talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Còi không hụ du ký (kỳ 2)

29/06/2010 | 7:00 sáng | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Chuyên mục: Tạp văn, xã hội, Đời sống
Thẻ:

Xem kỳ 1

__________________

Từ khi sáp nhập, chuyện tàu xe đỡ vất vả cho người dân Hà Đông, hàng ngày có nhiều chuyến xe bus Hà Nội-Chương Mỹ, Hà Nội-Mỹ Đức, Hà Nội-Yên Nghĩa, Mỹ-Đình-Yên Nghĩa, Lương Yên-Yên Nghĩa… giá vé đồng hạng 3000 đồng (15 cent Mỹ kim), riêng Hà Đông-Xuân Mai giá vé 8000 đồng (45 cent Mỹ kim).

Như người Việt bản xứ, vợ chồng tôi đón xe bus Xuân Mai-Hà Đông, xuống bến Yên Nghĩa đi Hải Phòng. Cứ mười lăm hay hai mươi phút một chuyến, xe có điều hòa, rộng rãi, nhưng sàn xe toàn đất, bụi lầm lên khi khách lên xuống. Ngồi trong xe, khách đeo khẩu trang, chẳng khác gì đi xe máy hay đi bộ trên đường phố. Việt Nam đang bước vào hè, trời nóng, đất cát bụi mù, mỗi khi ô tô, xe máy chạy qua, ai cũng đeo khẩu trang chống bụi. Người ta bảo ở Việt Nam có “nền văn hóa đa dạng”, văn hóa còi, văn hóa chen lấn, văn hóa phong bì… và văn hóa khẩu trang. Bụi mù trời! Những ngày ở Việt Nam, chúng tôi cũng đeo khẩu trang mỗi khi ra khỏi nhà.

Khu nhà chờ bến xe Yên Nghĩa hai tầng, khang trang, rộng rãi. Tầng dưới, gần chục quầy bán vé, gần trăm ghế bằng inox sáng loáng cho khách ngồi chờ. Quầy bán vé không có người, khách lên xe trả tiền, không cần mua vé. Trong nhà chờ oi ả, nóng nực, ngột ngạt, hàng chục chiếc quạt trần đứng im, trang trí cho đẹp, vì cúp điện!

Cúp điện ở Việt Nam trở thành nỗi khốn khổ của người dân, nhất là trong mùa hè nóng nực. Đang ở London, không khí trong lành, tháng Tư nhiệt độ 15 đến 18 độ C, tháng Bảy tháng Tám ngày nóng nhất nhiệt độ 27 đến 28 độ C là cùng, cần quạt có quạt, muốn bia lạnh có bia lạnh, nay về Việt Nam sống trong vùng nông thôn hẻo lánh, nhiệt độ ngày hè thường xuyên 35-37 độ C, nóng như lò nướng bánh mì, lại thường xuyên bị cúp  điện, bây giờ chúng tôi mới hiểu nỗi thống khổ của người dân lao động Việt Nam những ngày mất điện. Đang bữa cơm, đèn bỗng tắt phụt, tất cả kêu a a a… hò nhau tìm nến, tìm diêm và chửi nhà máy điện, chửi chính phủ, dân đã thiếu điện lại đem biếu không cho anh bạn Pa-thét Lào. Thế là bữa cơm mất ngon. Cậu em rể nhà tôi kể, có kỳ cúp điện hơn tuần, thóc xay không được, phải đong gạo chợ, nhiều hộ nuôi tôm phá sản chỉ vì không chạy được máy sục ô-xy. Không đèn, không quạt, trời nóng như nung, muỗi vo ve, không thể ngồi trong nhà, chúng tôi đem ghế ra sân hóng gió, tán chuyện gẫu, đợi giấc ngủ. Đang thiu thiu, đèn bật sáng! Tiếng ồ ồ lại vang lên, lồm cồm bò dậy tắt đèn, bật quạt. Gần 12 giờ đêm, đèn bật sáng. Thế có điên không chứ! Sáng hôm sau, 8 giờ lại điệp khúc cúp điện! Lúc cần cho bữa ăn thì cúp, lúc đi ngủ lại cho. Cúp điện bất tử là chuyện xảy ra thường xuyên không chỉ ở nông thôn mà ngay cả ở Hà Nội – trung tâm văn hóa, bộ mặt quốc gia – cũng chịu cảnh độc quyền xin-cho của nền “kinh tế thị trường định hướng XHCN” quái thai!

Bến xe Yên Nghĩa rất ít cây xanh, ngày hè, nắng như đổ lửa, xung quanh toàn khối bê tông, không một cơn gió, điện lại cúp, nhà chờ nóng hầm hập, quạt điện đứng im, chịu chết.

Trong bến, đủ chỗ chứa cho hàng trăm xe khách, nhưng chỉ lèo tèo trên dưới chục xe đang chờ đón khách các tuyến đi Tây Bắc: Hoà Bình, Tân Lạc, Lạc Sơn, Sơn La, Lai Châu; Tuyến Việt Bắc: Phú Thọ, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn…. xe đi Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Bảo, Kiến An… Ngay sát bến dành cho xe buýt là nơi dành riêng cho xe ôm đón khách.

Tầng 2, mới sử dụng một nửa làm nhà hàng bình dân, khá sạch sẽ, món ăn cũng tạm được đối với người đang đói. Tô phở 15 ngàn, ở Hà Nội tô phở Xướng, phở Cường, phở Thìn… giá 25 ngàn. Suất cơm 25 ngàn, 3 món, ngoài ra khách có thể tự chọn, gà luộc, lợn quay, cá kho… 30 ngàn/đĩa. Bia Hà Nội ướp lạnh 10 ngàn/chai. Từ 01-5-2010, nhà nước thông báo tăng lương (chưa được lĩnh), hàng hóa tăng ngay, bia tăng 2 ngàn, thành 12 ngàn/chai. Nhưng vẫn còn rẻ chán, hôm 15 tháng 4, vợ chồng tôi lang thang Bờ Hồ, ghé vào Thủy Tạ, gọi 2 chai bia Hà Nội và 2 miếng bánh ngọt, trả 140 ngàn. Tính ra, bia Hà Nội giá 35 ngàn/chai 500ml và miếng bánh cũng 35 ngàn. Bia Hà Nội mua cả két 20 chai tại siêu thị có 120 ngàn, 6 ngàn/chai, lãi 600%! Xem bảng thực đơn, tất cả mọi thứ giá đồng loạt 35 ngàn từ cốc kem cho đến miếng bánh ga-tô. Cơm đĩa 140 ngàn/suất. Chà! Quá đắt so với đồng lương người lao động phổ thông. Anh bạn X[1] bảo, người ta tính tiền ghế ngồi hóng mát, đâu có tính tiền bia. Hà Nội nóng như rang, ngồi dưới bóng mát, nhìn ra Tháp Rùa, hứng gió hồ Hoàn Kiếm mát rượi trong nửa giờ, giá có 70 ngàn/người, rẻ chán. Hà Nội tấc đất tấc vàng là như vậy!

Năm 2004, muốn về Xuân Mai, chúng tôi phải đón xe Hà Nội-Hòa Bình, giá vé tùy thuộc sự nổi hứng của tài và phụ xe. Hồi ấy giá vé Hà Đông-Hòa Bình có 12 ngàn/vé – bây giờ 25 ngàn – đi Xuân Mai phải trả như đi Hòa Bình. Chê hả, nghỉ cho khỏe, xuống, cho người khác lên, tay phụ xe làu bàu mắng khi vợ tôi thắc mắc. Bây giờ tuyến xe bus nhiều, xe đò bớt hống hách, các bác xe ôm cũng ế luôn. Nhiều người sợ xe ôm, nhất là vợ chồng tôi. Chín tuần lễ ở Việt Nam, chẳng dám đi xe ôm, đi xa, xe bus, taxi, đi gần, xích lô hay đi bộ. Hãi xe ôm lắm, bởi 70% tai nạn giao thông ở Việt Nam do xe hai bánh gắn máy gây ra. Chả thế dân Việt Nam có câu:

Ra đường sợ nhất Honda

Về nhà sợ nhất vợ già khỏa thân.

Hải Phòng vào hè, những hàng phượng vĩ ven đường trổ đầy hoa, đỏ cả bầu trời, đỏ cả những kỷ niệm xưa của tuổi học trò. Với tôi, Hải Phòng vẫn thơ và mộng như tuổi thiếu thời, tôi bỏ Hải Phòng làm người viễn xứ. Hải Phòng không bỏ tôi. Hôm nay trở về, Hải Phòng vẫn ôm gọn tôi vào lòng. Chỉ có con người rời bỏ mảnh đất quê hương, chứ quê hương không bao giờ từ bỏ những người con của nó. Tôi buộc phải rời bỏ Hải Phòng, rời bỏ Việt Nam vì chế độ của Lê Duẩn chứ đâu dám chê mảnh đất đồng chua nước mặn. Hải Phòng vẫn mãi mãi là máu, là thịt của tôi dù tôi đã là thần dân của Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị ba mươi năm nay.

Những ngày ở Hải Phòng, chúng tôi thăm lại Bến Tam Bạc, nhớ ngày hè này năm 1979, nơi đây, gia đình tôi cũng như hàng ngàn người Việt gốc Hoa miền Bắc nằm vật nằm vạ, đau khổ, vô vọng tìm thuyền đi Hong Kong, tìm sự sống và tự do. Bến Tam Bạc đã bỏ, không còn thuyền neo đậu

Bến Tam Bạc tháng 6.2010

Chúng tôi đến Bến Máy Chai, nơi đây, ngày 15-6-1979, ba thuyền chúng tôi xuất bến. Bến Máy Chai lác đác vài con thuyền chở hàng đang đậu, ven bờ hai dãy phố thuộc khu cảng mới. Ba mươi mốt năm, vật đổi sao rời, biển cả nương dâu, nhưng kỷ niệm xưa vẫn không phai mờ trong ký ức. Vợ tôi lặng người, khi đứng bên Bến Tam Bạc, Bến Máy Chai. Chắc kỷ niệm đau thương của những ngày khốn khổ đang trở lại trong nếp nghĩ.

Bến Máy Chai

Hải Phòng thay đổi quá, nhiều cao ốc, cầu chui, cầu vượt khác hẳn năm 2004. Hôm nay, 20 tháng 4, tôi về thăm phố cũ, thăm bà cô tuổi ngoại 80, gặp bạn bè từ tuổi học trò và đặc biệt gặp người bạn mới – tiến sĩ một đêm[2] -, tốt nghiệp ở Nga. Tôi quen anh thông qua loạt bài “Buồn vui đời tỵ nạn” đăng tải trên talawas. Biết tôi về Việt Nam, sẽ xuống Hải Phòng, anh nhã ý hội ngộ và mời tôi về nhà anh tá túc. Vợ chồng tôi cám ơn, nại, có tuổi, ăn ngủ thất thường, tôi có tật xấu, ngủ ngáy rất to, đến vợ tôi còn không chịu nổi huống chi bạn bè. Vả lại hotel bây giờ nhiều, chúng tôi xin ở khách sạn cho tiện. Anh giao hẹn, gần nhà anh có hotel, vậy về đấy tá túc, anh em gần nhau hàn huyên. Tuyệt! Ok.

Người bạn mới quen, đã ngoại lục tuần, mái tóc muối tiêu, thông minh, nhanh nhẹn, hóm hỉnh, khôi hài, tôi gọi anh với biệt danh X. Cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, anh sang Nga du học. Khi thành trì XHCN Liên Xô và cộng sản Đông Âu sụp đổ, như nhiều nghiên cứu sinh Việt Nam, anh ở lại Nga, xoay sang buôn bán, tranh thủ kiếm tiền. Gần 10 năm ở Moscow, anh từng chung vốn làm ăn với một số người… và nhiều vị nay là quan chức của Hà Nội, Hải Phòng, đều giàu có. Kiến thức rộng, vui tính và rất hài hước, anh hỏi:

“Có biết vì sao họ giàu nhanh thế không?”

Tôi cười:

“Không có những phi vụ bất hợp pháp làm sao mà giàu nhanh đến thế được.”

Tôi dẫn câu nói bất hủ của Balzac: “Behind every great fortune there is a crime”.

Anh cười ngất. Chính xác! Sau khi kiếm được số tiền kha khá (cũng do buôn lậu), anh hồi hương và bây giờ cũng thuộc “đại gia” nhưng tầm cỡ thế nào, chịu không biết và tôi cũng không tìm hiểu.

Xe Hoàng Ngân rời Bến Yên Nghĩa 14 giờ, mãi gần 18 giờ mới đến Hải Phòng. Hầu như tất cả xe đò ở Việt Nam rời bến đều theo một quy luật bất thành văn.

1. Xe đưa ma: Sau khi rời bến, số lượng khách rất ít, chưa đến 1/3 số ghế, vì thế xe chạy rất chậm, vét khách dọc đường. Người Việt trong nước gọi là “xe tang”, vì xe đi rất chậm, chậm như xe đám ma.

2. Xe đua: Sau gần 10 km “đưa ma”, hết khách vét, xe bắt đầu tăng tốc, chạy thục mạng, như cuộc đua, lạng lách, vượt ẩu, bấm còi liên tục… tìm cách đến địa điểm có khách ở Gia Lâm, Châu Quỳ, Bần… Giai đoạn này hành khách xanh xám mặt mày, cái chết rình rập, nhưng chẳng biết kêu ai.

3. Giảm tốc đột ngột: Đang phóng như điên, xe ngược chiều ra dấu có “Anh hùng Núp”, lập tức xe giảm tốc độ đột ngột, hành khách dúi đầu về phía trước. Cảnh sát giao thông Việt Nam được mệnh danh “Anh hùng Núp”[3], vì họ thường nấp sau lùm cây, tòa nhà lớn, thậm chí trên tầng thượng của nhà cao tầng bên đường quốc lộ, đặt súng bắn tốc độ.

Anh hùng Núp trên nóc nhà cao tầng đường 5.

Đến gần Cầu Rào, X. đã chờ sẵn. Chiếc xe  4 chỗ ngồi, còn bóng nước sơn xanh, do anh lái đưa chúng tôi về nhà. Sau khi chạy qua nhiều ngõ ngách, xe đỗ lại trước một biệt thự kiểu Pháp một tầng. Cánh cổng sắt từ từ mở, chị Y., phu nhân X, đang đợi chúng tôi. Một chiếc sân lát gạch màu đỏ au hiện ra, rộng chừng trên 50 mét vuông, bày nhiều chậu cây cảnh quý hiếm. Sát bên, nhà để xe hơi. Tuyệt! Đúng kiểu biệt thự dành cho đôi uyên ương già trong buổi xế chiều. Gần trung tâm thành phố, tấc đất tấc vàng, anh dám dành một khoảng trời xanh cho cuộc sống, cho lá phổi cũng là điều rất đáng mến. Ngày nay, ở Việt Nam, người ta sẵn sàng xây nhà ống cao tầng, bán ngay những mảnh đất còn dư để lấy tiền, không ai vung phí như anh, bày cây cảnh và hòn non bộ. Anh chị chơi sang dữ!

Phòng khách khá rộng, đơn sơ, trang nhã. Một bộ sa-lông màu sữa, chiếc ti vi màu 24 inch, bàn uống nước, tường treo một vài bức tranh phong cảnh Nga, trong đó có bức Mùa Thu Vàng của Levitan, hoạ sĩ vĩ đại Nga của thế kỷ XIX. Sau khi chào hỏi, uống nước, nói chuyện phiếm, tôi đề nghị anh đưa sang nhận phòng khách sạn như đã hẹn. Anh chị cố mời, chúng tôi không chịu, anh đành đưa đến một hotel gần đó.

Gọi là hotel, nhưng nó giống như nhà trọ 3 tầng, bẩn thỉu. Giá phòng từ 200 ngàn đến 300 ngàn/ngày đêm. Chúng tôi chọn phòng 300 ngàn, vì có 2 giường và bồn tắm. Phòng quá bẩn, ga trải giường, gối nệm còn bừa bãi, đây đó nhặt được cả bao cao su (condom) ngay dưới sàn nhà. Ghê quá! Xin đổi phòng, nhưng các phòng khác còn tệ hơn. Đã gần 9 giờ đêm, hơn nữa, chưa biết quanh đây có hotel nào khả dĩ hơn, đành yêu cầu làm tổng vệ sinh. Tôi nói với nhà tôi, thôi, chịu khó, mai tìm hotel khác.

Sáng hôm sau, mới 7 giờ, X. đã đưa xe đến, nói nhỏ, đưa anh chị tìm hotel khác, em cũng không ngờ nó bẩn thỉu đến như vậy. X. làm sao biết được, tuy gần nhà, nhưng có bao giờ anh nghỉ lại mà biết sạch hay bẩn. Đây như một động chứa mãi dâm trá hình, có lẽ những nhà nghỉ khác cũng vậy. Trong ngõ hẹp, làm gì có khách du lịch, không có khách làng chơi, thanh thiếu niên mất nết đưa nhau vào làm tình, chủ khách sạn chỉ có “móm”!

Sau một hồi loanh quanh, X. đưa chúng tôi đến Hotel Z., với giá 300 ngàn/ngày đêm (>15 Mỹ kim). Đây cũng thuộc loại nhà nghỉ rẻ tiền, nhưng sạch sẽ, chúng tôi chấp nhận, lý do, từ 7 giờ sáng, chúng tôi đi chơi đến 9 – 10 giờ đêm. Chỉ cần chỗ tắm rửa, có giường ngả lưng vài giờ đồng hồ cho đỡ mệt là ok.

Bến Bính bây giờ không còn phà đưa khách qua sông, thay vào đó là chiếc cầu Bính, nối liền huyện Thủy Nguyên, Quảng Yên, Quảng Ninh với Hải Phòng. Ngày xưa mỗi khi qua phà, lại gặp người đàn bà mù bám vai đứa con trai lên chín lên mười hát xẩm độ thân. Tiếng hát sầu thảm, ai oán, kể lể thân phận mẹ góa con côi, mù lòa, lưu lạc đất khách quê người, xin ông đi qua bà đi lại nhón tay làm phúc cứu giúp. Nay phà không còn, đứa bé bây giờ chắc lớn tuổi, đang ở phương trời nào? Có thoát cảnh bị gậy lầm than hay không? Tôi tự hỏi khi xe bon bon qua cầu Bính.

Vượt qua Cầu Bính sang Thủy Nguyên, xuyên dọc đường phố huyện, hướng về Vịnh Hạ Long. Đường qua Núi Đèo bây giờ phố xá sầm uất, hai bên đường nhà cao tầng mọc lên san sát, cửa hàng, khách sạn… chẳng kém gì nội thành Hải Phòng. Nhưng trong các xã của huyện Thủy Nguyên, chỉ có xã Ngọc Lễ giàu có nhất. Lý do, có nhiều người vượt biên từ những năm 1980, đa số định cư ở Anh, gửi tiền về giúp đỡ và đầu tư. Là một xã miền biển, nhưng có rất nhiều nhà xây 3 đến 5 tầng khang trang, đếm không xuể. Đường trong xã đông vui, nhộn nhịp như phố huyện, cũng nhà hàng, khách sạn, quán bia ôm, cà-fê ôm, karaoke, gội đầu tẩm quất từ A đến Z phục vụ thâu đêm. Trong chuyến du lịch Trung Quốc, chị H. người xã Ngọc Lễ cùng đoàn, kể, chị có 2 đứa con gái định cư ở Anh, dạng hôn thê, do người em họ mở tiệm Nails làm mối giúp, nhờ chúng, chị có cửa hàng cà-fê năm tầng, kiêm karaoke và nhà nghỉ. Hỏi, quan xã có hay đến không? Chị cười, thường xuyên. Lương chủ tịch, bí thư xã có triệu bạc/tháng, tiền ở đâu ra? Ơ hay, họ thiếu gì tiền. Bán đất công, bán dự án và thiếu gì người mời vì cần đến họ. Tiền đâu có thiếu, nhà họ còn to đẹp hơn nhà chúng em.

(còn nữa)

© 2010 Lâm Hoàng Mạnh

© 2010 talawas


[1] Anh bạn tôi không muốn lộ danh tính.

[2] Chính phủ Việt Nam quyết định phong Master (Thạc sĩ hay Phó tiến sĩ) thành Tiến sĩ (Ph.D), vì thế có tên gọi “Tiến sĩ một đêm”.

[3] Tên nhân vật trong tác phẩm Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc.


Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Còi không hụ du ký (kỳ 2)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả