talawas blog

Chuyên mục:

Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 2)

29/06/2010 | 12:00 chiều | 1 phản hồi

Tác giả: Philip Taylor

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Kinh tế - Môi trường
Thẻ:

(Xem kỳ 1)

Đặng Thế Truyền dịch

Hạn chế của chủ nghĩa hiện đại

Hiện đại hoá nông thôn là một định hướng chính sách lâu dài ở Việt Nam, với cội nguồn là các chính sách phát triển tập trung của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ở miền Bắc và cuộc “Cách mạng Xanh” được chính quyền Việt Nam Cộng hoà áp dụng ở miền Nam.[1] Trong những năm gần đây, hiện đại hoá nông thôn bao gồm cả việc cơ giới hoá nông nghiệp, điện khí hoá nông thôn và các chương trình hạ tầng cơ sở, cải thiện hệ thống tưới tiêu, kiểm soát lũ lụt, nghiên cứu phát triển công nghệ canh tác mới, áp dụng giống vật nuôi cây trồng mới và khuyến nông. Các chương trình này nhằm tăng năng suất ở vùng nông thôn và ổn định đời sống cho nông dân. Hiện đại hoá nông thôn hàm ý sử dụng khoa học công nghệ để chế ngự thiên nhiên: thay đổi sinh học và hệ sinh thái để tăng năng suất. Như một nhà quan sát đã nói, định hướng chính sách này thể hiện một quan điểm kỹ nghệ và vật chất về môi trường và phát triển đang phổ biến trong các quan chức nhà nước Việt Nam,[2] một niềm tin cho rằng thiên nhiên sẽ dần bị khuất phục và với việc sử dụng công nghệ, sẽ phục vụ con người.

Chắc chắn là điều này đã mang lại kết quả là năng suất tăng lên một cách ngoạn mục, tăng xuất khẩu và xoá được nạn đói, cũng như sự xuất hiện của các nguồn của cải mới ở nông thôn. Lúa nổi, một loại giống vẫn phổ biến ở phía Tây đồng bằng sông Mê-kông hồi đầu thế kỷ 20, đã được thay thế bằng các loại giống lúa nước “thần kỳ” cho năng suất cao hơn với thời gian canh tác chưa bằng nột nửa – đó là bằng chứng hiển nhiên về khả năng của khoa học và công nghệ trong việc chinh phục thiên nhiên và mang lại tiến bộ. Tuy nhiên, người nông dân đã nói về chi phí của giống lúa mới đó. Công việc chuẩn bị đất, việc cung cấp nước và bảo đảm sức khoẻ của cây lúa nặng nhọc và tốn thời gian. Nông dân phàn nàn về tình trạng kiệt sức và các tai nạn xảy ra khi vận hành máy móc. Giá phân bón và thuốc trừ sâu cao tới mức hầu hết nông dân không thể hoà vốn. Tình trạng ngày càng lệ thuộc vào bơm máy, cày bừa máy và máy kéo cũng như các loại giống mới đẩy chi phí lên cao và giảm lợi nhuận. Như một số nhà quan sát nhận xét, việc cơ giới hoá nông nghiệp ở Việt Nam, cũng như ở các nơi khác, gắn chặt với quá trình phân hoá giai cấp ở nông thôn.[3] Người nông dân ở đồng bằng sông Mê-kông nhận thấy rằng nhóm người được lợi nhất từ các phương pháp canh tác cần nhiều vốn này là những người cung cấp vật tư nông nghiệp cho nông dân, những người cho nông dân vay vốn và những người mua bán ruộng đất của nông dân khi họ không có khả năng trả nợ.

Ngoài những cái giá kinh tế xã hội phải trả cho các chương trình hiện đại hoá nông thôn, còn phải cộng thêm cái giá về môi trường. Nhiều trong số các vấn đề và thất bại chính ở vùng nông thôn Việt Nam trong mười năm qua là những biến động lớn về môi trường: như loại 5 trận bão năm 1998 và một loạt các trận bão và lũ lụt nhỏ hơn từ năm 2000 đến 2002, tiếp theo là hạn hán, sâu bệnh, bệnh dịch ở tôm và cúm gà. Ngoài ra, còn là vấn đề đất nhiễm chua, nhiễm mặn, các bệnh dịch từ nguồn nước và dịch tả. Tuy nhiên một số cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ việc mở rộng định canh định cư ở các vùng rất mong manh về sinh thái, như vùng cao nguyên và rừng ven biển, hay do những dòng chảy theo mùa phức tạp như vùng Tràm Chim hay Tứ giác Long Xuyên. Các nông trường cà phê và cao su ở vùng cao nguyên cùng với việc mở rộng các cơ sở nuôi tôm và đánh bắt cá ven biển đã huỷ hoại môi trường sinh thái ở những nơi đó, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên quá mức có thể tái sinh tự nhiên, và gây ra các cuộc xung đột về nguồn tài nguyên.[4] Việc khai thác chỉ một nguồn tài nguyên như gạo, cà phê hay tôm trên phạm vi công nghiệp lớn đã xói mòn tính đa dạng sinh học và đôi khi làm nghiêm trọng thêm tình hình sâu bệnh, bệnh tật, đất nhiễm phèn và nhiễm mặn.[5] Vì vùng nông thôn phải gánh chịu áp lực ngày càng tăng về dân số và khai thác nguồn tài nguyên, gần đây trong điều kiện kinh tế thị trường phi tập trung hoá, rủi ro đối với cuộc sống của nhân dân cũng tăng theo vì hậu quả của sự lãng phí ngày càng tăng do con người tạo ra, ô nhiễm hoá chất, tai nạn khi dùng máy móc, và bão lụt.[6] Cách sống du canh du cư thường bị phê phán là làm hại hệ sinh thái mỏng manh ở vùng cao nguyên,[7] tuy nhiên việc định cư những người du cư và làn sóng di dân mới tới những vùng này có thể tàn phá rừng, đầm lầy và vùng ven biển nặng nề hơn là tập quán du canh du cư trước đây, vì khi đó số dân ít hơn và họ dùng các biện pháp ít gây hại hơn.[8]

Việc sử dụng khoa học để chế ngự môi trường phục vụ con người được các nhà lý luận Mác-xít Việt Nam coi là một bước tiến đáng tin tưởng so với khi mà người dân, vì không thể giải thích hoặc không thể kiểm soát được thiên nhiêu, đã cúng tế thần linh trên trời, dưới đất và dưới biển, cầu mong được yên ổn.[9] Tuy nhiên, nếu như hiệu quả của khoa học công nghệ được đo lường bằng sự suy giảm trong tín ngưỡng tâm linh, thì việc hiện đại hoá ở đồng bằng sông Mê-kông phải được coi là một thất bại. Ở đó, cuộc tìm kiếm sự bảo trợ về tinh thần và tư tưởng tin vào số mệnh ngày càng phát triển. Một mối quan hệ tinh thần đặc biệt với môi trường biểu hiện rõ trong việc cầu xin thần đá, thần cây ban cho sự phì nhiêu, cầu xin cá voi để ra khơi được bình an, cầu xin thần hổ cho sự an toàn, thần trời đất để được thành công trong nông nghiệp, trong kinh doanh và sức khoẻ.[10] Khát vọng của người dân đối với bùa phép, chữa bệnh bằng thảo dược, và được phù hộ khỏi các tai hoạ, khỏi các lời nguyền và bị ma quỷ ám bảo đảm nguồn công việc vô tận cho đội ngũ ít ỏi các thầy phù thuỷ, tà thuật, mà nhiều người trong số họ xuất thân từ những nhóm dân tộc thiểu số trong vùng.[11] Các tập tục thờ cúng thần linh bị các nhà hoạch định chính sách phát triển bác bỏ là “mê tín dị đoan”, một từ có hàm ý “lạc hậu” và “vô lý”, nói lên sự thất bại của quan điểm chính thống về việc thực hiện hiện đại hoá ở vùng này.

Gắn chặt vào công nghiệp hoá

Công nghiệp hoá nông thôn, một mục tiêu lâu dài có từ thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà những năm 1950, đã trải qua nhiều giai đoạn với nhiều lý lẽ khác nhau. Cho tới ngày hôm nay, các nhà hoạch định kế hoạch ấp ủ những tham vọng lớn lao về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa vùng nông thôn. Những áp phích với hình ảnh máy cày trên đồng ruộng, cột điện cao thế vươn khắp vùng nông thôn, nhà máy toả khói, và công nhân công nghiệp mặc áo liền quần, đội mũ bảo hộ được dựng lên giữa đồng ở khắp nơi trên cả nước, biểu hiện mong muốn của các nhà lãnh đạo Việt Nam rằng quốc gia chủ yếu là nông nghiệp của họ có thể nhảy một bước lên hiện đại hoá toàn diện. Trong kỷ nguyên cải cách tự do, một mục tiêu mới xuất hiện là giảm tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp vào nền kinh tế nói chung, vì ngành này mang lại ít giá trị gia tăng và tiềm năng giảm nghèo tương đối nhỏ.[12] Một trọng tâm khác là phát triển nông nghiệp chế biến ở nông thôn và phi tập trung hoá sản xuất công nghiệp thông qua việc ban hành những chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp chuyển về các vùng nông thôn. Lý lẽ của việc phi tập trung hoá công nghiệp là giải quyết tình trạng tập trung công nghiệp vào các vùng đô thị ở phía đông nam và phía bắc, tạo ra các cực phát triển để hút nguồn lực từ các vùng nông thôn lân cận. Vì nông nghiệp có mức lương thấp và thu hút quá ít lao động, mục tiêu của công nghiệp hoá nông thôn là tạo ra nhiều việc làm hơn cho vùng nông thôn và giảm nghèo ở vùng này.[13] Với ý nghĩa như vậy, quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam duy trì được tính chất xã hội chủ nghĩa: nhà nước cố gắng đưa động lực phát triển tới các vùng sâu vùng xa, chứ không chỉ đơn thuần đáp ứng lại các đòi hỏi của thị trường nhằm bố trí công nghiệp vào những nơi có thể tối đa hoá lợi nhuận.

Trên phạm vi toàn quốc, công nghiệp và xây dựng tăng nhanh tỷ trọng trong GDP, từ 28,8% năm 1995 lên 41,05% năm 2005.[14] Tuy nhiên, các nỗ lực lôi kéo công nghiệp về vùng sâu vùng xa chỉ đạt được kết quả hạn chế. Công nghiệp và xây dựng vẫn tập trung cao độ ở phía đông nam, nơi chiếm khoản hai phần ba GDP của cả khu vực và giúp cho vùng đất nhỏ hẹp này đóng góp hơn một phần ba vào tổng tài sản quốc gia.[15] Ở ba vùng lệ thuộc nhiều nhất vào nông nghiệp, vùng Cao nguyên Trung bộ, đồng bằng sông Mê-kông và vùng đông bắc, trung bình ngành chế biến chỉ chiếm 10% GDP vào năm 2002, tăng chậm chạp từ 7,5% năm 1995.[16] Tới hiện nay, vùng nông thôn chỉ chiếm 20 – 25% tổng sản lượng công nghiệp.[17] Các báo cáo chính thức phàn nàn rằng tình trạng thất nghiệp ở nông thôn[18] là do không đạt được tốc độ công nghiệp hoá nông thôn.[19]

Đằng sau sự lo ngại chính thức về tình trạng này là bức xúc về dòng người từ bỏ nông thôn kéo ra thành phố tìm việc làm. Những nhà phê bình đã đổ lỗi cho chính phủ không chăm lo đúng mức cho những người này. Khi tới thành phố, người di cư nông thôn vấp phải những trở ngại về hành chính không cho họ tiếp cận được với dịch vụ y tế, học hành, nhà ở và bảo hộ lao động,[20] và họ là đối tượng của các biện pháp đôi khi nặng tay nhằm giải toả họ khỏi đường phố trong thời gian diễn ra các sự kiện quốc tế lớn.

Theo những cư dân đô thị chính thức, dòng người di cư từ nông thôn tới các thành phố cũng mang lại lợi ích. Sự đóng góp về kinh tế và sức lao động rẻ mạt của người di cư được đánh giá cao, và cảnh ngộ khó khăn của họ được sự thông cảm của nhiều người dân thành phố, vì bản thân họ cũng từng là người di cư gần đây. Tuy nhiên, cũng có sự phản đối mạnh mẽ. Làn sóng người định cư từ nông thôn làm hại người dân đô thị chính thức, những người cho rằng tình trạng dư thừa sức lao động không có tay nghề ở các thành phố là nguyên nhân của nạn tắc đường, tai nạn giao thông, tội phạm và làm suy giảm mức sống ở đô thị. Nhiều người có trình độ chuyên môn cao ở đô thị phàn nàn với tôi về tình trạng nông thôn hoá đô thị và hậu quả là xuống cấp kỷ cương, văn minh và đạo đức ở khu dân cư của họ và ở nơi công cộng. Sự di cư tự phát của người dân nông thôn ra thành thị gây hoài nghi đối với các kế hoạch chính thức nhằm tạo lập công nghiệp nông thôn để “thu hút” lao động nông thôn. Những nỗ lực nhằm giữ người dân lại vùng nông thôn đã thất bại, cũng như các chính sách thực dân trước đây đã thất bại trong nỗ lực “gắn chặt[21] người dân vào ruộng đất”. Tham vọng hão huyền của nhà nước trong việc chuyển người nông dân từ ruộng lúa sang nhà máy ở nông thôn đã gây ra sự hoài nghi, cũng như lòng tin đối với nhà nước với vai trò là người chăm lo cho dân nông thôn. Và uy tín của nhà nước như là người bảo vệ sự thống nhất và an ninh bị thử thách bởi những căng thẳng và nhận thức về sự đối xử không công bằng bùng ra từ quá trình phi thực dân hoá nông thôn.

Tiêu chuẩn hoá khoảng không

Chương trình phát triển mạng lưới giao thông quốc gia tăng mạnh giữa những năm 1990. Chương trình này gồm cả việc nâng cấp và mở rộng mạng lưới quốc lộ, cải thiện các tuyến đường thuỷ chính, phát triển hệ thống cảng và nâng cấp hệ thống thông tin. Ở đây tôi tập trung vào chương trình phổ cập hệ thống đường xá. Từ năm 1994 đến 1998, nỗ lực này chiếm phần lớn nhất trong khoản chi tiêu công cộng của Việt Nam, và tới năm 1998, chiếm 94% trong tổng số chi cho giao thông, tăng từ 74% năm 1994.[22] Được hỗ trợ bởi các khoản cho vay và viện trợ của các cơ quan quốc tế cùng với phần đóng góp từ ngân sách quốc gia và địa phương, kết quả khá ấn tượng và đã thay đổi phần lớn bộ mặt nông thôn Việt Nam.[23] Tuy nhiên, chương trình phổ cập giao thông gặp phải những nhược điểm và thách thức. Trong lúc vào năm 2000, 100% số xã ở đồng bằng sông Hồng đã có đường ô tô, thì 8,2% số xã ở vùng miền núi phía bắc và 12,9% số xã ở đồng bằng sông Mê-kông vẫn chưa có đường ô tô tới trung tâm xã.[24] Năm 2002, 24% dân số vẫn chưa  có đường chịu được các loại thời tiết, và các tuyến đường địa phương vẫn trong tình trạng xấu, với chưa đến 30% tỉnh lộ là đường cấp phố.[25]

Các nhà tài trợ quốc tế và cơ quan chính phủ đưa ra những tuyên bố đầy tham vọng về tác dụng của đường xá, được xem là nối người dân ở vùng sâu vùng xa với thị trường, tăng cường thương mại và khả năng tiếp cận thông tin dịch vụ, tạo thuận lợi cho tăng trưởng và đa dạng hoá kinh tế, thúc đẩy giảm nghèo. Một nghiên cứu do Ngân hàng Thế giới tài trợ chỉ ra rằng từ 1993 đến 1998, những người sống ở các xã có đường giao thông chạy qua có thu nhập cao hơn những xã chưa có đường giao thông tới 16%. Những hộ nghèo ở vùng có đường giao thông có khả năng thoát nghèo cao hơn những hộ ở nơi chưa có đường giao thông.[26] Nghiên cứu do các cơ quan quốc tế khác tài trợ cung cấp thêm các chỉ số: những hộ gia đình sống xa đường nghèo hơn, ít khả năng thoát nghèo hơn, thu nhập thấp hơn và ít có cơ hội tăng thu nhập hơn những hộ sống gần đường.[27]

