talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 2: Các lý lẽ ủng hộ và chống

11/07/2010 | 12:00 chiều | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Nguyễn Trang Nhung

Chuyên mục: Pháp luật
Thẻ:

Như đã nêu ở kỳ trước, kỳ này nói về các lý lẽ ủng hộ và chống hình phạt tử hình, đồng thời điểm sơ qua các quan điểm của các tôn giáo về hình phạt. Các lý lẽ ủng hộ và chống được tổng hợp từ một số nguồn chính[1], xen lẫn với một vài lý lẽ mà người viết thu được từ những người xung quanh.

I. Lý lẽ ủng hộ

1. Sự trừng trị hay công lý: Những người phạm tội xứng đáng bị trừng phạt một cách tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Công lý thực sự đòi hỏi con người phải gánh chịu sự trừng phạt do những việc làm sai trái của mình. Mỗi phạm nhân phải nhận cái tương xứng với tội phạm mà họ gây ra, và đối với một kẻ giết người thì cái tương xứng đó là cái chết.

2. Tác dụng ngăn cản: Xử tử những kẻ giết người đã bị kết án sẽ ngăn cản những ai có thể trở thành kẻ giết người trong tương lai khỏi giết người. Lý lẽ này gặp sự phản bác rằng tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình là không thể chứng minh.

3. An toàn cho xã hội: Xử tử những kẻ giết người sẽ tránh được khả năng những kẻ giết người này phạm tội về sau. Nhiều người cho rằng lý lẽ này không đủ thuyết phục để lấy đi mạng sống của phạm nhân, và lập luận rằng có những cách khác để bảo đảm phạm nhân không tái phạm, chẳng hạn như bỏ tù chung thân vĩnh viễn. Mặc dù có những trường hợp phạm nhân trốn thoát khỏi tù và lại giết người song những trường hợp như vậy rất hiếm. Nhưng một số người khác không cho rằng cách này bảo vệ xã hội một cách thỏa đáng. Một phạm nhân có thể không còn nguy hiểm đối với cộng đồng, nhưng vẫn nguy hiểm đối với các cai tù và các tù nhân khác. Xử tử phạm nhân sẽ loại bỏ mối nguy hiểm này.

4. Tổn phí: Tổn phí cho án tù chung thân tốn kém hơn tổn phí cho án tử hình. Lý lẽ này đúng ở một số nước và sai ở một số nước khác, cho nên cũng có lý lẽ ngược lại, được dùng bởi những người phản đối hình phạt tử hình, rằng tổn phí cho án tù chung thân ít tốn kém hơn. Đối với một số người phản bác lý lẽ về tổn phí nói chung, thì công lý không thể được đong đếm bằng tiền bạc.

5. Gia đình nạn nhân: Nhiều người lập luận rằng hình phạt tử hình mang lại sự giải quyết thỏa đáng cho gia đình nạn nhân. Đây là một lý lẽ khá hời hợt, bởi mỗi gia đình có phản ứng khác nhau. Vì một số gia đình không cảm thấy cái chết của phạm nhân mang lại sự giải quyết thỏa đáng, nên lý lẽ này không thể biện minh cho hình phạt tử hình.

6. Khích lệ trợ giúp cảnh sát: Thương lượng nhận tội (plea bargaining) được dùng ở hầu hết các nước trên thế giới. Nó là một tiến trình qua đó phạm nhân được giảm án với điều kiện trợ giúp cảnh sát. Nếu như án có thể là tử hình, phạm nhân có thể được khuyến khích một cách mạnh mẽ nhất để cố gắng được giảm án, thậm chí là án tù chung thân vĩnh viễn, do đó hình phạt tử hình là một công cụ hữu ích cho cảnh sát. Đây là một lý lẽ yếu, nó khá giống với lý lẽ cho rằng tra tấn có thể được dùng như một công cụ hữu ích cho cảnh sát trong quá trình điều tra tội phạm.

II. Lý lẽ chống

1. Giá trị cuộc sống: Cuộc sống của con người là giá trị. Điều này tất nhiên là đúng. Một số người phản đối hình phạt tử hình cho rằng cuộc sống của con người giá trị đến nỗi ngay cả những kẻ sát nhân tồi tệ nhất cũng không nên bị tước đoạt cuộc sống, theo đó, giá trị cuộc sống của một phạm nhân không thể bị hủy hoại bởi hành vi tồi tệ mà phạm nhân gây ra. Một số người phản đối khác không đi xa như vậy, họ cho rằng cuộc sống của con người cần phải được bảo toàn, trừ phi có lý do rất đúng đắn để không bảo toàn cuộc sống của ai đó.

2. Quyền được sống: Mọi người đều có quyền được sống không thể chuyển nhượng, thậm chí cả những kẻ giết người. Kết án tử hình một người và xử tử người đó là xâm phạm quyền được sống. Lý lẽ này cũng giống như lý lẽ trên, song được nhìn từ góc độ nhân quyền. Những người phản bác lý lẽ này cho rằng, một người có thể, do những hành động của mình, đánh mất các quyền con người, và khi phạm tội giết người, người đó đã đánh mất quyền được sống, chẳng hạn: một người đánh mất quyền được sống nếu người đó bắt đầu một cuộc tấn công sát hại và cách duy nhất để nạn nhân tự cứu mình là giết kẻ tấn công.

3. Xử tử người vô tội: Lý lẽ phổ biến nhất và thuyết phục nhất phản đối hình phạt tử hình là người vô tội có thể bị xử tử do những sai sót hay khiếm khuyết của hệ thống tư pháp. Nhân chứng, công tố viên, bồi thẩm viên đều có thể mắc sai sót, thêm vào đó, khiếm khuyết của hệ thống tư pháp khiến cho việc kết án tử hình người vô tội là không thể tránh khỏi. Một ví dụ rất rõ nét về điều này là tại Mỹ, có 116 người bị kết án tử hình được biết là vô tội kể từ năm 1973 và đã được hủy án tử hình. Thời gian trung bình mà các phạm nhân chờ cho đến khi được giải tội là 9 năm.[2]

4. Sự trừng trị là sai: Nhiều người cho rằng sự trừng trị là sai về đạo đức hoặc có vấn đề trong ý niệm và thực tế.

Sự trả thù: Lý lẽ chính được đưa ra ở đây là sự trừng trị là một dạng của sự trả thù. Sự trừng trị khác với sự đáp trả chính đáng, chẳng hạn, trong trường hợp tự vệ. Hình phạt tử hình không phải là biện pháp tự vệ mà là biện pháp trả thù. Do vậy, hình phạt tử hình là không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, lý lẽ này có vẻ đi hơi xa. Luật pháp vốn gắn với sự trừng trị. Và sự trừng trị đúng đắn được thiết đặt nhằm tái lập công lý có thể được phân biệt một cách dễ dàng với sự trả thù.

Sự trừng trị và người vô tội: Xử tử người vô tội là một vấn đề đối với lý lẽ trừng trị. Nếu người vô tội có nguy cơ nghiêm trọng bị xử tử thì một trong những nguyên lý chính của sự trừng trị – rằng con người nhận những gì họ xứng đáng (và chỉ những gì họ xứng đáng) – bị xâm phạm bởi việc thi hành hình phạt tử hình tại Mỹ và những nước xảy ra sai lầm trong xét xử.

Không được áp dụng để trừng trị: Một số luật sư lập luận rằng hình phạt tử hình không thực sự được áp dụng như sự trừng trị đối với tội giết người, hoặc thậm chí không thống nhất đối với một loại tội giết người cụ thể. Họ cho biết, tại Mỹ, ít nhất, chỉ một thiểu số những kẻ giết người bị hành quyết và hình phạt tử hình được áp dụng đối với một nhóm ngẫu nhiên các phạm nhân được chọn một cách thất thường. Do đó, dùng sự trừng trị để biện minh cho hình phạt tử hình là không phù hợp. Lý lẽ này không có giá trị trong một xã hội mà hình phạt tử hình được áp dụng một cách thống nhất cho các loại tội giết người cụ thể.

Trừng trị nặng nề: Với một số người, sự trừng trị trong trường hợp hình phạt tử hình là không công bằng, bởi sự chịu đựng của phạm nhân trước khi hành quyết có thể nặng nề hơn sự chịu đựng của nạn nhân của phạm nhân. Một số khác cho rằng lý lẽ trừng trị là sai lầm bởi vì hình phạt tử hình là ‘trừng phạt gấp đôi’ – hành quyết và chờ hành quyết, nên không cân xứng với tội phạm. Nhiều phạm nhân phải chờ hành quyết trong một thời gian dài, chẳng hạn, tại Mỹ, thời gian chờ trung bình là 10 năm. Tuy nhiên, chờ hành quyết trong một thời gian dài không phải là một đặc tính cố hữu của hình phạt tử hình; một số nước xử tử phạm nhân trong vòng vài ngày kể từ sau khi kết án tử hình.

Trừng trị không đủ: Lý lẽ này ngược với lý lẽ trên. Một số người tin vào ý niệm sự trừng trị phản đối hình phạt tử hình bởi hình phạt tử hình là sự trừng trị không đủ. Họ lập luận rằng đối với phạm nhân, tù chung thân vĩnh viễn là hình phạt nặng nề hơn so với cái chết không đau đớn sau một thời gian ngắn bị giam giữ trong tù. Một ví dụ cho lý lẽ này là đối với những người lập kế hoạch đánh bom tự sát, việc hành quyết sẽ khiến họ trở thành người cảm tử như họ mong muốn.

5. Không có tác dụng ngăn cản: Hình phạt tử hình không có vẻ ngăn cản được con người phạm các tội bạo lực nghiêm trọng. Có sự đồng thuận chung giữa các nhà khoa học xã hội là tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình là không thể chứng minh. Vào năm 1988, một nghiên cứu được tiến hành cho Liên Hợp Quốc để xác định liên hệ giữa hình phạt tử hình và tỷ lệ các vụ giết người, nghiên cứu sau đó được cập nhật vào năm 1996, kết luận: “…nghiên cứu đã thất bại trong việc đưa ra bằng chứng khoa học rằng các vụ hành quyết có tác dụng ngăn cản hơn so với án tù chung thân. Những bằng chứng như vậy không có vẻ là sẵn có. Toàn bộ chứng cứ không hỗ trợ lý thuyết ngăn cản. Chìa khóa cho việc ngăn cản thực sự và đúng đắn là tăng khả năng phát hiện, bắt giữ và kết án” (Tổ chức Ân xá Quốc tế).[3]

Thực tế, không thể kiểm nghiệm tác dụng ngăn cản của hình phạt theo cách thức nghiêm ngặt, vì để làm vậy đòi hỏi phải biết được có bao nhiêu vụ giết người xảy ra tại một nơi cụ thể (một nước, một bang,…) nếu luật của nơi đó khác đi trong cùng khoảng thời gian nghiên cứu.

Tuy nhiên, có một số chỉ dấu cho thấy hình phạt tử hình làm tăng tỷ lệ các vụ giết người. Chẳng hạn như sự khác biệt về tỷ lệ này tại Mỹ giữa hai nhóm bang giữ và bỏ hình phạt tử hình đã tăng từ năm 1990 đến năm 2003 (xem ví dụ trong phần 6 dưới đây).

Theo một số người, hình phạt tử hình thậm chí tạo tâm lý khiến phạm nhân liều lĩnh hơn. Vì sợ bị tử hình, phạm nhân chưa bị bắt có thể ra tay tàn bạo hơn nhằm trốn tránh luật pháp, chẳng hạn sẵn sàng giết người bịt đầu mối, tấn công cảnh sát, bắt giữ con tin… Hoặc vì nghĩ rằng tội phạm mà mình đã gây ra chắc chắn sẽ nhận án tử hình, phạm nhân sẽ có xu hướng cảm thấy không do dự khi tiếp tục phạm tội.

Có ý kiến cho rằng sự ngăn cản là một ý niệm có vấn đề về mặt đạo đức. Một câu hỏi được đặt ra là dù hình phạt tử hình có tác dụng ngăn cản đi chăng nữa thì liệu có thể chấp nhận được việc một ai đó phải trả giá vì những tội phạm trong tương lai được dự đoán của những người khác hay không?

6. Tàn bạo hóa:

Tàn bạo hóa cá nhân: Các thống kê cho thấy hình phạt tử hình dẫn đến sự tàn bạo hóa cá nhân và sự gia tăng tỷ lệ các vụ giết người. Tại Mỹ, có nhiều vụ giết người xảy ra ở các bang còn giữ hình phạt tử hình hơn so với các bang đã bỏ hình phạt tử hình. Vào năm 2003, tỷ lệ các vụ giết người ở các bang đã bỏ hình phạt tử hình là 4,1% trên 100.000 người dân. Tỷ lệ này ở các bang còn giữ hình phạt tử hình là 5,91%. Khoảng cách về tỷ lệ các vụ giết người giữa các bang có hình phạt tử hình và các bang không có hình phạt tử hình tăng từ 4% năm 1990 đến 44% năm 2003. Các tính toán dựa trên các con số do FBI cung cấp.[4]

Tàn bạo hóa luật pháp: Hình phạt tử hình được cho là tạo ra sự liên kết không thể chấp nhận được giữa luật pháp và bạo lực. Nhưng theo nhiều cách, luật pháp không thể tránh khỏi liên kết với bạo lực – nó trừng phạt các tội phạm bạo lực, và sử dụng hình phạt để hạn chế tự do của con người ‘một cách bạo lực’. Về mặt triết học, luật pháp luôn dính dáng tới bạo lực và chức năng của nó bao gồm việc duy trì một xã hội có trật tự khỏi các sự kiện bạo lực. Tuy nhiên, bạo lực hợp pháp rõ ràng khác với bạo lực tội phạm, và khi bạo lực hợp pháp được sử dụng, nó phải được sử dụng theo cách mà mọi người thấy công bằng và hợp lý.

Hạ thấp tinh thần xã hội: Xã hội văn minh không dung thứ cho tra tấn, ngay cả khi tra tấn có thể cho thấy tác dụng ngăn cản, hay các tác dụng tốt khác. Cũng theo cách này, nhiều người cảm thấy hình phạt tử hình là không phù hợp với một xã hội văn minh hiện đại khi phản ứng lại các tội phạm thậm chí kinh khủng nhất.

7. Tổn phí: Tại Mỹ, án tử hình tốn kém tổn phí lớn. Ví dụ, tổn phí xét xử và hành quyết Timothy McVeigh vì tội đánh bom thành phố Oklahoma là hơn 13 triệu đô-la. Ở New York, kể từ khi hình phạt tử hình được dùng trở lại vào năm 1995, tổn phí cho mỗi tù nhân bị kết án tử hình là xấp xỉ 23 triệu đô-la[5]. Tại các nước có thủ tục kháng cáo ngắn hơn và ít tổn phí hơn, án tử hình có vẻ ít tốn kém hơn nhiều so với án tù chung thân.

8. Áp dụng sai: Một số nước trong đó có Mỹ áp dụng hình phạt tử hình với cả những người được chứng minh là tâm thần. Nhìn chung, người ta đồng ý rằng những người không có khả năng nhận biết các hành động của mình là sai trái thì không nên bị trừng phạt. Do đó, những người tâm thần không nên bị kết án, càng không nên bị xử tử. Họ có thể được đưa vào các viện tâm thần để bảo đảm an toàn cho xã hội, thay vì bị trừng phạt. Vấn đề trở nên phức tạp hơn trong trường hợp phạm nhân có trí óc bình thường tại thời điểm phạm tội lẫn xét xử nhưng bị tâm thần trước khi hành quyết.

9. Áp dụng không công bằng: Có quan ngại lớn tại Mỹ rằng những khiếm khuyết trong hệ thống xét xử khiến hình phạt tử hình được áp dụng không công bằng. Một quan tòa Tòa án Tối cao Mỹ (ban đầu ủng hộ hình phạt tử hình) cuối cùng đã đi đến kết luận rằng hình phạt tử hình không thể tránh khỏi làm tổn hại đến mục tiêu của công lý.

Tại Mỹ, các bồi thẩm viên trong nhiều vụ về hình phạt tử hình phải ‘thích hợp với án tử hình’ (‘death eligible’), điều này có nghĩa là các bồi thẩm viên phải sẵn sàng áp dụng án tử hình như một khả năng khi kết án. Hệ thống pháp lý không phải luôn luôn chỉ định những luật sư giỏi cho những bị cáo nghèo. Trong số tất cả các phạm nhân bị kết án tử hình, 3/4 được chỉ định luật sư hỗ trợ pháp lý có thể mong đợi hành quyết. Con số này giảm xuống 1/4 nếu bị cáo có khả năng chi trả cho luật sư.[6]

Những người tâm thần, người nghèo, nam giới, người chủng tộc thiểu số chiếm phần lớn trong số những người bị xử tử. Một nghiên cứu thí điểm trên 2 tá phạm nhân bị kết án cho thấy tất cả đều bị ngược đãi trầm trọng trong suốt thời thơ ấu, tất cả họ có thể đã chịu tổn thương não bộ. Phụ nữ bị kết tội giết người hầu hết không bị xử tử, hình phạt tử hình gần như dành hoàn toàn cho nam giới. Theo một nghiên cứu vào năm 1986 ở bang Georgia, những người giết người da trắng có khả năng bị kết án tử hình cao hơn 4 lần so với những người giết người da màu.[7]

10. Tàn nhẫn, phi nhân bản, hạ cấp: Bất kể tình trạng đạo đức của hình phạt tử hình, một số ý kiến cho rằng tất cả hình thức hành quyết tử tù đều dẫn đến sự chịu đựng quá lớn đối với tử tù và khiến họ như bị tra tấn. Nhiều phương pháp hành quyết gây đau đớn và dã man đã dần được hủy bỏ. Phương pháp tiêm thuốc độc được dùng ở nhiều nước còn giữ hình phạt tử hình vì được cho ít tàn nhẫn đối với phạm nhân và ít nhẫn tâm đối với người thi hành.

Những người phản đối hình phạt tử hình cho rằng phương pháp này có những nhược điểm nghiêm trọng về mặt đạo đức và phải được hủy bỏ. Nhược điểm thứ nhất là phương pháp này đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của nhân viên y tế vào việc hành quyết. Điều này vi phạm một cách một cơ bản đạo đức ngành y. Nhược điểm thứ hai là, theo một nghiên cứu vào tháng 4 năm 2005, người ta thấy phương pháp này không gần như ‘nhân đạo’ như người ta vẫn nghĩ. Các xét nghiệm trên tử thi phạm nhân cho thấy mức độ thuốc gây mê trong cơ thể họ tương hợp với tình trạng tỉnh thức và khả năng trải nghiệm sự đau đớn.

11. Không cần thiết: Đây là lý lẽ về mặt chính trị hơn là về mặt đạo đức. Nó dựa trên nguyên tắc chính trị là nhà nước nên thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo cách ít xâm phạm, ít nguy hại, và ít hạn chế nhất có thể. Nhà nước có nghĩa vụ trừng phạt tội phạm để duy trì một xã hội có trật tự và hài hòa. Hình phạt tử hình là hình phạt nguy hại nhất, nhà nước chỉ nên sử dụng nó nếu không có sự trừng phạt nào phù hợp mà ít nguy hại hơn.

Những hình phạt khác luôn luôn cho phép nhà nước thực hiện đầy đủ mục tiêu trừng phạt tội phạm một cách phù hợp. Do đó nhà nước không nên sử dụng hình phạt tử hình.

Một số người cho rằng xử tử kẻ giết người không mang nạn nhân trở lại cuộc sống. Hình phạt tử hình không đạt được điều gì mà chỉ lấy đi một mạng sống khác.

12. Cơ hội cho sự thay đổi: Án tù chung thân thay cho án tử hình phần nào mang lại cơ hội tốt hơn cho phạm nhân nhìn lại và hối hận với những việc làm tội lỗi mà mình đã gây ra.

Có thể dẫn chứng một vài trường hợp tiêu biểu về các phạm nhân đã thay đổi trong thời gian ở tù. Bang Texas, Mỹ, ngày 3/2/1998 đã diễn ra vụ hành quyết Karla Faye Tucker, một phụ nữ 38 tuổi bị kết án tử hình vì tội giết người. Trong suốt 14 năm ở tù, bà đã hối hận và như được “sinh ra lần nữa”. Trường hợp của bà đã nhận được sự quan tâm lớn của công chúng. Rất nhiều cá nhân và tổ chức đã nài xin sự khoan dung cho bà, trong đó có người thân của các nạn nhân, bồi thẩm viên và nhân viên cảnh sát[8].

Những trường hợp như trên có thể rất hiếm. Một số người cho rằng, chỉ một phần rất nhỏ các phạm nhân có khả năng thay đổi và một phần lớn số phạm nhân tồi tệ nhất sẽ không bao giờ hối hận với những việc làm tội lỗi của mình. Ngay cả như thế, một số khác phản hồi rằng việc không tử hình một phần lớn số phạm nhân này không phải là vì xã hội phải rủ lòng thương cảm, mà là vì xã hội phải học cách khoan dung.

13. Gia đình của tử tù: Lấy đi mạng sống của một phạm nhân bằng hình phạt tử hình gây ra mất mát đối với những người thân của phạm nhân đó, trong khi họ là những người vô tội.

14. Công cụ đàn áp chính trị: Hình phạt tử hình có thể được dùng như công cụ đàn áp chính trị, nhằm loại bỏ những người đối lập hay bất đồng chính kiến. Trong hầu hết các trường hợp như vậy, các “phạm nhân” bị kết án tử hình bởi những phiên tòa bất công. Chừng nào hình phạt tử hình còn được dùng như một cách thức trừng phạt hợp pháp, chừng đó nó còn khả năng bị lạm dụng.

15. Cái chết bất thường: Một số người, không chỉ riêng những người có niềm tin tôn giáo, tin rằng mỗi cá nhân có một thời điểm chết tự nhiên. Việc lấy đi mạng sống của một cá nhân một cách đột ngột như tử hình sẽ khiến người đó bị “mắc kẹt” giữa thế giới hiện hữu và thế giới bên kia.

III. Quan điểm của các tôn giáo

Phần này chỉ điểm sơ qua về quan điểm của năm tôn giáo chính đối với hình phạt tử hình, đó là Phật giáo, Ky-tô giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo và Do Thái giáo. Chi tiết hơn về quan điểm của các tôn giáo đối với chủ đề này, người đọc có thể kiểm nghiệm qua tôn giáo của chính mình (nếu có) và tìm hiểu qua nhiều nguồn khác.

Phật giáo

Phật giáo tồn tại theo nhiều hình thức và nhiều tổ chức khác nhau và không có quan điểm thống nhất về hình phạt tử hình. Song rõ ràng, hình phạt tử hình không phù hợp với những lời giảng Phật giáo. Phật giáo nhấn mạnh về tính phi bạo lực và lòng từ bi. Giới đầu tiên trong Ngũ Giới – “Không được giết hại” – đòi hỏi các cá nhân tránh làm bị thương hoặc giết bất cứ sinh vật sống nào.

Đức Phật không nói rõ về hình phạt tử hình, song những lời dạy của ngài cho thấy ngài không có thiện cảm với hình phạt về thể chất, bất kể tội phạm tồi tệ ra sao.

Phật giáo tin về cơ bản vào chu trình sinh và tái sinh (luân hồi) và dạy rằng nếu hình phạt được thi hành, nó sẽ gây ảnh hưởng lên các linh hồn của cả người phạm tội lẫn người trừng phạt ở kiếp sau.

Khi hình phạt tử hình được lưu tâm đến trên thế giới, Phật giáo đã thể hiện các quan điểm về hình phạt tử hình một cách dứt khoát như sau:

  • Cư xử phi nhân tính đối với người phạm tội không giải quyết được những việc làm xấu của họ hoặc của nhân loại nói chung – cách tiếp cận tốt nhất đối với người phạm tội là giáo dưỡng chứ không phải trừng phạt
  • Trừng phạt chỉ nên ở mức độ sao cho người phạm tội cần để sửa đổi, và sự phục hồi của người đó trong xã hội phải được hết sức coi trọng
  • Trừng phạt một người phạm tội với sự tàn nhẫn quá mức sẽ làm tổn thương tâm trí không chỉ của người phạm tội, mà còn của người làm việc trừng phạt
  • Không thể thi hành hình phạt nghiêm trọng với sự tĩnh tại và lòng từ bi
  • Nếu tội phạm là đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị trục xuất khỏi cộng đồng hay quốc gia

Ky-tô giáo

Quan điểm của những người theo Ky-tô giáo không thống nhất đối với hình phạt tử hình. Trong lịch sử, các nhà thờ Ky-tô giáo đã chấp nhận hình phạt tử hình như một phần của cơ chế xã hội.

Giáo lý Roman được đưa ra vào năm 1566 nói rằng quyền lực của sự sống và cái chết được Chúa giao phó cho chính quyền dân sự. Việc sử dụng quyền lực này không biểu hiện hành vi giết người, mà biểu hiện sự vâng phục tối thượng đối với các lời răn của Chúa. Luật của Vatican vào năm 1929 đến 1969 bao gồm hình phạt tử hình cho những ai cố ý ám sát Giáo hoàng.

Một cuộc nghiên cứu được thực hiện vào những năm 90 tại Mỹ cho thấy những người theo đạo Tin lành có vẻ ủng hộ hình phạt tử hình hơn những người theo các giáo phái hay tôn giáo khác.

Cựu Ước, với 36 tội phạm tử hình, ám chỉ rằng Chúa tạo ra hình phạt chết, trong khi Tân Ước là hiện thân của vụ hành quyết nổi tiếng nhất trong lịch sử – Chúa Giê-su trên cây thập giá. Nghịch lý là, mặc dù tinh thần của toàn bộ Tân Ước là sự tha thứ, song nó có vẻ cho rằng nhà nước có quyền xử tử người phạm tội.

Lời răn “Các người không được giết người” của Chúa Giê-su được các tín đồ Ky-tô giáo hiểu theo những cách khác nhau. Những người ủng hộ hình phạt tử hình cho rằng lời răn này không có nghĩa là cấm giết người tuyệt đối. Ngược lại, đối với những người phản đối hình phạt tử hình, lời răn này là một huấn thị rõ ràng, không có ngoại lệ.

Hồi giáo

Hồi giáo hoàn toàn chấp nhận hình phạt tử hình. Nhưng ngay cả như vậy, sự tha thứ được ưa thích hơn. Sự tha thứ, cùng với hòa bình, là một đề tài chủ đạo của kinh Koran.

Các tín đồ Hồi giáo cho rằng hình phạt tử hình là hình phạt nặng nhất nhưng có thể được một tòa án ra lệnh thi hành đối với các tội phạm có mức độ nghiêm trọng phù hợp. Các phương pháp hành quyết có thể khác nhau theo từng nước và có thể bao gồm chặt đầu, xử bắn, treo cổ, và ném đá.

Tại một số nước, các vụ hành quyết được thực hiện công khai để nâng cao yếu tố ngăn cản. Luật Hồi giáo Sharia sử dụng hình phạt tử hình cho nhiều loại tội phạm như bội phản, bỏ đạo, trộm cướp, giết người, khủng bố, cưỡng hiếp, ngoại tình, quan hệ tình dục đồng giới, v.v…

Ấn Độ giáo

Không có quan điểm chính thức của Ấn Độ giáo về hình phạt tử hình. Tuy nhiên, với nguyên lý không sát sinh, Ấn Độ giáo phản đối giết người, bạo lực và trả thù.

Là nước có phần đông dân chúng theo Ấn Độ giáo, Ấn Độ hiện vẫn giữ hình phạt tử hình, mặc dù hiếm khi sử dụng đến[9].

Do Thái giáo

Trong Cựu Ước Do Thái giáo, có 36 tội phạm tử hình được liệt kê. Điều này có thể khiến nhiều người nghĩ rằng Do Thái giáo ủng hộ hình phạt tử hình, nhưng thực tế không như vậy. Trong suốt thời kỳ luật Do Thái được vận dụng như một thế tục cũng như thẩm quyền tôn giáo, các tòa án Do Thái rất hiếm khi áp dụng hình phạt tử hình.

Các giáo sĩ Do Thái đã viết bộ luật Talmud, bao gồm một tập hợp các văn bản cổ lập thành cơ sở của quyền lực tôn giáo, với một loạt các rào cản cho việc áp dụng hình phạt tử hình, khiến cho hình phạt rất khó được thi hành trên thực tế. Kết quả là trong các thời kỳ của các giáo sĩ Do Thái, có rất ít người bị xử tử. Các quy tắc sau đã được các giáo sĩ đặt ra cho bộ luật Talmud:

  • Diễn giải các văn bản theo ngữ cảnh của sự trân trọng của Do Thái giáo đối với sự thiêng liêng của cuộc sống con người
  • Nhấn mạnh các văn bản chống sự chết, như lời răn “Các ngươi không được giết người”
  • Diễn giải các văn bản sao cho gần với việc áp dụng chúng
  • Không chấp nhận bất cứ văn bản Toral (5 cuốn đầu của Cựu Ước) nào đưa ra hình phạt tử hình
  • Tìm các hình phạt thay thế hoặc các cách thức bồi thường cho gia đình nạn nhân
  • Áp các rào cản có thủ tục và chứng cứ khiến hình phạt tử hình là không thể thi hành

Ngày nay, nhà nước Do Thái đã bỏ hình phạt tử hình cho tất cả các loại tội phạm, trừ tội phạm chiến tranh (1954)[10].

_____________

Kỳ tiếp theo: Chi tiết về tác dụng ngăn cản và xem xét nước Mỹ như một trường hợp nghiên cứu.

5/7/2010

© 2010 Nguyễn Trang Nhung

© 2010 talawas


[1] Capital Punishment: http://www.bbc.co.uk/ethics/capitalpunishment

Capital punishment: All viewpoints on the death penalty: http://www.religioustolerance.org/execute.htm

Capital Punishment U.K.: http://www.capitalpunishmentuk.org

The Death Penalty, Question and Answer: http://www.amnesty.org/en/library/info/ACT50/010/2007

[2] Arguments against capital punishment: Execution of the innocent http://www.bbc.co.uk/ethics/capitalpunishment/against_1.shtml#h3

[3] Arguments against capital punishment: Failure to deter

http://www.bbc.co.uk/ethics/capitalpunishment/against_1.shtml#h5

[4] Arguments against capital punishment: Brutalising society

http://www.bbc.co.uk/ethics/capitalpunishment/against_1.shtml#h6

[5] Arguments against capital punishment: Expense

http://www.bbc.co.uk/ethics/capitalpunishment/against_1.shtml#h7

[6] Arguments against capital punishment: Applied unfairly

http://www.bbc.co.uk/ethics/capitalpunishment/against_1.shtml#h9

[7] Basic reasons: pro and anti: http://www.religioustolerance.org/executb.htm

[8] Death Penalty Data: http://www.religioustolerance.org/execut3.htm

[9] India and the death penalty: http://news.bbc.co.uk/2/hi/south_asia/2586611.stm

[10] Death Penalty: Countries Abolitionist for Ordinary Crimes only: http://www.amnesty.org/en/death-penalty/countries-abolitionist-for-ordinary-crimes-only

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 2: Các lý lẽ ủng hộ và chống”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả