ thỉnh kinh, có đến trung tâm Phật giáo là Nalanda học tập với sư Giới Hiền (Silabhadra) là người trụ trì Nalanda lúc đó, ngài đã trên 100 tuổi. Giới Hiền cũng chính là đệ tử của Hộ Pháp. Khi trở về Trung Quốc, Huyền Trang đã rút tỉa tinh hoa của 100 quyển luận nói trên, chủ yếu là từ 10 quyển của Hộ Pháp, biên tập thành bộ kinh “Thành duy thức luận”.
    Ngày nay bản thân chúng ta cũng có thể thực nghiệm tính chất không thực của không gian (mặc dù chưa hoàn toàn) khi lên internet, bởi vì tất cả mọi khoảng cách không gian trên địa cầu đều gần như bị triệt tiêu.

    Tài liệu tham khảo : Wikipedia và một số thông tin trên mạng.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...