Tuy nhiên, có một số so sánh đầy thuyết phục cho thấy rằng đường xá không làm tăng thu nhập như người ta nói. Các báo cáo phát triển lưu ý rằng khả năng tiếp cận đường xá ở Việt nam vượt xa các nước có cùng mức thu nhập[28] và rằng phạm vi bao phủ của hệ thống đường của Việt Nam ngang bằng với các nước giàu có hơn nhiều như Thái Lan và Bru-nây.[29] Trừ Hà Nội và Hải Phòng, năm 2002, không có một tỉnh nào ở đồng bằng sông Hồng vượt mức thu nhập trung bình tính theo đầu người của cả nước.[30] Tuy nhiên, thu nhập trung bình ở đồng bằng sông Mê-kông, một vùng chủ yếu là nông nghiệp với hệ thống đường xá kém nhất cả nước, lại vượt mức thu nhập trung bình của cả nước. Bốn tỉnh giàu có nhất ở đồng bằng sông Mê-Kông (theo thứ tự mức giàu có là An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ và Cà Mau), với mức thu nhập cao hơn mức trung bình ở khu vực, chỉ có thể tiếp cận được bằng xuồng máy tốc độ chậm, và một số trong các tỉnh này có hệ thống đường nông thôn đặc biệt kém, với những vùng rộng lớn bị biệt lập nhiều tháng trong một năm bởi lũ lụt. Ngược lại, Long An và Tiền Giang, hai tỉnh đồng bằng với hệ thống giao thông tốt nhất tới thành phố Hồ Chí Minh gần đó, lại có mức thu nhập thấp hơn mức ở khu vực.[31] Những so sánh này làm người ta phải hoài nghi ý kiến cho rằng đường xá mang lại những lợi ích rõ rệt cho các vùng nông thôn. Quả vậy, đường xá có thể áp đặt thêm chi phí lên các cộng đồng nghèo hơn. Các cộng đồng địa phương đóng góp một nửa chi phí xây dựng đường nông thôn trong thời gian từ 1996 đến 2000, và chi phí xây dựng và bảo dưỡng ở vùng núi, nơi mà thu nhập thấp hơn, còn cao hơn.[32] Khi mạng lưới đường xá cũ đi, chi phí bảo dưỡng sẽ đòi hỏi phần lớn hơn trong ngân sách giao thông, nhất là ở những vùng hay có bão lụt và các tỉnh miền núi nơi thường xuyên xảy ra sạt lở.

Một vấn đề nữa của phương pháp tiếp cận này là dân ở các địa phương nông thôn gặp các trở ngại ngoài vấn đề mà người ta quy kết cho sự cách trở về địa lý. Các nghiên cứu của tác giả Dominique Van de Walle, Dileni Gunewardena và của Taylor cho thấy rằng những yếu tố như dân tộc thiểu số, ngôn ngữ, khả năng tiếp cận các quan hệ chính trị, và tiền của người thân ở các nơi khác gửi về là những yếu tố quyết định khả năng của người dân khai thác lợi ích của các chương trình cải thiện đường xá.[33] Ví dụ người Khmer ở Trà Vinh cho rằng họ thiếu vốn cần thiết, thiếu quen biết chính quyền, thiếu khả năng ngôn ngữ và kinh nghiệm kinh doanh để có thể tận dụng được các cơ hội do đường xá được cải thiện mang lại cho địa phương của họ trong những năm 2000. Trong thực tế, những người được lợi từ các dự án này chủ yếu là người ở thị xã, trong đó một số người biết trước qui hoạch mở đường, lợi dụng được hạ tầng cơ sở mới và giá đất tương đối rẻ để mở ra kinh doanh hay đầu cơ đất. Nhiều người Khmer đã bán đất của mình cho những người mới đến và chuyển sâu vào phía trong, nơi đất rẻ hơn. Số người khác lại di cư đến các vùng đô thị tìm việc đơn giản, bán rẻ đất mà giá sau này tăng lên, nhiều khi hàng chục lần. Các vùng ngoại ô giờ đây có vẻ trù phú: hai bên đường mọc lên các cửa hàng, cơ sở phân phối, dịch vụ mới. Tuy nhiên, thay vì khẳng định rằng sự cải thiện đường xá đã nâng cao đời sống người dân, bằng chứng ở Trà Vinh cho thấy sự cải thiện này chỉ vắt kiệt người dân, thu hút những người có năng lực tận dụng lợi ích của những con đường mới và xua đuổi những người không thể sống theo cách họ quen thuộc hay họ ưa thích trong điều kiện đã thay đổi.[34]

Một trong những tác động của tình trạng mất chỗ này của người Khmer là cách ly chùa chiền Khmer khỏi cộng đồng của mình. Năm ngôi chùa Phật giáo ở Phường 8 ngoại ô Trà Vinh nằm trong số những ngôi chùa Khmer lâu đời nhất ở vùng sông Mê-Kông. Tuy nhiên trong thập kỷ qua, các nhà sư cho biết rằng số gia đình hiến cơm cho các nhà sư trong các buổi khất thực hàng ngày đã giảm mạnh, vì những người dân mới đến không phải người Khmer, không hiến cơm khất thực. Bị suy yếu đi, các nhà chùa ít có khả năng tổ chức dạy tiếng Khmer và Đạo phật cho thành viên các cộng đồng xung quanh, mà nhiều người trong đó đã đi nơi khác kiếm việc làm hay cơ hội tốt hơn. Vì vậy, các nhà sư lo sợ cho sự tồn tại của nền văn hoá và các thể chế cộng đồng của họ. Trong tình cảnh bị đuổi ra khỏi mảnh đất của mình, và nhận thức rằng các cộng đồng của mình đang bị chia cắt, một số người Khmer cho rằng họ bị phân biệt đối xử, và tin rằng chính sách của nhà nước huỷ hoại nền tảng văn hoá và kinh tế Khmer. Các quan niệm này dẫn tới tâm lý xa lánh trung tâm quốc gia mà mảnh đất xưa của họ vừa được kết nối tới nhờ hệ thống đường xá. Một trong những hệ quả của quá trình này là một số người Khmer tin rằng tiếng nói và quyền lợi của họ được đại diện tốt hơn bởi những người ủng hộ họ ở nơi khác: các nhà hoạt động dân tộc thiểu số Khmer Krom ở Căm-pu-chia hay lưu vong, những người tố cáo chính phủ Việt Nam tước đoạt quyền lợi của người Khmer và yêu cầu Việt Nam trả miền nam Việt Nam cho Căm-pu-chia.

(còn tiếp)

Bản tiếng Việt © 2010 Đặng Thế Truyền/JVS

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] Philip Taylor, Fragments of the Present: Searching for Modernity in Vietnam’s South (Honolulu: University of Hawai‘i Press, 2001); Nick Cullather, “Miracles of Modernization: The Green Revolution and the Apotheosis of Technology,” Diplomatic History 28, no. 2 (2004): 227–254.

[2] Neil Adger, “Institutional Adaptation to Environmental Risk under the Transition in Vietnam,” Annals of the Association of American Geographers 90, no. 4 (2000): 741.

[3] Ngo Vinh Long, “Agrarian Differentiation in the Southern Region of Vietnam,” Journal of Contemporary Asia 14, no. 3 (1984): 283–305; James C. Scott, Weapons of the Weak: Everyday Forms of Peasant Resistance (New Haven, CT: Yale University Press, 1985); Taylor, “Redressing Disadvantage,” 249–252.

[4] G.J. Graaf and T.T. Xuan, “Extensive Shrimp Farming, Mangrove Clearance and Marine Fisheries in the Southern Provinces of Vietnam,” Mangroves and Salt Marshes 2 (1998): 159–166; L. Lebel et al., “Industrial Transformation”; D. D’Haeze et al., “Environmental and Socio-economic Impacts of Institutional Reforms on the Agricultural Sector of Vietnam: Land Suitability Assessment for Robusta Coffee in the Dak Gan Region,” Agriculture Ecosystems and Environment 105, nos. 1–2 (2005): 59–76.

[5] Hakan Berg, “Rice Monoculture and Integrated Rice-Fish Farming in the Mekong Delta, Vietnam: Economic and Ecological Considerations,” Ecological Economics 41 (2002): 95–107; T.P. Tuong et al., “Impact of Seawater Intrusion Control on the Environment, Land Use and Household Incomes in a Coastal Area,” Paddy and Water Environment 1 (2003): 65–73.

[6] Nguyen Huu Dung and Tran Thi Thanh Dung, Economic and Health Consequences of Pesticide Use in Paddy Production in the Mekong Delta, Vietnam (Ottawa: International Development Research Centre, 1997); N. Adger, “Institutional Adaptation,” 2000.

[7] Terry A. Rambo and Neil L. Jamieson, “Upland Areas, Ethnic Minorities and Development,” in Postwar Vietnam: Dynamics of a Transforming Society, ed. Hy Van Luong (Oxford: Rowman and Littlefield, 2003), 166.

[8] Michael DiGregorio, Terry A. Rambo, and Masayuki Yanagisawa, “Clean, Green and Beautiful: Environment and Development under the Renovation Economy,” in Postwar Vietnam: Dynamics of a Transforming Society, ed. Hy Van Luong (Oxford: Rowman and Littlefield, 2003), 189, 193.

[9] Trần Hữu Tiến, “Cách mạng xã hội chủ nghĩa và quyền tự do tôn giáo,” Tạp Chí Cộng Sản 6 (1977): 60–63, 68.

[10] Do Thien, Vietnamese Supernaturalism: Views from the Southern Region (London: RoutledgeCurzon, 2003), 105–131; Philip Taylor, Goddess on the Rise: Pilgrimage and Popular Religion in Vietnam (Honolulu: University of Hawai‘i Press, 2004), 83–110; 216–218; 225.

[11] Philip Taylor, Cham Muslims of the Mekong Delta, 112–120.

[12] World Bank and Asian Development Bank, Vietnam: Delivering on Its Promise (Hà Nội: Vietnam Development Information Centre, 2002), 47–48.

[13] United Nations Industrial Development Organization and Government of the Socialist Republic of Vietnam, Rural Industrial Development in Vietnam: Strategy for Employment Generation and Regionally Balanced Development (Hà Nội: United Nations Industrial Development Organization, 2000); MPI, The Five-Year Socio-Economic Development Plan, 2006–2010 (see note 10).

[14] MPI, The Five-Year Socio-Economic Development Plan, 2006–2010, 20.Ngành chế biến chiếm  51% giá trị gia tăng của ngành này trong năm 2005; các ngành khai khoán (như dầu khí và than), 25% và ngành xây dựng 15,8%.

[15] MPI, The Five-Year Socio-Economic Development Plan, 2006–2010, 21. MPI, The Five-Year Socio-Economic Development Plan, 2006–2010, 21. Năm 2002, nông nghiệp chỉ góp 6,2% vào GDP của vùng đông nam, trong khi nó chiếm 20,1% ở đồng bằng sông Hồng (kể cả Hà Nội và Hải Phòng), 34,4% ở ven biển miền trung, 40,6% ở vùng tây bắc, 50,9% ở đồng bằng sông Mê Kông và 51,6% ở Cao nguyên Trung bộ.

[16] Công nghiệp và xây dựng chiếm11,5% nền kinh tế Cao nguyên Trung bộ năm 1995, và 17,5% năm 2002. Ở đồng bằng sông Mê Kông, số tương ứng là 14,1 và 19,8%, ở vùng đông bắc là 18,6% và 21,8%. Trừ ngành xây dựng và khai khoáng, ngành chế biến chiếm khoảng một nửa tỷ trọng của tổng giá trị ngành.

[17] United Nations Industrial Development Organization, Rural Industrial Development, 19.

[18] United Nations Industrial Development Organization, Rural Industrial Development, 23.

[19] MPI, The Five-Year Socio-Economic Development Plan, 2006–2010, 4.

[20] Dang Nguyen Anh, “Internal Migration: Opportunities and Challenges for Development,” in Migration, Development and Poverty Reduction in Asia, International Organization for Migration (Geneva: International Organization for Migration, 2005), 151–170.

[21] Andrew Hardy, Red Hills: Migrants and the State in the Highlands of Vietnam (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2003); Taylor, Cham Muslims of the Mekong Delta, 273.

[22] Joint Government and Donor Working Group, Vietnam Managing Public Resources Better: Public Expenditure Review 2000 (Hà Nội: Government of Vietnam and Donor Working Group on Public Expenditure, 2000), 70.

[23] Từ năm 1994 đến 1998, mật độ đường xá trung bình toàn quốc tăng từ  0,46 lên 0,52 km trên một km vuông. (Shenggen Fan et al., Government Spending, 11).

[24] World Bank, “Rural Infrastructure and Poverty Reduction: Major Targets and Monitorable Indicators” (Vietnam Poverty Task Force paper, Washington, DC: World Bank, 2001).

[25] World Bank, Accelerating Vietnam’s Rural Development, 6–7.

[26] Paul Glewwe, Michele Gragnolati, and Hassan Zaman, “Who Gained from Vietnam’s Boom in the 1990s?” Economic Development and Cultural Change 50 (2002): 26, 30.

[27] Xem tóm tắt tài liệu về các lợi ích này, tham khảo Taylor, “Redressing Disadvantage” tr. 242.

[28] World Bank, Accelerating Vietnam’s Rural Development, 6. Khả năng tiếp cận đường nông thôn cho thấy tỷ lệ dân được nối với loại đường mọi thời tiết. Năm 2002, số liệu của Việt Nam là 76%, trong khi trung bình tổng của 7 nước có cùng mức thu nhập là 43%.

[29] Joint Government and Donor Working Group, Vietnam Managing Public Resources Better, 67.

[30] GSO, Result of the Survey on Household Living Standards, 86.

[31] GSO, Result of the Survey on Household Living Standards, 93. Năm 2002, thu nhập trung bình hàng tháng trên toàn quốc là 356,08 ngàn đồng. Mức trung bình ở khu vực sông Mê Kông là 371,30 ngàn đồng, và khu vực đồng bằng sông Hồng (kể cả Hà Nội và Hải Phòng) là 353,10 ngàn đồng. Số liệu của các tỉnh đồng bằng sông Mê Kông là (đơn vị ngàn đồng): An Giang: 415,72; Kiên Giang: 411,14; Cần Thơ: 400,10; Cà Mau: 394,83; Long An: 360,64; và Tiền Giang: 352,17. (GSO, Result of the Survey on Household Living Standards, 86, 93).

[32] World Bank, Accelerating Vietnam’s Rural Development, 7.

[33] Dominique Van de Walle and Dileni Gunewardena, “Sources of Ethnic Inequality in Vietnam,” Journal of Development Economics 65 (2001): 177–207; Taylor, “Redressing Disadvantage,” 252–256.

[34] Việc xáo trộn gây ra cho người dân diễn ra cùng với việc xây dựng Đường 14 chạy qua một số tỉnh Cao nguyên miền trung. Theo một cuộc khảo sát không chính thức mà tôi tiến hành năm 2004 đối với khoảng bốn chục doanh nghiệp hai bên đuờng từ Kông Tum tới Bình Phước, đại đa số người sống và kinh doanh dọc Đường 14 không phải là dân địa phương mà là người Việt di cư từ vùng đất trũng và họ tái định cư ở đó từ thời kỳ chiến tranh và sau chiến tranh.

Phản hồi

1 phản hồi (bài “Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 2)”)

  1. [...] Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình … [...]

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả