talawas blog

Chuyên mục:

Dustin Roasa – Các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam không hiện diện trong tâm tưởng phương Tây

09/07/2010 | 12:00 chiều | 7 Comments

Tác giả: Trần Quốc Việt

Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: > > >

Trần Quốc Việt dịch

Vào ngày 8 tháng Mười năm 2009, một phụ nữ người Hà Nội tên Trần Khải Thanh Thuỷ đi xuống Hải Phòng, thành phố biển ở Việt Nam, để dự phiên toà xử sáu nhà hoạt động đấu tranh dân chủ. Nhưng chị không đến được toà án. Ngược lại, chị bị công an chặn đường bắt phải quay về nhà chờ có thông báo mới. Tối hôm ấy, hai người đột nhập vào nhà dùng gạch đánh chị trước mặt chồng và con gái, trong khi đó các công an bên ngoài thản nhiên đứng nhìn. Rồi công an bắt chị và cáo buộc chị tội hành hung.

Phiên toà xử Trần Khải Thanh Thuỷ diễn ra vào tháng Hai năm nay và kéo dài một ngày. Chứng cớ buộc tội chính là tấm ảnh được xem là của nạn nhân, người bị băng bó ở đầu, về sau những người viết blog Việt Nam chứng minh rằng ảnh đó đã bị nguỵ tạo thô thiển. “Đây là sự thêu dệt và hoàn toàn vu cáo,” Trần Khải Thanh Thuỷ nói về những về những cáo trạng. “Tôi phản đối phiên toà này, và tôi không đến đây để chấp nhận điều này.” Toà án kết tội chị ba năm rưỡi tù, nhưng chị đã không nghe được bản án vì chánh án đã đuổi chị ra khỏi toà do tội tự tiện nói trước toà. Thông cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) tuyên bố là vụ xử “cố tình bóp méo sự thật.”

Đây không phải là sự bất đồng đầu tiên giữa Trần Khải Thanh Thuỷ với nhà cầm quyền. Chị đã bị ở tù vào năm 2007 vì viết những bài báo chỉ trích chính quyền và kêu gọi dân chủ đa đảng. Các tổ chức nhân quyền và chính phủ nước ngoài xem chị là tù nhân lương tâm và đang kêu gọi trả tự do cho chị. Chị ít nhất là nhà hoạt động đấu tranh dân chủ thứ mười sáu bị cầm tù ở Việt Nam kể từ tháng Mười năm 2009, nằm trong điều mà đại sứ Mỹ tại Việt Nam mô tả là sự “tăng vọt” các vi phạm nhân quyền.

Quả thực đã có sự tăng vọt, nhưng đấy chỉ là phần nào của câu chuyện lớn hơn rất nhiều, và có tính lịch sử hơn. Lần đầu tiên kể từ khi thống nhất vào năm 1975, Đảng Cộng sản cầm quyền đang đối mặt với sự thách thức bền bỉ hơn và có tổ chức hơn về tính chính danh của Đảng. Những người bất đồng chính kiến thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội đã cùng nhau kêu gọi tổ chức các cuộc bầu cử và đa nguyên chính trị. Phong trào này tuy nhỏ, nhưng đang lớn dần, và, xét theo mức độ trấn áp khốc liệt, nhà cầm quyền xem đây là vấn đề nghiêm trọng.

Song thế giới bên ngoài hầu như chẳng lưu ý đến. Là nhà báo đã từng làm việc ở Đông Nam Á trong năm năm vừa qua và hay tiếp xúc với các nhà hoạt động đấu tranh dân chủ ở Việt Nam, tôi thường tự hỏi tại sao phong trào đã không thu hút đuợc sự quan tâm sâu rộng của thế giới như những phong trào tương tự ở Trung Quốc, Miến Điện, và Zimbabwe. Cho dù lý do thế nào chăng nữa, bạn có lẽ đang đọc ở đây lần đầu tiên một bài viết về phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam.

Câu chuyện ấy mở đầu vào ngày 8 tháng Tư năm 2006, khi một nhóm các nhà hoạt động dân chủ công bố trên mạng bản tuyên bố tên “Tuyên ngôn Tự do Dân chủ Năm 2006”. Hơn hai ngàn người bao gồm các luật sư, cựu đảng viên Đảng Cộng sản, nhà sư Phật giáo, linh mục Công giáo, nhà văn, trí thức từ mọi miền đất nước, liều bị bắt để ký tên vào văn kiện này. Họ được biết đến qua tên Khối 8406, được đặt tên theo ngày công bố bản tuyên ngôn. Tuyên ngôn kêu gọi tổ chức các cuộc bầu cử và kêu gọi xác lập một thể chế chính trị tôn trọng các quyền cơ bản, lời lẽ trong bản tuyên ngôn đánh thẳng vào phần cốt lõi nhất trong tính chính danh của Đảng. Các cuộc chiến tranh giành độc lập chống người Pháp và người Mỹ của Việt Nam, theo lời các tác giả của bản tuyên ngôn, về cơ bản thực chất là mang tính dân tộc. Song qua bạo lực và khủng bố trấn áp, những người theo đuổi ý thức hệ cộng sản đã cướp và tiếm đoạt công lao đấu tranh ấy để phục vụ cho các mục đích riêng của mình. Điều này đúng hay sai nói chung không quan trọng. Điều quan trọng là qua việc truy đuổi chính quyền ngay chính trên lãnh địa mà chính quyền xem là thiêng liêng, tức vai trò lãnh đạo của Đảng trong các cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất của Việt Nam, các nhà bất đồng chính kiến đang phát đi một thông điệp rằng họ không nói suông.

Nhà cầm quyền trả đũa bằng nhiều vụ bắt giam. Những ai thoát khỏi cảnh tù tội thì đối mặt với cảnh bị đánh đập, sách nhiễu, và hăm dọa. Báo chí nhà nước đăng những bài báo lên án những thành viên Khối 8406 là “lạm dụng tự do dân chủ” và mưu toan lật đổ chính quyền. Cuộc trấn áp này đã gây ra hậu quả đáng sợ. Đa số các nhà bất đồng chính kiến ngừng phát biểu công khai, nhưng một thiểu số rút lui vào hoạt động bí mật, họ vẫn âm thầm tiếp tục tổ chức và cho ra những nội san và tuyên bố.

Tôi có dịp thăm vài thành viên Khối 8406 ở Việt Nam vào mùa đông năm 2007, và tâm trạng của họ là bi quan. Mặc dù họ tin là, theo thời gian cùng với lòng kiên nhẫn, toàn thể nhân dân sẽ tìm thấy đủ can đảm để chung sức với họ, nhưng phong trào luôn luôn bị trấn áp và các thành viên đang bị mất hút dần vào chốn lao tù. Các nhà bất đồng chính kiến bị cô lập nên cần một vấn đề để kích hoạt sự ủng hộ. Người thì hy vọng các quyền lao động sẽ là câu trả lời – các cuộc đình công là hiện tượng ngày càng gia tăng tại các xí nghiềp trong nước – ngược lại kẻ thì hy vọng các quyền về đất đai và tự do tôn giáo sẽ tạo ra sự ủng hộ hợp lòng dân. Các nhà bất đồng chính kiến cũng hy vọng các nhà báo sẽ bắt đầu đổ xô vào trong nước để tường thuật câu chuyện của họ, và các nhà hoạt động dân chủ người nước ngoài sẽ quan tâm đến phong trào của họ. Trừ một vài ngoại lệ, bao niềm hy vọng này đã không thành. Tại sao?

Phải chăng Việt Nam thiếu một nhà lãnh đạo có tầm thu hút lớn để lay động luơng tâm  thế giới, như Aung San Suu Kyi của Miến Điện hay Morgan Tsvangirai của Zimbabwe? Các nhà lãnh đạo phong trào Việt Nam không có nhân vật nổi tiếng tương tự, nhưng họ cũng đã chứng tỏ rất can đảm và từng trải qua nhiều gian khổ không kém. Chẳng hạn, bác sĩ Nguyễn Đan Quế ở thành phố Hồ Chí Minh, trong ba mươi năm vừa qua đã ở tù đến hai mươi năm, tuy nhiên không ai biết đến ông ngoại trừ các độc giả chăm chỉ nhất của trang mạng của tổ chức Human Rights Watch. Ông tranh đấu không ngừng nghỉ với tư cách tác giả, nhà tư tưởng, và nhà chiến lược của phong trào. Ông hiện thực sự sống trong cảnh bị quản chế tại gia, nơi ông bị công an theo dõi và sách nhiễu thường xuyên. Dù bản thân và gia đình đã phải trả một giá quá lớn, ông vẫn từ chối những lời mời sang sống lưu vong ở Hoa Kỳ. Không có tiếng nói nào tốt hơn cho phong trào bất đồng chính kiến Việt Nam bằng tiếng nói của Nguyễn Đan Quế. Nhưng thế giới chẳng đáp lại lời họ.

Phải chăng phong trào không có đủ sự ủng hộ ngay trong nước để được xem là một hiện tượng quần chúng thực sự? Mặc dù chính các nhà bất đồng chính kiến thừa nhận rằng phong trào còn nhỏ, có lẽ với chỉ độ vài ngàn thành viên tích cực, nhưng họ tuyên bố có nhiều người Việt Nam ủng hộ họ nhưng không thể bộc lộ do sợ nhà cầm quyền. Ta không có cách thật sự nào để kiểm chứng lời tuyên bố này, nhưng phong trào tranh đấu dân chủ tại Trung Quốc, vẫn số lượng nhỏ như vậy và vẫn sự ủng hộ không thể xác định được trong quần chúng như vậy, đã được truyền thông quốc tế bênh vực ủng hộ. Các nhà báo như Howard French trong suốt nhiều năm đã tích cực đưa những nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc lên trang nhất tờ New York Times, ngược lại tờ báo ấy quyết định nhắc đến các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam chỉ một vài lần. Còn các tờ báo khác hầu như hành xử cũng chẳng gì tốt hơn.

Phải chăng chính quyền Việt Nam thật ra chẳng tồi tệ đến như thế? Theo các tổ chức như Human Rights Watch, Freedom House, Phóng Viên Không Biên Giới, và nhiều tổ chức khác, Việt Nam là một trong những nước hà khắc nhất thế giới. Chính quyền Việt Nam không cho phép đối lập chính trị; chính quyền kiểm soát toàn bộ truyền thông trong nước; chính quyền không cho phép công nhân tập hợp tổ chức; chính quyền thường xuyên tịch thu đất đai của nông dân để làm giàu cho nhà cầm quyền và cho những kẻ có những mối quen biết về chính trị. Tuy nhiên không hiểu sao chính quyền đã tìm được cách giới hạn các cuộc thảo luận quốc tế về Việt Nam chỉ riêng vào lĩnh vực du lịch và kinh tế đang bùng nổ ở trong nước. Những người Phương Tây tái khám phá đất nước này sau nhiều năm cô lập đã kinh ngạc khi thấy Việt Nam không còn giống như vùng chiến sự ngày xưa và khi thấy Việt Nam mời gọi đầu tư nước ngoài. Các cuộc thảo luận hay trò chuyện đều không đi xa quá điều ấy.

Phải chăng thế giới đối xử Việt Nam khác vì Việt Nam chiếm một vị trí độc đáo trong tâm tưởng Tây Phương? Trước tiên, dĩ nhiên, “Việt Nam” gợi tưởng đến chiến tranh. Trong tâm tưởng Tây Phương, tất cả những ý nghĩa khác của từ này đều bắt nguồn từ sự gợi tưởng ấy. “Việt Nam” là ẩn dụ đầy bất trắc của niềm tự tin thái quá Tây Phương và, ngược lại, là sự cao quý của các phong trào cách mạng thế giới thứ ba. “Việt Nam” gắn liền với thập niên sáu mươi và với sự thay đổi căn bản trong các giá trị Mỹ cùng sự xuất hiện nền văn hoá đại chúng mới. Trong những năm gần đây, “Việt Nam” đã bắt đầu được dùng đến để biện minh cho nhiều lập trường trái ngược nhau về các cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Nếu ta ủng hộ sự tham chiến tiếp tục của Mỹ trong các cuộc chiến này, “Việt Nam” là câu chuyện cảnh báo về cái giá bỏ rơi đồng minh, là chuyện kể về các trại cải tạo và thuyền nhân. Còn nếu ta phản đối các cuộc chiến này, “Việt Nam” là câu chuyện cảnh báo không kém về những làng mạc bị ném bom tan tành và những người lãnh đạo không trung thực. Cho nên, ta không lấy làm ngạc nhiên rằng trong tâm tưởng Tây Phương, “Việt Nam” không còn giống nhiều Việt Nam ngày nay, một nước của tám mươi lăm triệu người dưới ách cai trị của một trong những chế độ độc tài cộng sản cuối cùng trên trái đất.

Dù vậy, có lẽ “Việt Nam” khắc sâu trong lòng nhất là Việt Nam của mặc cảm có tội. Chuyện Hoa Kỳ đã làm những điều kinh hoàng – từ chất độc da cam, ném bom rải thảm, đến những vùng oanh kích tự do – là hiển nhiên, và nhiều hậu quả từ những hành động này ngày nay ta vẫn còn nhìn thấy ở cảnh và người ở đấy.

Tôi sống ở Phnom Penh, Cambodia, một đất nước chỉ mới vừa đây thoát ra được cơn chấn thương từ cuộc chiến tranh Việt Nam mà họ đã bị lôi kéo vào. Trong những di sản thấy rõ nhất của thời chiến này là hình ảnh vô số người tàn phế ở trong nước, nhiều người trong số họ bị mất tay chân do hàng ngàn quả bom chưa nổ do máy bay Mỹ thả xuống trong những phi vụ bí mật ở miền đông Cambodia đã san bằng toàn bộ những ngôi làng và sát hại hàng chục ngàn người. Những vùng rộng lớn ở miền đông Cambodia hiện vẫn còn đầy rẫy những quả bom còn sót lại chưa nổ này, để rồi từ đấy tiếp tục giết và gây tàn phế cho nhiều người Cambodia nghèo ở nông thôn. Việt Nam cũng có  những tàn tích riêng của cuộc chiến, trong đó có đạn pháo chưa nổ còn sót lại và những trẻ em bị khuyết tật bẩm sinh do chất độc da cam gây ra. Tôi sống và làm việc ở Việt Nam từ năm 2004 đến 2005, và bản thân thường cảm thấy it nhiều ray rứt hay xấu hổ. Nhưng tôi ngạc nhiên rằng tôi không bao giờ gặp phải sự thù hận từ phía những người Việt Nam. Thay vào đấy, tôi chủ yếu cảm nhận sự cởi mở và quan tâm. Có nhiều dịp khi chủ đề chiến tranh được nhắc đến, phản ứng thường phụ thuộc tuổi tác người đối diện. Người trẻ nói chung thờ ơ về cuộc xung đột đã diễn ra trước khi họ chào đời và chẳng ảnh hưởng gì mấy đến cuộc đời họ. Còn những người Việt Nam đủ lớn tuổi để trải qua chiến tranh nói chung là rất lịch sự, tôi nghĩ điều này có lẽ do người Việt Nam phân biệt rạch ròi giữa nhân dân Mỹ và các hành động của chính quyền Hoa Kỳ. Tôi thậm chí thỉnh thoảng đã gặp phải điều mà tôi hiểu là sự thương hại, mà tôi tin là có liên quan đến kết quả của cuộc chiến: họ thắng ta thua. Tuy thế tôi vẫn không bao giờ cảm thấy vơi hết sự ray rứt và xấu hổ trong lòng.

Khi ở Việt Nam phần lớn thời gian tôi làm việc cho các báo nhà nước ở Hà Nội. Vào đầu đợt làm việc ở một trong những tờ báo này, tôi có lần biên tập một bài báo về các phi công Mỹ trong thời gian chiến tranh bị giam tại “Khách sạn Hilton”, một nhà tù miền Bắc khét tiếng về việc đối xử tàn tệ và tra tấn các người tù. Bài báo khẳng định rằng miền Bắc Việt Nam đã đối xử tốt với các người tù. Để chứng minh điều ấy, báo đưa ra một loạt các tấm hình trắng đen đã bị nổi hột chụp cảnh người Mỹ đang chơi bóng chuyền và đánh cờ và ngồi thành vòng tròn trò chuyện với nhau ở trong sân nhà tù. Qua các dáng bộ cứng ngắc và những nụ cười gượng gạo, những tấm hình này rõ ràng đã được dàn dựng trước. Tôi nghĩ đến chuyện nên than phiền với người biên tập về điều này. Không phải vì lời góp ý sẽ thay đổi số báo ra ngày hôm sau – những người phụ trách kiểm duyệt của báo đều có quyết định cuối cùng về tất cả nội dung của báo sẽ được in ra – mà vì, ít ra, cũng phải có người lên tiếng phản đối. Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ lại, tôi đã từ bỏ ý định ấy. Là người Mỹ, tôi lập luận, tôi không có quyền phàn nàn, khi xét đến tất cả những chuyện ghê sợ mà nước tôi đã gây ra ở Việt Nam trong thời chiến tranh. Chẳng quan trọng là những chuyện này xảy ra trước khi tôi sinh ra, và tôi sẽ lên án những chuyện này ngay nếu có bất kỳ ai hỏi đến. Tôi sẵn sàng chấp nhận phiên bản lịch sử mà tôi biết là giả dối để tránh đối diện với cảm giác xấu hổ mà tôi đã không tìm được những lời giải hợp lý.

Từ nơi ấy tôi nhảy ngay qua nơi khác với những công việc mới còn đáng lo hơn nhiều. Những tù binh cuối cùng đã trở về Hoa Kỳ cách đây hơn ba mươi năm; thế còn ở đây ngay bây giờ thì sao? Ngoài các nhà bất đồng chính kiến, trong dân chúng nói chung ở Việt Nam có sự bất mãn thật sự về chế độ chính trị hiện nay. Sau nhiều tháng gầy dựng lòng tin, một số người Việt Nam tôi quen biết đã thổ lộ tâm tư của mình. Một người bạn làm báo đã chợt vỡ lẽ ra khi đọc cuốn Mộ Lenin của tác giả David Remnick tại một đại học ở nước ngoài. “Cũng giống như ở đây thôi,” chị thì thầm với tôi vào một buổi tối khá khuya ở một nhà hàng, “Tôi chẳng biết làm gì về hơn về chuyện này. Tôi còn phải lo cho gia đình.” Một tay ghi-ta chơi cho một trong vài ban nhạc rock trong nước phàn nàn rằng các nghệ sĩ trình diễn phải cẩn thận những gì họ nói trên sân khấu vì sợ rắc rối với công an. Một nha sĩ thất nghiệp cho biết ông không mở phòng mạch được vì thiếu tiền lo lót.

Là ngoại kiều, tôi sống thoải mái và chẳng phải lo sợ gì nhà cầm quyền. Nhưng hễ lúc nào tôi bắt đầu quên đi hiện thực trước mặt, thì một sự việc đã xảy ra thoáng qua trên đường phố lại hiện về nhắc nhở tôi đến thực tại thực sự như thế nào. Tôi sẽ không bao giờ quên cái cảnh tượng một người phụ nữ bán trứng rong bị một tốp công an đánh đập vào một buổi sáng trên đường tôi lái xe đi làm. Chị là phụ nữ nghèo ở nông thôn dạt lên thành phố kiếm sống, và tôi chẳng biết chị bị tội gì, hay có lẽ tội vặt vãnh không đáng. Khi lòng đỏ trứng ứa ra từ những vỏ trứng bị bể chảy xuống lòng đường, những người đang trên đường đi làm thấy vậy khiếp sợ giả vờ không chú ý đến, còn người phụ nữ bán hàng rong ấy nhẫn nhục chịu đòn mà không một lời cầu cứu. Tôi cố gắng không chú ý đến cảnh tượng đau lòng đang xảy ra ấy, nhưng khác với những người đi đường khác, tôi không sợ công an. Các lý do của tôi thì khác, và đến thời điểm ấy đã trở thành một phản xạ: tôi lấy quyền gì mà lên án vụ đánh người ấy, xét đến những gì nước của tôi đã gây ra tại Việt Nam trong thời chiến?

Niềm ray rứt và nỗi xấu hổ đằng sau quyết định của tôi đã không phản đối vụ đánh đập chị bán trứng rong ấy, tôi tin, cũng chính là các thôi thúc giải thích quyết định của cộng đồng quốc tế làm ngơ trước phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Một người Tây Phương ủng hộ dân chủ ở Việt Nam đương thời có thể gượng gạo nêu ra nhiều lý lẽ tương tự như những lý lẽ biện minh cho chiến tranh của người Mỹ – phải chăng chúng ta đã không rút ra được bài học gì? Hãy quên đi rằng đưa ra sự ủng hộ công khai, và, nếu cần thiết, cả về vật chất cho phong trào bất đồng chính kiến sở tại là tuyệt đối khác hẳn với sự ủng hộ can thiệp bằng quân sự. Theo nếp nghĩ này, những người Tây Phương đã từ lâu mất đi “thẩm quyền đạo đức” của mình để can dự vào Việt Nam đương thời ngoại trừ với tư cách du khách hay nhà đầu tư.

Một vấn đề gắn liền với sự giả định này là thực ra nó chỉ là sự ích kỷ vì nó cho phép những người Tây Phương tránh đưọc những cảm xúc phức tạp và khó chịu. Vấn đề khác là chẳng ai bận tâm nói chuyện với những người Việt ấy. Ta có thể hỏi những nhà bất đồng chính kiến ấy sự ủng hộ nào họ muốn, dù rằng các câu trả lời của họ cho câu hỏi này sẽ gây ra những nguy hiểm rất lớn cho bản thân họ.

Các nhà bất đồng chính kiến mà tôi biết hy vọng sự tham gia nước ngoài vào sự nghiệp đấu tranh của họ. Họ cần đến sự ủng hộ của các nhà báo và các nhà hoạt động dân chủ để thuật lại câu chuyện của họ và qua đó áp lực Đảng Cộng sản phải thay đổi. Thêm vào đấy, họ nói, cộng đồng quốc tế có nghĩa vụ buộc Việt Nam phải tôn trọng những tiêu chuẩn nhân quyền thông qua những tổ chức quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập hay hy vọng gia nhập. Cuối cùng nhiều người chọn ra Hoa Kỳ: người Mỹ phải tác động hơn nữa, vừa với tư cách cá nhân và vừa thông qua chính phủ, để đòi hỏi có sự thay đổi ở Việt Nam.

Điểm cuối cùng này dễ dẫn đến tranh cãi, nhưng nó không dựa vào niềm tin hơi ngây thơ về các ý định của Mỹ; mà đấy là sự thừa nhận hiện thực có tính địa-chính trị. Hoa Kỳ là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam; Hoa Kỳ cũng là nơi có cộng đồng người Việt lưu vong đông nhất thế giới; người Mỹ là một trong những nhóm khách du lịch lớn nhất đến Việt Nam hàng năm; và, tuy Trung Quốc mới trỗi lên gần đây, nhưng Hoa Kỳ vẫn là người dự phần có ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á. Những hoang tưởng do tội lỗi gây ra về những người Mỹ đang sám hối tội lỗi của họ trong quá khứ bằng cách đứng bên lề vẫn chỉ đơn thuần là những hoang tưởng. Chúng không giải thích sự ảnh hưởng ngày càng tăng của Mỹ ở tại nước này. Khi mối ảnh hưởng này còn duy trì, thì người Mỹ phải bảo đảm rằng nó có yếu tố nhân quyền mà không nhất thiết phải hợp với quyền lợi Mỹ về thương mại hay về chiến lược.

Trong các nhà bất đồng chính kiến tôi có dịp nói chuyện, Nguyễn Thanh Giang, nhà địa vật lý bảy mươi bốn tuổi ở miền Bắc, có những quan điểm khá tiêu biểu về những chủ đề này. Tuy ông chưa bao giờ là đảng viên Đảng Cộng sản, nhưng ông vẫn được giữ chức vụ lãnh đạo ở Cục Địa chất Hà Nội trong một thời gian dài. Chính quyền cho phép ông sang Hoa Kỳ để dự một số hội nghị vào những năm tám mươi và chín mươi – ông là một trong những nhà khoa học đầu tiên được phép đến Mỹ – nhờ vậy ông đã mở mắt thấy được những vấn đề ở Việt Nam. Từ đấy ông bắt đầu viết những bài góp ý và thư ngỏ gởi tới Đảng nhằm kêu gọi cải cách. Năm 1999 ông bị bắt giam về tội bất đồng chính kiến và bị biệt giam hơn một tháng, nhưng ông được thả ra do áp lực từ chính phủ Hoa Kỳ và từ các tổ chức nhân quyền và khoa học. Hiện giờ ông về hưu và sống trong cảnh bị quản chế tại gia ở Hà Nội.

Tuy Nguyễn Thanh Giang kêu gọi Mỹ ủng hộ sự nghiệp đấu tranh dân chủ, nhưng ông không phải là kẻ biện minh cho những hành vi của Mỹ trong thời chiến. Người Mỹ đúng khi cảm thấy đau buồn và xấu hổ, ông viết trong một điện thư gởi cho tôi. “Nhưng nhà cầm quyền Việt Nam cũng phải nên bày tỏ sự đau buồn và xấu hổ tương tự,” ông viết. Chế độ ở Việt Nam đã làm những chuyện “trái với đạo lý và xuẩn ngốc không kém”  trong và sau chiến tranh, bao gồm chiến dịch Cải cách Ruộng đất giữa thập niên 1950 đã khiến hàng trăm ngàn người chết, và vụ trấn áp tàn bạo phong trào Nhân Văn, một nhóm cải cách của Đảng Cộng sản. Ông nêu những chuyện này ra không phải để xí xoá cho hành vi của Mỹ, mà để chứng minh điều ông tin là bản chất thật sự của chiến tranh, tức một “trò chơi bẩn thỉu” mà khi tàn cuộc không ai lại không vấy bùn. Nhưng tội lỗi không có nghĩa là sự ân hận nên khiến cho người Mỹ bị tê liệt; trái lại, họ nên coi đó là một trách nhiệm đặc biệt để “đền bù sự tàn phá do bom Mỹ gây ra ở Việt Nam ” bằng cách ủng hộ phong trào đấu tranh dân chủ.

Một số người Mỹ đã lên án tình cảnh tại Việt Nam. Song rất ít người trong số họ thuộc về cánh Tả. Một số nhỏ các tờ báo Mỹ đăng những bài ủng hộ phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam thường có khuynh hướng bảo thủ: các tờ Wall Street Journal, New York Post, New York Sun.  George W. Bush đã mời bốn nhà hoạt động dân chủ người Mỹ gốc Việt, trong đó có một người từng bị ở tù, đến toà Bạch Ốc vào năm 2007 và giúp đạt được sự phóng thích cho nhà bất đồng chính kiến trên mạng Nguyễn Vũ Bình trước khi Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết thăm toà Bạch Ốc trong cùng năm. Barack Obama, ngược lại, đã không biểu lộ sự quan tâm như thế về chủ đề này, mà ta có lẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên vì ông cũng chẳng mở miệng nói gì về nhân quyền ở Châu Á. Như vậy chỉ còn lại hai nhóm cử tri chính người Mỹ hoạt động tại Việt Nam, và cả hai đều bảo thủ: mạng lưới những người quan tâm đến tự do tôn giáo và các nhà đầu tư quan tâm đến tự do kinh tế.

Tự do tôn giáo và tự do kinh tế thật sự là những vấn đề quan trọng đối với phong trào đấu tranh dân chủ, nhưng chương trình hành động của phong trào bao quát hơn nhiều và bao gồm những vấn đề tha thiết đối với những ai cấp tiến, chẳng hạn các vấn đề người thiểu số và các quyền lao động. Những nhà bất đồng chính kiến xem mình là đồng minh tự nhiên của hàng triệu công nhân Việt Nam đang làm việc tại các nhà máy sản xuất hàng hoá cho Phương Tây. Các cuộc đình công, tuy bất hợp pháp, nhưng đã gia tăng trong những năm vừa qua, nên các nhà bất đồng chính kiến đang cố gắng đi sâu vào công nhân, bất chấp chính quyền ra sức ngăn chặn họ. Chừng nào chính quyền Việt Nam và giới chủ Tây Phương là những tiếng nói duy nhất ở các nhà máy, các công nhân nhất định còn chịu bao điều kiện khắc nghiệt, tiền công thấp, và sự cô lập về chính trị.

Tuy nhiên, vẫn có con đường tiến đến tương lai cho những người Mỹ nào quan tâm đến dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Khi hồi tưởng lại quá khứ của mình ở Việt Nam, Hoa Kỳ hầu như chẳng có gì để cảm thấy tốt, nhưng nước Anh cũng đâu có vui gì khi hồi tưởng lại lịch sử của họ ở Zimbabwe hay ở Miến Điện. Thế mà người Anh và chính quyền họ đã và đang là những người chỉ trích chính cả hai chế độ, cho dù biết làm thế là chịu đựng những lời tố cáo có thể đoán trước được như thói xưa đánh chết cũng không chừa. Người Mỹ cất tiếng phản đối chế độ hiện nay tại Việt Nam có thể lường trước lời tố cáo như vậy từ chính quyền Việt Nam và cũng từ bên ngoài nước này. Điều ấy sẽ gợi lên những ký ức không vui, nhất là đang có chiến tranh diễn ra tại Iraq và Afghanistan.

Nhưng cái giá đứng bên lề lại quá cao, đặc biệt khi xét đến những biến chuyển gần đây ở Việt Nam mà gợi ý rằng phong trào đang ở vào một giai đoạn rất quan trọng. Vào mùa hè năm 2008, các nhà bất đồng chính kiến nhận một món quà không ngờ từ nhà cầm quyền. Chính quyền Việt Nam đã âm thầm nhượng đất trị giá hàng tỷ đô la cho một công ty Trung Quốc ở cao nguyên trung phần Việt Nam. Theo điều khoản của việc mua bán này, công ty Trung Quốc đã đưa vào hàng ngàn công nhân nước ngoài, vào lúc thất nghiệp lên cao tại Việt Nam, và họ đồng thời xây dựng những khu nhà ở và những nhà hàng mang bảng hiệu tiếng Trung Quốc.

Ít có vấn đề nào đoàn kết người Việt Nam cho bằng sự nghi ngờ về người hàng xóm to lớn của họ ở phương Bắc. Hai nước có chung lịch sử đầy sóng gió được đánh dấu qua những thời kỳ dài Bắc thuộc và chiến tranh, gần đây nhất là cuộc chiến tranh tuy ngắn nhưng đẫm máu vào năm 1979. Phản ứng mạnh mẽ chống lại vụ khai thác mỏ đã bùng lên. Tướng Võ Nguyên Giáp chín mươi tám tuổi, vị anh hùng quân đội của Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, đã công khai chỉ trích sự nhượng bộ đất đai này. Những người viết blog ở Việt Nam viết về hiểm hoạ thâm nhập từ các nhân viên tình báo và quân đội bí mật Trung Quốc. Phong trào đấu tranh dân chủ đã chụp lấy vấn đề này này để phát ra những lời hiệu triệu cháy bỏng kêu gọi lòng yêu nước của người Việt được lồng trong những nguyên tắc dân chủ: tầng lớp cai trị cao nhất trong chính quyền tham lam, vô trách nhiệm, đang bán đứng linh hồn Việt Nam cho Trung Quốc, và chỉ có thể chế chính trị thật sự dân chủ mới có thể ngăn chặn họ lại.

Một người chỉ trích đã kết nối vấn đề Trung Quốc với dân chủ là Lê Công Định, luật sư bốn mươi mốt tuổi từng theo học tại Đại học Tulane nhờ học bổng Fulbright. Lê Công Định nổi tiếng ở Việt Nam sau khi đại diện cho chính phủ trong một số vụ kiện nổi bật, trong đó có việc tranh chấp thương mại với Hoa Kỳ về vụ bán phá giá cá ba sa, mà Việt Nam đã thắng. Anh cũng đảm nhận công việc đầy bất trắc là biện hộ cho các nhà bất đồng chính kiến tại toà, nhưng danh tiếng cùng với địa vị cao trong chính quyền đã bảo vệ anh khỏi bị trả thù. Cuối cùng anh bị rắc rối với nhà cầm quyền khi anh bắt đầu viết các bài về vụ khai thác bauxite và cũng về vụ tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc liên quan đến các đảo có tiềm năng chứa nhiều dầu lửa trên biển Đông. Vào ngày 20 tháng Giêng năm nay, anh bị kết án năm năm tù vể tội tuyên truyền chống nhà nước. Án tù áp đặt lên Lê Công Định phát đi một tín hiệu rõ ràng: phát biểu công khai về Trung Quốc và dân chủ sẽ không dược dung thứ, dù với những ai có mối quan hệ với chính quyền hay xuất thân trong các gia đình tốt về chính trị.
Khi qua vấn đề Trung Quốc, ngày càng có nhiều người Việt trở nên ý thức về phong trào đấu tranh dân chủ, và khi sự trấn áp các nhà bất đồng chính kiến càng tiếp tục khốc liệt như hiện nay, sự ủng hộ quốc tế dành cho sự nghiệp đấu tranh dân chủ ở Việt Nam càng cực kỳ quan trọng hơn bao giờ hết. Trường hợp Lê Công Định nhắc nhở rằng trong các xã hội chuyên chế, bất đồng chính kiến là một chuyện đầy nguy hiểm mà chẳng đảm bảo thắng lợi. Dù vậy, ta hãy tưởng tượng nếu những lời kể của Solzhenitsyn về các quần đảo ngục tù bị bỏ rơi ngoài tai. Hay nếu Hiến chương 77 không bao giờ được ai ngoài biên giới Tiệp Khắc đọc đến. Ngay giờ đây có những Solzhenitsyn và những Havel ở Việt Nam. Liệu có ai sẽ lắng nghe họ?

Dustin Roasa là nhà báo tự do tại Cambodia viết về các vấn đề nhân quyền và phát triển ở Đông Nam Á. Ông đã sống ở Việt Nam từ năm 2004 đến 2005 và thường quay trở lại Việt Nam.

Nguồn: “Vietnamese Dissidents: Absent from the Western Mind”, Tạp chí Dissent, số mùa Hè năm 2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Quốc Việt

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Bình luận

7 Comments (bài “Dustin Roasa – Các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam không hiện diện trong tâm tưởng phương Tây”)

  1. Song Huong viết:

    Chuyện “Vietnamese Dissidents: Absent from the Western Mind,” xét ra không mấy gì quá ngạc nhiên. Việc “Vietnamese Dissidents: Absent from the Vietnamese Mind, Domestic and Overseas” mới là chuyện đáng quan ngại. Là bi kịck!

  2. Trương Đức viết:

    “Song thế giới bên ngoài hầu như chẳng lưu ý đến. Là nhà báo đã từng làm việc ở Đông Nam Á trong năm năm vừa qua và hay tiếp xúc với các nhà hoạt động đấu tranh dân chủ ở Việt Nam, tôi thường tự hỏi tại sao phong trào đã không thu hút đuợc sự quan tâm sâu rộng của thế giới như những phong trào tương tự ở Trung Quốc, Miến Điện, và Zimbabwe. Cho dù lý do thế nào chăng nữa, bạn có lẽ đang đọc ở đây lần đầu tiên một bài viết về phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam.”(Dustin Roasa)

    Một bài báo tâm huyết, sâu sắc. Sau khi đọc xong, tôi cũng suy nghĩ mãi câu hỏi trên như tác giả Dustin Roasa. Có mấy cảm nghĩ như thế này, xin được chia sẻ với các bác:

    1. Những năm của cuộc chiến 1954-1975, nhân dân của hầu như toàn thế giới, trong đó có cả nước Mỹ, đã xuống đường phản đối cuộc chiến tranh “bẩn thỉu” – Chiến tranh Việt Nam -, và hết lòng ủng hộ nhân dân Việt Nam, cả về vật chất lẫn tinh thần. Tất nhiên là sự ủng hộ đó nằm trong những phạm trù mang tính nhân đạo, bởi vì loài người chúng ta thì bao giờ cũng không muốn chiến tranh, chỉ muốn chung sống trong hòa bình và phát triển. Nhưng, theo tôi nghĩ, một trong những lý do để VN nhận được sự ủng hộ của thế giới, là vào thời kỳ đó, ĐCSVN chưa lộ rõ bản chất “độc ác độc tài”, và hình ảnh con người Việt Nam vẫn chưa bị “bôi nhem nhuốc” như bây giờ.

    2. Tôi sang Hungary đi học vào những năm trước khi thay đổi chế độ ở các nước XHCN Đông Âu cũ. Những tình cảm của nhân dân Hungary dành cho VN như là “Việt Nam ơi, chúng tôi luôn luôn ở bên các bạn” trong thời kỳ chiến tranh vẫn như còn “ấm mãi” với lứa sinh viên chúng tôi. Bọn chúng tôi hầu như ai cũng được một gia đình người Hung nhận làm con nuôi. Chúng tôi sống với các gia đình người Hung như thể với chính gia đình mình. Bầu không khí thanh bình yên ả như thể chúng tôi đang sống trong “Chủ nghĩa Cộng sản”. Mãi về sau này, chúng tôi (cả bạn bè người Hung) vẫn còn nhớ như in cái cảm giác tốt đẹp dành cho nhau ấy những khi ngồi “hàn huyên” với nhau.

    3. Vào những năm cuối của thập niên ‘80, trước khi “Bức tường Berlin” sụp đổ, và rõ nhất là vào những năm đầu thập niên ‘90, sau khi thay đổi chế độ, cái tình cảm ưu ái đó cũng thay đổi theo và, có thể nói là đã “biến mất” cho đến bây giờ. Dĩ nhiên là giữa những người bạn thực sự với nhau thì chúng tôi vẫn cảm nhận được phần nào cái tình cảm quí báu dành cho nhau đó, nhưng nó không còn mang màu sắc tương thân tương ái như trước nữa rồi. Đã không còn cảnh “nhận làm con nuôi” và “luôn luôn ở bên các bạn” nữa, mà thay vào đó là những tệ nạn từ người Việt như “ăn cắp, cướp bóc trấn lột lẫn nhau”, hay “buôn lậu”, dẫn đến “thanh trừng nhau giữa các băng đảng”,… Và gần đây, thời sự nhất là những vụ án buôn thuốc phiện, buôn người, hay “trồng cỏ” ở Hungary của một số người Việt. “Con sâu làm rầu nồi canh”, cái nhìn về cộng đồng người Việt Nam của người Hung nói riêng, của thế giới nói chung, đã thay đổi tận gốc, trở thành cái nhìn “lạnh nhạt”, pha chút “khinh bỉ”. Thật đáng tiếc!

    4. Theo tôi nghĩ, sự thoái hóa về đạo đức của xã hội và con người Việt Nam, bên cạnh những điều khác, đã góp một phần không nhỏ trong việc thế giới giờ đây không còn dành sự “ủng hộ hết mình” cho Việt Nam nữa, dẫn đến sự không “đoái hoài” gì đến phong trào đấu tranh dành dân chủ của “các nhà bất đồng chính kiến” nữa. Và về sâu xa, tội đồ lớn nhất trong việc này là cái ĐCSVN của ông Hồ Chí Minh. Nhưng bàn về “tội đồ ĐCSVN” này thì lại là một đề tài khác, tôi xin được miễn bàn ở đây.

  3. Hoà Nguyễn viết:

    Nguyễn Phong viết: “ Những vị nào đang lạc quan tếu trước triển vọng dân chủ đang đến gần của Việt Nam nên đọc kĩ bài này“.

    Chưa thấy ai bày tỏ “lạc quan tếu” như vậy. Phần đông đều thấy con đường dẫn đến dân chủ, tự do ở VN còn rất dài, rất khó khăn, nhưng nhất định người VN sẽ phải tới đích. Tất nhiên, những kẻ chống lại cố tình phá vỡ niềm tin đó, và làm nản lòng người.

    Bài báo này viết cho người Mỹ đọc, đã đưa ra nhận xét chủ yếu: người Mỹ ray rứt với mặc cảm “tội lỗi” do họ đã gây ra nhiều chết chóc, tàn phá khi can thiệp và tham dự vào cuộc chiến ở VN (nhân danh bảo vệ miền Nam, ngăn chận làn sóng CS), khiến ngày nay lương tâm họ như bị tê liệt, không muốn can dự vào tình hình VN, không có thái độ phản đối mạnh những đàn áp phong trào dân chủ tại VN. Họ tránh né, hay im lặng, làm ngơ, thật rất khác với cách họ đối với các nhà bất đồng chính kiến bị đàn áp ở Trung Quốc. Nhưng theo tác giả họ nên thức tỉnh, phải thoát ra khỏi “hoang tưởng” do họ tạo cho mình, và thay đổi thái độ, hành động.

    Bài báo có nhiều nhận định đáng suy nghĩ:

    1/ Người Mỹ mang nhiều hình ảnh khác nhau về nước VN, nhưng với họ:

    có lẽ “Việt Nam” khắc sâu trong lòng nhất là Việt Nam của mặc cảm có tội (về chuyện) Hoa Kỳ đã làm những điều kinh hoàng – từ chất độc da cam, ném bom rải thảm, đến những vùng oanh kích tự do .

    Tác giả khi có dịp ở Hà Nội biết rõ những tấm ảnh tù binh Mỷ hơn 30 năm trước tươi cười (trước ống kính) là dàn dựng, nhưng giữ thái độ im lặng:

    Là người Mỹ, tôi lập luận, tôi không có quyền phàn nàn, khi xét đến tất cả những chuyện ghê sợ mà nước tôi đã gây ra ở Việt Nam trong thời chiến tranh… Tôi sẵn sàng chấp nhận phiên bản lịch sử mà tôi biết là giả dối để tránh đối diện với cảm giác xấu hổ mà tôi đã không tìm được những lời giải hợp lý “.

    Khi nhà báo tiếp xúc với người Việt Nam:

    tôi (nhà báo) không bao giờ gặp phải sự thù hận từ phía những người Việt Nam “.

    Chưa chắc người VN không có lòng thù hận người Mỹ, nhưng nếu không bị khích động bởi tuyên truyền một chiều, họ không có nhiều lý do để nuôi dưỡng “căm thù” lâu dài. Bom đạn, thuốc khai quang phần nhiều sử dụng ở vùng rừng núi; Mỹ không đem chiến tranh vào thành phố hay khu đông cư dân (ở miền Nam), và vụ Mỹ Lai chỉ là cá biệt với số nạn nhân rất nhỏ so với tổng số người chết trong cuộc chiến.

    Nhưng tình cờ trong cuộc sống thực tế ngoài đường phố giúp tác già tự vượt qua được mặc cảm, trở lại với lương tâm bình an hơn, sau khi thấy “xấu hổ” vì đã bất động trước một hành động (trấn áp) thô bạo, và từ đó thay đổi cách nhìn đối với những nhà bất đồng chính kiến trong nước bị đàn áp:

    Tôi sẽ không bao giờ quên cái cảnh tượng một người phụ nữ bán trứng rong bị một tốp công an đánh đập vào một buổi sáng trên đường tôi lái xe đi làm…
    Niềm ray rứt và nỗi xấu hổ đằng sau quyết định của tôi đã không phản đối vụ đánh đập chị bán trứng rong ấy, tôi tin, cũng chính là các thôi thúc giải thích quyết định của cộng đồng quốc tế làm ngơ trước phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam
    .

    Với tình hình đối kháng :

    Cuộc trấn áp này đã gây ra hậu quả đáng sợ. Đa số các nhà bất đồng chính kiến ngừng phát biểu công khai, … thiểu số rút lui vào hoạt động bí mật, vẫn âm thầm tiếp tục tổ chức và cho ra những nội san và tuyên bố .

    Tác giả thúc giục người Mỹ nên ý thức về một nghĩa vụ mới:” họ nên coi đó là một trách nhiệm đặc biệt để “đền bù sự tàn phá do bom Mỹ gây ra ở Việt Nam ” bằng cách ủng hộ phong trào đấu tranh dân chủ .

    So sánh với những nhà tranh đấu dân chủ ở Nga, Tiệp trước đây từng được Mỹ lắng nghe và nhiệt tình ủng hộ :

    ta hãy tưởng tượng nếu những lời kể của Solzhenitsyn về các quần đảo ngục tù bị bỏ rơi ngoài tai. Hay nếu Hiến chương 77 không bao giờ được ai ngoài biên giới Tiệp Khắc đọc đến. Ngay giờ đây có những Solzhenitsyn và những Havel ở Việt Nam. Liệu có ai sẽ lắng nghe họ? “.

    Tác giả cho là chính quyền Mỹ hiện nay đã thay đổi quan điểm về chuyện nhân quyền ở các nước độc tài tại châu Á:

    Barack Obama, ngược lại, đã không biểu lộ sự quan tâm như thế về chủ đề này, mà ta có lẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên vì ông cũng chẳng mở miệng nói gì về nhân quyền ở Châu Á .

    Người Việt ở Mỹ đã tìm hiểu về Obama trước và trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua; một số họ đã không bỏ phiếu cho ông cũng vì nhìn thấy giống như nhà báo. Nhưng TT Barach Obama, thuộc đảng Dân Chủ, tuy muốn chú trọng nhiều hơn các vấn đề nội bộ, nhưng vẫn bị ràng buộc bởi những cam kết và đòi hỏi về trách nhiệm của nước Mỹ siêu cường đối với thế giới. TT Obama không thể bỏ rơi Afghanisatan, Nam Hàn và chưa thể quên mất lý tưởng tự do, dân chủ mà đa số người Mỹ tự hào. Chưa thấy Mỹ thay đổi chính sách đối với Miến, Iran, Cuba, khi ỡ những nước đó còn tồn tại chế độ phản dân chủ. Trường hợp tệ có thể là Mỹ giảm mức độ ủng hộ các phong trào dân chủ ở mặt công khai, và nếu vậy người Việt ở Mỹ cần phải tích cực hơn trong vận động chính giới, dư luận Mỹ.

  4. P viết:

    Tôi không phải Lê Công Định hay Nguyễn Tiến Trung nên không dám nói thay cho họ, nhưng tôi nghĩ một người đấu tranh cho dân chủ thực sự, hay chỉ là một người bình thường biết yêu quí những giá trị dân chủ, họ không có lý do gì để trông đợi hay nương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài nào để nói lên khát vọng của mình.

    Một khi dân chủ đã là mong mỏi và lý tưởng của họ, những người đang sống trong một thể chế độc tài, việc được ủng hộ và giúp đỡ từ kẻ khác tuy là một sự xoa dịu lớn, không phải là một lý do chính để họ tồn tại. Vậy nên điều trên nếu có là sự thật, chắc đối với họ cũng chẳng có gì cay đắng.

  5. Nguyễn Phong viết:

    Quá hay, quá xác đáng! Những vị nào đang lạc quan tếu trước triển vọng dân chủ đang đến gần của Việt Nam nên đọc kĩ bài này. Những vị đã và đang cả tin vào sự “giúp đỡ” của các cường quốc dân chủ Tây phương cho phong trào dân chủ Việt Nam cũng nên đọc kĩ bài này.

    Có lẽ những người như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung sau một thời gian được công an Việt Nam “bật mí” cho thấy phía Hoa Kỳ nhẹ nhàng bỏ rơi họ sau vài lời phản đối chiếu lệ đối với chính quyền VN, nên cuối cùng đã phải nhận ra sự thật cay đắng này.

  6. vantruong viết:

    Từ góc nhìn này những nhận định của ông Dusti Roasa rất thực, rất chính xác và độc lập. Cám ơn ông Trần Quốc Việt đã giới thiệu với bản dịch rất hay.

  7. […] CÁC NHÀ BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN KHÔNG HIỆN DIỆN TRONG TÂM TƯỞNG PHƯƠNG TÂY Bởi ngoclinhvugia Các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam không hiện diện trong tâm tưởng Phương T… […]

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...