talawas blog

Chuyên mục:

William Broyles Jr. – Tại sao người ta lại thích chiến tranh (kỳ 1)

24/07/2010 | 12:00 chiều | 3 Comments

Tác giả: Nguyên Trường

Category: Chiến tranh Việt Nam, Thế giới
Thẻ: >

Nguyên Trường dịch

Lần cuối cùng tôi nhìn thấy Hiers là trên một cách đồng lúa ở Việt Nam. Lúc đó anh mới có 19 tuổi và là một chuyên viên điện đài rất khéo léo nhưng ngang bướng đến phát tức lên được. Suốt mấy tháng ròng, chúng tôi ít khi xa nhau đến nửa bước. Thế rồi một hôm anh đi về nhà và phải mười lăm năm sau, tại buổi gặp mặt các cựu chiến binh được tổ chức hồi mùa đông vừa rồi ở Washington, chúng tôi mới vô tình gặp lại nhau. Vài tháng sau tôi có đến thăm gia đình anh ở Vermont. Anh và vợ, cô Susan, có một nhà nghỉ qua đêm ở đấy. Buổi sáng đầu tiên chúng tôi dậy từ lúc rạng đông vì phải đỡ đẻ cho một con thỏ mẹ, nó sinh được năm chú thỏ con. Hiers làm một cái ổ bằng lông thỏ và rơm và treo bên trên một bóng đèn để chống rét cho chúng.

“Người ta không hiểu”, Hiers vừa nhặt mấy chú thỏ con và đặt vào ổ vừa nói, “rằng chiến tranh ở Việt Nam có bao nhiêu là chuyện lí thú. Tôi thích. Tôi thích chiến tranh, nhưng tôi không thể nói chuyện đó với ai”.

Hiers thích chiến tranh. Còn trên đường trở về từ Vermon, lái xe giữa cơn bão tuyết, trong khi các con tôi đang ngủ trên ghế sau, tôi tự nhủ rằng trong những năm đó tôi cũng thích chiến tranh, thích hơn là tôi vẫn tưởng. Tôi căm thù chiến tranh nữa. Dù bạn hỏi tôi hay hỏi bất kì người nào từng ra trận về trải nghiệm của anh ta thì có nhiều khả năng là chúng tôi cũng sẽ nói rằng chúng tôi không muốn nói đến nó – hàm ý rằng chúng tôi rất căm thù nó, chiến tranh thật là kinh khủng, chúng tôi chỉ muốn chôn chặt trong lòng. Đàn ông căm thù chiến tranh, chuyện đó không có gì lạ. Chiến tranh là xấu xa, kinh khủng, độc ác và đấy là lí do để người ta căm thù chiến tranh. Nhưng tôi tin rằng đa số những người đã từng ra trận sẽ công nhận, đấy là nói những người trung thực, rằng ở đâu đó trong tâm hồn, họ cũng thích chiến tranh, thích như thích bất cứ thứ gì đã từng xảy ra với họ trước và cả sau đó nữa. Làm sao bạn có thể giải thích chuyện đó cho vợ bạn, con bạn, cha mẹ hay bạn bè của bạn?

Đấy là lí do vì sao những cụ già sáu bảy mươi tuổi đang ngồi trong các phòng trà hay phòng tập thể dục trên khắp nước Mĩ vẫn đang nói rằng trong đời họ không gì có thể so sánh được với những ngày họ nhảy dù xuống St. Lo hay tấn công các hầm ngầm ở Okinawa. Đấy là lí do vì sao những buổi gặp mặt của các hội cựu chiến binh bao giờ đầy vẻ lúng túng, buồn và tràn đầy nước mắt: họ đã đoàn tụ, đây là những người đã từng là anh em với nhau, nhưng bây giờ đã không còn là những người cũ nữa, không bao giờ như thế nữa. Đấy là lí do vì sao sau khi trở về từ Việt Nam chúng tôi trở thành những những người chán nản, bơ phờ, chẳng còn quan tâm đến vấn đề gì hay đến ai nữa. Một cái gì đó đã vĩnh viễn ra khỏi cuộc đời chúng tôi và không thể nào giải thích được cách hành xử của chúng tôi, đấy là cách cư xử của những người đã để mất, có thể là, một mối tình vĩ đại nhất trong cuộc đời họ, nhưng họ lại không thể nói với ai chuyện này.

Một phần là vì chúng tôi không thể mô tả được cảm xúc của mình: những tính từ, danh từ, động từ và trạng từ của ngôn ngữ đời thường dường như được tạo ra cho một thế giới khác vậy. Không có phép ẩn dụ nào có thể liên kết chiến tranh với cuộc sống đời thường. Nhưng tôi ngờ rằng chúng tôi trở thành những kẻ câm nín còn vì xấu hổ nữa. Mọi thứ trong nền giáo dục của chúng ta đều không thừa nhận khả năng yêu thích chiến tranh. Đấy chỉ có thể được coi là cái ác không thể tránh được, một nhiệm vụ đối với tổ quốc mà ta phải thực hiện, rồi quên đi. Thích chiến tranh nghĩa là chế giễu ngay những giá trị mà chúng ta chiến đấu. Thật là nhẫn tâm, phản động và tàn bạo.

Nhưng ỉm những lí do làm cho người ta thích chiến tranh, thay vì chấp nhận chúng, có thể là tai hoạ đối với cả các cá nhân lẫn các dân tộc. Trong bộ phim Apocalypse Now Robert Duvall, đóng vai đóng vai lữ đoàn trưởng, trong khi đang quan sát một trận đánh đặc biệt kinh khủng đã buồn bã nói: “Anh biết đấy, một ngày nào đó cuộc chiến này rồi sẽ chấm dứt”. Anh ta rõ ràng là một kẻ tâm thần, một kẻ mang quân bài rải lên xác quân thù và chơi nhạc Wagner trước khi ra trận. Chúng ta đã chế nhạo, Này! Làm gì có ai thích chiến tranh! Thế mà năm ngoái, những chàng thanh niên Mĩ lao vào trận đánh mà vẫn chơi nhạc của Wagner, thế hệ mới bắt chước phim về chiến tranh Việt Nam hệt như chúng tôi bắt chước phim về Chiến tranh thế giới thứ hai vậy, chẳng học được gì. chẳng nhớ chuyện gì.

Alfred Kazin viết rằng chiến tranh là điều kiện mà con người phải chịu đựng trong thế kỉ XX. Nhưng ông chỉ đúng một phần. Chiến tranh là điều kiện, là một giai đoạn, mà con người phải chịu đựng con người. Người ta đánh nhau vì bất cứ chuyện gì, từ cô Helen thành Troy cho đến cái tai của Jenkins (ý nói cuộc chiến tranh giữa Anh và Tây Ban Nha từ năm 1739 đến năm 1748 – ND). Hai triệu người Pháp và Anh đã chết trong những chiến hào bẩn thỉu trong Chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ vì phát súng của một cậu sinh viên bắn vào một vị hoàng tử. Sự thật là, lí do chẳng có ý nghĩa gì. Bao giờ cũng có lí do để người ta đánh nhau và người ta có thể đánh nhau vì bất kì lí do gì.

Hàng thế kỉ người ta đã hi vọng rằng sẽ có tiến bộ, và khi đã tiến bộ thì sẽ có hoà bình. Nhưng tiến bộ chỉ cung cấp cho người ta những phương tiện đánh nhau còn khủng khiếp hơn, không có cuộc chiến tranh nào trong thời quá khứ dã man có thể so sánh được về mức độ tàn bạo với những cuộc chiến tranh trong thế kỉ này, so sánh được với những cuộc chiến tranh diễn ra trên đất châu Âu văn minh và ngăn nắp, nơi ai cũng biết đọc biết viết và nhạc cổ điển được chơi trong mọi quán café trong những vùng vùng thôn dã. Chiến tranh hoàn toàn không phải là sự lầm lẫn, nó là một phần của chủng tộc, là một người loạn trí trong gia đình mà chúng ta muốn nhốt dưới tầng hầm, nhưng không được.

Xin lấy tôi làm thí dụ. Tôi không phải là người hung bạo. Ngay từ những năm cấp I tôi cũng không đánh nhau. Không những là một người vô tư lự, tôi không thích cảnh máu chảy, không giết hại các con vật, cá, thậm chí cả côn trùng. Tôi hài lòng với cuộc sống, với công việc hàng ngày của mình. Tôi đang là cha của mấy đứa con, một người đang giúp tạo dựng cuộc sống và dĩ nhiên là kẻ thù tự nhiên của chiến tranh. Tôi đã nhìn thấy những tai hoạ mà chiến tranh gây ra với con trẻ, chiến tranh biến chúng thành những kẻ giết người hay là những người bị giết, cướp đoạt cha mẹ, nhà cửa và cuộc sống ngây thơ của chúng, để lại những vết thương cả trên thân thể lẫn trong tâm hồn chúng.

Trong phần lớn thời gian tham chiến ở Việt Nam tôi đã đi qua những khu rừng rậm và đồng lúa mà không hề hấn gì, nhưng tôi đã nhìn thấy quá nhiều cảnh tượng của chiến tranh cho nên tôi chẳng bao giờ muốn đánh nhau nữa và sẽ làm hết sức mình để các con tôi không phải ra trận. Thế thì tại sao trong những giờ phút rỗi rãi nhất – khi tôi đang ngồi giữa một buổi hội họp, khi tôi đang đi mua vài thứ lặt vặt hay giữ một chiều hè, khi chiều đã tà và các con đang chơi quanh tôi – tâm tưởng của tôi lại quay về với cuộc chiến tranh diễn ra cách đây 15 năm, một cuộc chiến tranh mà tôi không tin và cũng chẳng muốn chiến đấu? Tại sao tôi lại cảm thấy nhớ?

Tôi nhớ vì tôi yêu, yêu một cách lạ lẫm và bất an. Khi tôi nói về tình yêu chiến tranh, tôi không có ý nhắc đến quan niệm lãng mạn về chiến tranh mà các thế hệ bị thôi miên trước kia đã dạy cho Walter Scott. Chẳng còn lại gì nhiều trên bùn đất ở Verdun và Passchendaele: danh dự và vinh quang không thể chống lại được súng đại bác. Cũng không phải là sự an lạc của tinh thần tử đạo đã đưa các chàng trai Iran chỉ được trang bị gậy gộc lên đường chống lại xe tăng của Iraq. Tôi cũng không có ý nói đến sự cuồng loạn có thể bóp nghẹt cả một đất nước, như kiểu báo chí Anh đã kích động sự thèm khát ẩn chứa dưới vẻ ngoài lạnh lùng của người Anh trong cuộc chiến tranh ở Falklands. Đấy là cuộc chiến tranh của người khác, là thú vui được tham gia mà không có bất kì mạo hiểm nào, là sự khát máu của đám đông. Sự thèm khát đó có thể dễ dàng được kích động, ngay cả cuộc xâm lăng hòn đảo Grenada bé tí cũng có thể làm được như thế. Giống như mọi sự thèm khát khác; khi còn hiện hữu, nó có thể chế ngự mọi thứ khác; mọi vấn đề khác của đất nước đều bị bỏ qua, đấy là hiện tượng mà từ khi có nền văn minh các vua chúa, những nhà độc tài, những vị tổng thống thường lợi dụng.

Tôi không nói về chiến tranh như một sự nghiện ngập, một sự cuống quít mà những kẻ nghiện chiến tranh thường mắc; không nói về những tên lính điên rồ, những kẻ gửi về quê cho bạn gái những cái tai kẻ thù mà chúng vừa cắt được; không nói về những phi công liệt dương, không thể cương được nếu ngày hôm đó chưa cắt được bình xăng phụ trên chiếc F-4 của chúng. Và cuối cùng, tôi không nói về tình cảm của những người đàn ông thế hệ chúng tôi, nhưng chưa từng ra trận và bây giờ đang cảm thấy tiếc nuối một cái gì đó đã bị họ bỏ qua, tiếc nuối trải nghiệm mang tính kinh điển của đàn ông, tôi không nói về tình cảm của những người đàn bà không con giờ đây đang lo lắng về việc đã bỏ qua một cái gì đó thuộc về bản chất của đàn bà, một cái gì đó mà họ đã không đánh giá đúng khi còn có thể cứu vãn được.

Tôi nói về việc tại sao những người đàn ông đầy lí tính, biết yêu thương lại có thể thích chiến tranh ngay cả khi họ hiểu và căm thù nó.Tương tự như bất cứ mối tình nào, tình yêu chiến tranh được hình thành trên những lí do phức tạp và nhiều khi mâu thuẫn với nhau. Một số có thể được đem ra thảo luận một cách vô tư; số khác ẩn sâu trong lòng, có thể làm ta rối trí. Trước hết, xin trình bày một số lí do căn bản.

Người ta thích chiến tranh một phần vì đấy là một trải nghiệm cực kì mãnh liệt; nó hấp dẫn là vì con người có ham muốn được chứng kiến, được nhìn thấy các sự kiện, đấy là cái mà Kinh Thánh gọi là tham đắm của con mắt, còn lính thủy đánh bộ ở Việt Nam thì gọi là làm tình bằng mắt. Chiến tranh làm cho thời gian ngừng lại, chiến tranh đẩy cảm xúc tới điểm thăng hoa đầy kinh hoàng. Đấy là mặt tối của giây phút say mê được nói tới trong Tụng ca bình hài cốt Hi Lạp: “An nghỉ đời đời trong ấm êm và lặng lẽ/Mãi mãi nhiệt tình, mãi mãi trẻ trung”/ Chiến tranh mang đến cho người ta biết bao trải nghiệm kì lạ, không thể tin được là nó lại xảy ra trong đời.

Nhiều người sợ tự do, chiến tranh giải toả được nỗi sợ đó. Giống như một người cha nghiêm khắc, chiến tranh đưa ra mệnh lệnh và kỉ luật, vừa an toàn vừa thúc đẩy người ta đứng lên chống lại chúng. Cú đi trưng dụng đồ lúc nửa đem là một thí dụ. Tôi còn nhớ một cuộc đột kích được lên kế hoạch tỉ mỉ và thực hiện một cách rất cẩn trọng nhằm chống lại kẻ thù chính của chúng tôi – đây là quân đội Mĩ chứ không phải quân Bắc Việt – để lấy những chiếc chăn mỏng, mỡ bò lau súng, tủ lạnh và máy điều hoà nhiệt độ cho văn phòng. Để tránh cảnh sát Việt Nam, chúng tôi buộc khăn trải giường vào nhau và leo xuống từ tầng thượng của một nhà thổ, và một anh bạn, anh này hiện là một quan chức cao cấp trong Bộ ngoại giao, phải quấn một tấm thảm quanh người và cứ thế trần truồng đi về doanh trại cách đó sáu dặm, trong khi chúng tôi được xe tải chở về từ trước rồi. Như vậy là chiến tranh vừa cướp đi tuổi trẻ của chúng tôi vừa tạo điều kiện cho chúng tôi chơi những trò chơi của thanh niên.

Chiến tranh làm mất đi những cảnh nhàm chán của đời thường và cung cấp cho ta sự rõ ràng minh bạch đến kì lạ. Trong chiến tranh bạn biết rõ ai là thù, ai là bạn và được trang bị để ứng xử với cả hai (Nhân tiện xin nói thêm rằng đấy là một trong những vấn đề lớn nhất của cuộc chiến Việt Nam: thật khó phân biệt bạn thù – nó rất giống với Đời Thường).

Chiến tranh là sự trốn chạy khỏi cuộc sống đời thường, để bước vào một thế giới đặc biệt, nơi những mối ràng buộc chúng ta với những trách nhiệm đời thường – ràng buộc với gia đình, cộng đồng, công việc, biến mất hoàn toàn. Trong chiến tranh, mọi thứ đều có thể. Đấy là biên giới nằm ngoài mọi sự giàn xếp, đấy là Las Vegas. Người thành công trong thời bình chưa chắc đã thành công trong thời chiến, còn kẻ không may trong thời bình có thể làm nên trên chiến địa. Ông U. S. Grant, từng bán củi trên đường phố St. Louis, sau đó bốn năm trở thành người chỉ huy quân đội Mĩ là thí dụ điển hình nhất, mặc dù tôi biết khá nhiều lính thuỷ đánh bộ Mĩ từng là những chiến binh vĩ đại nhưng lại không có khả năng thích ứng với cuộc sống đời thường.

Tôi còn nhớ Kirby, một anh chàng gày trơ xương, có hàng chữ JUST YOU AND ME LORD xăm trên vai. Kirby xin tăng thời hạn phục vụ ở Việt Nam lên gấp đôi. Từ lâu anh ta đã không còn gắn bó với bất kì tổ chức nào và sống một mình trong những khu vực đặc biệt nguy hiểm, trên người chỉ có chiếc quần dã chiến nhàu nát, với khẩu súng lục giắt ngang hông, đôi vai và những cánh tay gày nhẳng của anh ta đen chẳng khác gì cột nhà cháy.

Một lần đơn vị tuần tra của chúng tôi tìm thấy anh ta nằm trên nền một căn lều hoang, cánh tay bị thương và đang được một cô gái mặc quần áo bà ba đen chăm sóc.

Anh ta hỏi xin tôi thuốc lá và nhìn tôi xem có đáng để anh ta kể chuyện về mình hay không. “Tớ dừng lại để tìm mấy quả xoài, trời vẫn sáng, thế mà ở đó lại có ba thằng sĩ quan Bắc Việt, quân phục đàng hoàng. Họ trải tấm bản đồ lên mặt bàn đầy dầu mỡ, rồi vừa nhìn vào bản đồ vừa bước vào nhà. Họ nhìn vào tôi. Tôi nhìn vào họ. Họ rút súng 9 li ra, còn tôi thì rút khẩu colt 45.

“Thế à?”, tôi đáp. “Rồi sau thế nào?”

“Tôi để xổng bọn đó”, vừa nói anh ta vừa bặt quẹt châm thuốc lá. Ngay ngày hôm sau trên đường đi kiếm xoài anh ta đã giết chết ba người.

“Quay lại cuộc sống đời thường thế nào đây”, tôi hỏi anh ta. (Anh ta không quay lại được. Mấy tháng sau một cô bé Việt Cộng mới mười tuổi đầu đã làm anh ta nổ tung bằng một cái bẫy mìn).

Chiến tranh là một trò chơi dã man, chết chóc, nhưng là trò chơi tuyệt vời nhất. Mà con người thì thích trò chơi. Bạn có thể trở về từ cuộc chiến, bị thương tật cả về tinh thần lẫn thể xác, hoặc không quay về. Nhưng nếu bạn trở về thì toàn bộ hành trang bạn mang theo sẽ là hiểu biết về phần tâm hồn của chính bạn mà ở đa phần những người đàn ông khác, đấy vẫn là khu vực chưa được khám phá. Tôi chưa nghiên cứu một cái gì phức tạp và đầy sáng tạo như là chiến thuật tác chiến của các đơn vị nhỏ ở Việt Nam. Không có môn thể thao nào tôi từng chơi có thể gợi cho tôi nhận thức về những giới hạn cả về sức lực lẫn tinh thần của chính mình sâu sắc đến như thế.

Một đêm, sau khi tôi tới Việt Nam chưa lâu, một lần đứng gác tôi nghe thấy địch quân đang di chuyển. Tôi lập tức thấy khô hết cả cổ họng. Tôi không thể nói được, không thể thốt nên lời. Thần kinh tôi như bị xoá sạch, như thế cái nút chặn nó đã bị rút ra rồi vậy – tôi chỉ nghe thấy tiếng ù ù buồn tẻ truyền khắp cơ thể, một rung động nhẹ truyền khắp cơ thể như dòng điện đi trên dây vậy. Sau khoảng một phút tôi mới thốt nên lời, trong khi Hiers ra lệnh cho chỉ huy đơn vị, gọi pháo binh và không quân trợ giúp. Tôi sợ, tôi xấu hổ và tôi không thể đợi cho nó xảy ra một lần nữa.

(còn tiếp)

Bản tiếng Việt © 2010 Nguyên Trường

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Bình luận

3 Comments (bài “William Broyles Jr. – Tại sao người ta lại thích chiến tranh (kỳ 1)”)

  1. Đọc phần 1 này xong tôi chợt nhớ đến bộ film về tướng Patton sản xuất năm 1970. Sau khi đổ bộ lên nước Ý, George Patton đã liều lĩnh, sẵn sàng thí quân để tranh giành chiến thắng với các tướng Đồng Minh khác. Người chỉ huy trực tiếp của Patton đã nói:

    “There’s one big difference between you and me, George.I do this job because I’ve been trained to do it. You do it because… you love it”.

    Bối cảnh ở đây cho ta hiểu “It” là chiến tranh với tất cả sự kinh hoàng và chết chóc mà nó đem đến cho con người, bất kể chính nghĩa hay không.

  2. […] William Broyles Jr. – Tại sao người ta lại thích chiến tranh (kỳ 1 … giúp, kính, lòng, Nghiệm […]

  3. Tôn Văn viết:

    Chiến tranh vì đâu?

    Bài viết cuốn hút quá, mà dịch giả chuyển ngữ cũng thật là nhuyễn; Cảm ơn ông Nguyên Trường.
    Đúng ra thì mới đọc được một kỳ, cũng không nên bộp chộp quá; Có điều tựa đề („Tại sao người ta lại thích chiến tranh“) rất gợi, nên xin loi choi bàn góp. [Chắc thế nào „bạn“ cũng nhắc: „Cái gì cũng bị bắt vở vậy mà vẫn chẳng biết ngượng là gì“ – Gọi là „mất giây thần kinh ngượng !].

    *
    Năm bẩy-chín (1979) nghĩ:
    Đơn giản, đáng yêu là cuộc sống,
    Lao động, học hành, ca hát, yêu thương;
    Và cũng giản đơn khi người trai đưa tay cầm khẩu súng,
    Mắt trực nhìn mây xám phía biên cương.

    *
    Năm không-chín (2009)đọc:
    „Săn bắt và hái lượm dẫn đến kết quả là chăn nuôi và trồng trọt; tất cả đều dựa vào đất và nước. Với kiến thức thô sơ thời nguyên thuỷ, con người chưa thể thâm canh mà phải quảng canh: giữ và chiếm thêm đất! Có thể tưởng tượng công việc thâm canh của tiền nhân thời tiền sử gian nan và vô phương đến chừng nào, trong khi việc giết người và chiếm đất thì cũng giống như việc giết thú và tìm hang động vậy! Bao nhiêu đế chế trước khi tàn lụi đã để lại những công trình nguy nga mong chứng tỏ sức mạnh và chứng minh cho sự trường tồn. Tất cả đều là kết quả của hành động giết người và cướp của: chiến tranh. Victor Hugo từng cảm thán: Đi sau những đội quân chiến thắng là đội quân ăn cướp! [Những người khốn khổ] Cho nên ta không lạ những ý đồ cướp chiếm đất của những thế lực thấy và tự cho mình là hùng mạnh…“
    và:
    „Lịch sử loài người có thể thu trong hai hình thức giao tiếp: giao tranh và giao thương. Cùng với sự tiến triển của văn minh, giao thương tăng lên mà giao tranh giảm đi vì tốn kém và đau khổ. Nghĩa là chiến tranh và bành trướng gắn liền với dã man và thiếu văn hóa; nhưng hình như loài người còn chưa chán ngán trò chơi đổ máu! Chúng ta chỉ còn hy vọng vào thời gian chăng?“

    *
    Mong sớm được đọc phần kế tiếp.

    Trân trọng cám ơn.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...