talawas blog

Chuyên mục:

Kim Long – Những thầm nghĩ bên lề (2)

23/07/2010 | 5:30 sáng | 3 phản hồi

Tác giả: Kim Long

Chuyên mục: Tổng hợp
Thẻ: > > >

(Xem kì 1)

Công xưởng của công ty tôi đang làm việc nằm cách Hà Nội khoảng 30 cây số. Nhà máy nhỏ nhưng có đến cả hai trăm nhân công, kể cả văn phòng và phân xưởng sản xuất. Nhân công văn phòng tốt nghiệp đại học kinh tế, luật ở Hà Nội. Phần lớn là người ở những tỉnh chung quanh Hà Nội như Ninh Bình, Hải Dương. Nhân công cấp quản lý ở bộ phận sản xuất thường từ Đại học Bách khoa đến. Họ là người ở vùng xa như Phú Thọ, Vĩnh Phú. Thợ đi ca chỉ có đàn ông và phần lớn là người địa phương với trình độ học vấn ở cấp trung học phổ thông. Nhà máy cũng có nhân công nữ chỉ làm ca ngày để sắp sản phẩm vào thùng và họ cũng chỉ có học vấn ở cấp trung học phổ thông. Tất cả những nhân công và thợ này còn trẻ, tuổi dưới ba lăm. Như vậy họ sinh ra sau 1975 và chẳng biết gì cuộc nội chiến. Giờ làm việc ban ngày là tám giờ sáng đến năm giờ chiều với một giờ nghỉ trưa. Nhân công văn phòng làm ban ngày có xe buýt đưa đón sáng và chiều. Nhân công quản lý và thợ đi ca ở phân xưởng sản xuất phải tự túc đi làm. Bởi vậy họ ở gần nhà máy và người nào cũng có xe gắn máy. Nhân công văn phòng và quản lý ở phân xưởng sản xuất với nhân công nữ làm ca ngày đến làm việc đúng giờ, bấm phiếu giờ ở đồng hồ đặt ở phòng bảo vệ ở cổng trước. Thợ đi ca thường bấm phiếu giờ chỉ vài phút trước giờ ca của họ nên họ thường đến phân xưởng làm việc trễ chừng mười phút. Họ làm đúng theo giao kèo do phòng nhân sự đặt ra. Nhưng ở những nước công nghệ tiến triển, thợ đi ca thường phải đến tận chỗ làm việc trước giờ làm việc. Đó là sự khác biệt giữa Việt Nam và những nước công nghệ tiến triển khác như Đài Loan, Nam Hàn v.v…

Chị quản lý nhân sự cho tôi biết rằng nhà nước Việt Nam chưa chính thức quyết định mức lương tối thiểu trong toàn quốc. Tuy vậy, lương thấp nhất ở nhà máy của chúng tôi là lương của nữ công nhân làm ca ngày, một triệu tư một tháng, tương đương với 75 đô la Mỹ (1 USD = 18500 VNĐ). Cũng theo chị quản lý nhân sự, đó là số lương chỉ đủ sống tằn tiện một tháng, không còn tiền để dành. Lương tháng của thợ đi ca từ một triệu rưỡi đến một triệu tám. Sau khi họ vào làm được ba tháng thì được tăng lương lên từ hai triệu đến hai triệu tư. Lương trưởng ca thì từ hai triệu tám đến ba triệu hai. Tất cả đều tùy vào khả năng của mỗi người. Lương của nhân công văn phòng và cấp quản lý ở phân xưởng sản xuất gấp trên hai lần lương của trưởng ca. Có ông quản lý ngành điện lương hơn mười triệu. Hàng năm lương công nhân được tăng dựa vào chỉ số lạm phát và lương của những công ty có vốn ngoại quốc khác ở cùng chung tỉnh lỵ. Công ty cũng có chế độ thưởng tiền vào những dịp Tết Nguyên đán (một tháng lương), Tết Trung thu (nửa triệu), lễ khánh thành nhà máy (nửa triệu), và tiền phân ưu khi cha mẹ của nhân viên mất (một triệu). Thợ đi ca cho tôi biết rằng tiền thưởng ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý làm việc của công nhân. Họ nói rằng mỗi khi ăn uống với bạn bè họ phải khoa trương với bạn bè rằng công ty đã thưởng cho họ bao nhiêu. Nếu bạn bè họ có tiền thưởng mà họ không có thì họ bị mất mặt và không có động cơ để làm việc.

Công ty cung cấp miễn phí nước uống và cơm trưa, tối và nửa đêm cho toàn thể nhân viên trong hãng kể cả người làm ở văn phòng, quản lí ở nhà máy, thợ đi ca và nữ công nhân làm ca ngày. Giá trị mỗi phần cơm là 12000 đồng và đang dự tính tăng lên 15000 đồng trong tháng Sáu năm nay (2010) để theo với lạm phát. Tôi không biết giá cơm đó rẻ hay không bởi vì tôi không có cơ hội ăn trưa ở những công ty khác. Mỗi phần cơm có tô (bát) cơm trắng nhiều ít tùy mỗi người, đọi (bát) nước canh rau xanh, một dĩa rau (muống hay cải bắp) luộc nhỏ, một dĩa nhỏ món chính là cá kho hay thịt ba chỉ kho, và một lát dưa hấu đỏ. Ngoài ra còn có nước mắm chấm pha ớt và ớt trái. Cơm trắng chất lượng ngon, cá kho và thịt ba chỉ kho vị cũng ngon và đậm đà. Thỉnh thoảng có đậu hũ kho với thịt heo và cà pháo ngâm muối. Hồi xưa chỉ đọc văn của những văn sĩ từ ngoài Bắc vào và mơ tưởng mùi vị cà pháo. Bây giờ cắn trái cà pháo cái rộp và hột cà pháo chảy rộng trong miệng cho một cảm giác lạ lùng tưởng như đang gặp Hà Nội trong tưởng tượng của hồi còn đi học trung học đệ nhất cấp. Công nhân trong nhà máy không phàn nàn gì về nội dung bữa ăn bởi vì phòng nhân sự lo về chuyện này. Không biết có phải vì có ba chị lo vệ sinh cho phòng ăn mỗi ngày cho nên công nhân không biết giữ vệ sinh công cộng. Bàn ăn nào cũng vương vãi xương cá hay xương thịt. Nước mắm chấm thì đổ bừa bãi trên bàn. Giấy chùi đũa, lau miệng thì rải đầy thềm phòng ăn mặc dù có giỏ để đựng. Phòng nhân sự cử người đứng quan sát và nhắc nhở những ai không giữ vệ sinh phòng ăn nhưng hai bên lại gây gổ nên chứng nào tật nấy. Tình trạng mất vệ sinh này giống như những quán phở, bún, cơm bình dân ở khắp phố phường trong Hà Nội. Tôi cũng ăn trưa với công nhân nhưng thỉnh thoảng tôi không chịu nổi tình trạng nhớp nhúa của phòng ăn nên đi ăn ngoài.

Một vấn nạn thường xảy ra ở phân xưởng sản xuất là nạn ăn cắp vặt. Dụng cụ bảo dưỡng máy móc như dùi cui mở vít (screw drivers), mỏ lết (wrenches), búa, kềm, bát đạn, tổ điện, hay phần cứng của máy vi tính, dụng cụ trong phòng thí nghiệm (cân, dụng cụ dùng kim loại quí), dầu xăng, nhớt v.v… thường bị mất. Một trong các trách nhiệm của công ty bảo vệ là kiểm tra hành lý khi bất cứ ai ra khỏi cửa nhà máy. Tuy nhiên sự mất vặt vẫn không thay đổi. Thay thế công ty bảo vệ đó bằng một công ty bảo vệ khác cũng chẳng cải thiện vấn nạn cắp vặt đó. Bây giờ công ty phải lắp máy chụp hình quan sát ở phân xưởng sản xuất. Một tệ nạn khác là thợ đi ca chuyên lái xe fork-lift ở nhà kho chứa sản phẩm thường tụ họp đánh cờ bạc. Bởi vì sản phẩm chồng chất lên nhau nên nhà kho có những góc hơi tối. Có một hôm thứ Bảy chúng tôi đi kiểm soát bất thình lình nhà kho và thấy có bốn bóng người tụ họp ở một góc hơi tối. Chúng tôi hướng đến phía đó thì bốn bóng người bỏ chạy. Chúng tôi đuổi không kịp và chỉ nhặt được một số con bài còn sót lại trên thềm kho.

Một vấn nạn khác là những người quản lí mua hóa chất, phụ tùng bảo dưỡng, nguyên liệu hay bán vật liệu phế thải, sản phẩm thường lạm dụng chức vụ để kiếm tiền huê hồng. Công ty chúng tôi nhờ một công ty IT trang bị hệ thống máy vi tính và điện thoại. Kết quả là máy vi tính thường bị nhiễm virus. Điện thoại thì thường gọi đi xa không được. Vì máy vi tính và điện thoại bị tu sửa hoài, chúng tôi mới biết được rằng công ty IT đó là của chồng chị quản lý nhân sự.

Có một lần, phòng nhân sự nhờ công ty bảo vệ đi chụp hình phân xưởng sản xuất vào giờ nửa đêm. Tất cả thợ đi ca đều ngủ. Người ra nhà kho hàng ngủ giữa sản phẩm. Người trải chiếu ở phòng kỹ thuật để ngủ. Người ngồi trước DCS (hệ thống kiểm soát hiển thị) thì gật lên gật xuống. Khi người của công ty bảo vệ đánh thức họ dậy thì họ lại gây lộn bởi vì họ thấy máy ảnh. Từ đó công ty bảo vệ không chịu đi tuần trong phân xưởng sản xuất nữa. Bây giờ nhà máy chỉ trông vào máy ảnh quan sát và thay đổi nội quy để cải thiện lối làm việc của công nhân. Một thiếu sót lớn của công ty là nội quy ngay từ lúc đầu đã không cấm nhân công đi làm thêm ngoài giờ cho những công ty cạnh tranh đối lập. Một ngạc nhiên khác là sự cố tình phá hoại công ty của công nhân. Có hai thợ đi ca có nhiệm vụ quản trách vùng xử lý nước thải. Một công việc của họ là sửa soạn những bể polymer âm tính (anionic polymer) và dương tính (cationic polymer). Có lần họ đổ polymer dương tính vào bể đựng polymer âm tính. Chúng tôi trông thấy và hỏi họ có đọc được những tiếng Việt hóa đó không thì họ nói rằng họ đọc được và hiểu được. Lần khác máy sản xuất bị ngừng chạy đột xuất. Quản lý máy cho rằng đó là vì hệ thống DCS bị hư. Nhà máy gọi điện thoại đến công ty cung cấp DCS ở nước ngoài để có số điện thoại cá nhân của đại diện công ty đó ở Hà Nội bởi hôm đó là thứ Bảy, ngày nghỉ việc hàng tuần. Người đại diện công ty cung cấp DCS đến khám xét và không thấy hư hoại gì cả. Sau đó quản lý máy và ca trưởng đi xem xét máy móc và khám phá ra rằng một cái bơm đã bị phá hư đột xuất. Điều tra kỹ hơn thì biết rằng một nhân công đi ca vì không muốn làm việc sáng hôm đó nên đã phá hỏng cái bơm.

Nhân công quản lý nhà máy hay mời chúng tôi đi ăn nhậu. Để tìm hiểu, chúng tôi đi theo họ hai ba lần và sau đó thì kiếm cách từ chối. Lần đầu họ đưa chúng tôi đến một nhà hàng khá cao ráo sáng sủa chuyên bán đồ ăn biển. Tôm, hến thì ăn được nhưng cá chình thì quá béo ăn không vào. Cua, mực không biết đi đâu mất nên ở Hà Nội rất hiếm hai món này và giá cả rất đắt. Những lần sau đó họ dẫn chúng tôi đến những quán bình dân để ăn rắn, rùa bùn (mud turtle), cá sấu mang từ miền Nam ra. Có những lần họ năn nỉ chúng tôi đi ăn thịt chó nhưng chúng tôi từ chối tuyệt đối. Trên đường về lại khách sạn ở Hà Nội mỗi chiều chúng tôi thường trông thấy những xe gắn máy chở những giỏ tre chứa chó con, đôi khi có cả mèo, đến những quán ăn chung quanh Gia Lâm trên quốc lộ số 5 với những tấm bảng ghi đây có thịt chó, mèo. Từ bến đò cho đến gần cổng để trèo lên chùa Hương cũng có rất nhiều quán ăn treo lũng lẳng những con khuyễn trần trụi màu đen đỏ. Tôi bâng khuâng không biết tại sao miền Bắc chịu ảnh hưởng Tàu quá mạnh như vậy. Ngay đến cách ăn chó, mèo, cá sấu cũng phải giống như dân Quảng Đông. Không những vậy, giấy thiệp cưới, đèn lồng giấy ở Hàng Gà, Hàng Mã đều mang bản chất Tàu. Giấy thiệp cưới ở miền Nam và đèn lồng giấy ở Hội An có nhiều tính chất địa phương (Việt hóa) hơn so với Hà Nội.

Thỉnh thoảng những cô, chị với chức vụ quản lý vì làm việc về trễ nên đi chung xe buýt dành cho bọn chúng tôi. Trên xe mấy đứa ngoại quốc trẻ hay nói chuyện với mấy chị. Có đứa hỏi chị quản lý phòng kỹ thuật rằng gái Việt có ngoại tình không thì chị trả lời rằng ở Hà Nội có cụm từ tiếng Anh rất thông dụng. Đó là chữ MBA. Nhưng không phải là Master of Business Administration (thạc sĩ quản trị kinh doanh). Mà là Married But Available (có gia đình rồi nhưng sẵn sàng đáp ứng). Phải ghi chú thêm là chị đó tốt nghiệp Đại học Bách khoa, có chồng học cùng trường và có hai con. Tôi nghe chị trả lời mà đầu óc choáng váng. Phần lớn những tên ngoại quốc ở công ty chúng tôi để vợ ở lại nhà và đi qua Hà Nội một mình. Một vài người vợ của họ qua thăm Hà Nội, thấy Hà Nội xô bồ, hỗn độn, nhớp nhúa nên phát biểu rằng không biết trên thế giới hết chỗ hay sao mà phải qua sống ở Hà Nội. Hỡi ông thị trưởng Hà Nội, ông nghĩ sao về lời phê bình này? Chồng của mấy bà này hay đi săn gái trẻ Việt cuối tuần ở những quán karaoke, quán ăn, quán đấm bóp. Cảnh tượng dân da trắng đi ăn cơm tối với gái trẻ Việt Nam cũng nhan nhản ở những nhà hàng sang trọng như Club de l’Oriental, Press Club. Không khác gì cảnh tượng lính GI dẫn gái Việt đi đầy đường Tự do (Đồng khởi) ở Sài Gòn vào những đêm thứ Bảy, Chủ nhật hồi còn chiến tranh. Tôi không thấy có sự khác biệt nào giữa chế độ “ngụy” Hà Nội bây giờ và chế độ “chân” Sài Gòn cũ về phương diện luân lý. Nói cho cùng, sự phồn thịnh của Hà Nội bây giờ cũng như của Sài Gòn hồi trước chỉ là giả tạo.

Như những công ty nội hóa hay ngoại quốc ở Việt Nam, công ty của chúng tôi chỉ có công ty quốc doanh Điện lực Việt Nam (EVN) để mua điện. Chi nhánh công ty EVN lắp đường dây cao thế áp và gắn một công tơ điện cho công ty chúng tôi. Lúc ban đầu họ gắn cho chúng tôi một công suất TI có tỷ số biến 400/1A. Sau đó chừng một tháng họ thay đổi đường dây cao thế áp và hạ tỷ số biến của công suất TI xuống 200/1A. Nhưng trên hóa đơn tính tiền điện họ không thay đổi tỷ số biến và vẫn giữ số 400/1A. Nghĩa là họ tính tiền điện gấp đôi tiền thực tế tiêu dùng cho đến khi chúng tôi khám phá ra điều này sáu tháng sau. Chúng tôi khiếu nại và dọa rằng chúng tôi sẽ báo cáo với công an tỉnh. Đến đó họ mới chịu đồng ý với sự khiếu nại của chúng tôi và đền bù lại số tiền họ lấy dư. Đây là một kinh nghiệm cay đắng của chúng tôi. Thêm vào đó, ông giám đốc chi nhánh công ty EVN khuyên công ty chúng tôi chọn công ty dịch vụ điện do ông ta đề nghị để lắp đặt hệ thống dây điện công ty. Sau đó chúng tôi biết rằng ông chủ công ty dịch vụ điện đó là ông anh ruột của bà vợ ông giám đốc chi nhánh công ty EVN nói trên.

Mỗi một công ty sản xuất ở Việt Nam cần có một giấy phép môi trường trước khi được hoạt động sản xuất. Trong trường hợp của công ty chúng tôi, sau khi chúng tôi viết kiến nghị yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh cấp cho giấy phép thì người của Sở đến thăm quan một tháng trước ngày chúng tôi dự định sản xuất. Cầm đầu phái đoàn của Sở là ông CVH, chánh thanh tra. Sau khi xem xét hệ thống xử lý nước thải của công ty, ông chánh thanh tra này đi thẳng vào vấn đề nêu giá của giấy phép là 120 triệu đồng (chừng 6500 USD). Chúng tôi hỏi ông ta tại sao đắt như vậy thì ông cho chúng tôi biết rằng số tiền đó gồm cho cả ông giám đốc, ông phó giám đốc ở Sở và cho ông tài xế luôn. Chúng tôi đề nghị ông chánh đó giảm số tiền và ông ta đồng ý với giá 90 triệu đồng. Sau khi nhận được giấy phép hoạt động sản xuất tạm thời từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, chúng tôi đến Sở để cám ơn sự hỗ trợ của Sở. Chúng tôi chỉ được gặp ông phó giám đốc LNP và ông này tuyên bố rằng mọi giấy tờ liên quan đến môi trường của công ty chúng tôi là do ông ta định đoạt. Chúng tôi muốn gặp ông giám đốc nhưng không được vì ông ta bận rộn, thường không có ở Sở. Chúng tôi mang đến 3 triệu đồng để “trả ơn” cho ông giám đốc, ông phó giám đốc và ông chánh thanh tra. Đến Tết ta, chúng tôi lại mang 10 triệu đồng để mừng Tết ba ông đó và mấy tay chân của ba ông. Đây là tục lệ đối với Bộ và tất cả các Sở Tài nguyên và Môi trường trên toàn thể Việt Nam. Công ty chúng tôi lặp lại chuyện mừng Tết này với Phòng Quan thuế Hải quan tỉnh nữa. Nếu không thì máy móc, dụng cụ, phụ tùng, vật liệu sẽ không được vào Việt Nam một cách yên ổn.

Sau khi cấp giấy phép hoạt động tạm thời, ông phó giám đốc LNP báo cho chúng tôi biết rằng chúng tôi còn phải nộp thêm giấy kết quả quan trắc môi trường, đất và không khí, giấy phép xả nước thải vào nguồn nước của tỉnh, giấy phép đăng ký sở hữu những chất nguy hại, lắp đặt những máy móc điện tử đo tự động chất lượng nước thải như nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh học (BOD), chất rắn lơ lửng (SS) v.v… Bởi vì công ty chúng tôi không có người biết rõ hay làm được tất cả những thủ tục giấy tờ này, ông phó giám đốc LNP giới thiệu cho chúng tôi những công ty tư vấn chuyên môn cho các vấn đề này. Dĩ nhiên những công ty tư vấn này đều có liên hệ với ông ta. Nếu không phải là công ty tư vấn của con trai ông ta thì cũng là của bà con thân thuộc, bạn bè của ông ta hay là của ông giám đốc Sở. Chưa đủ thỏa mãn, ông LNP còn buộc công ty chúng tôi nhận một người cháu của ông vào làm việc. Chúng tôi không từ chối được vì giấy tờ còn đang ở trong tay ông ta. Vả lại giấy tờ liên quan đến môi trường phải do ông LNP tái hạng nên luôn luôn công ty chúng tôi phải đem tiền bạc đến quà cáp Sở của ông LNP. Có cái may mắn là cảnh sát môi trường chưa lần nào quấy nhiễu chúng tôi. So với công ty Tân Mai, công ty chúng tôi còn hiền hòa. Công ty này không những “mua” Sở Tài nguyên và Môi trường mà còn “mua” cả chi nhánh điện lực EVN, Sở Công an của tỉnh Biên Hòa, cả công an ở Quảng Ngãi và Kontum, hai nơi mà Tân Mai đang xây dựng những phân xưởng sản xuất mới.

So với những nước chung quanh Việt Nam, tiêu chuẩn môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi  trường chưa đủ nghiêm khắc. Chẳng hạn như nông dân còn đang dùng nước sông Bần để tưới ruộng tưới cây nhưng nước thải công nghiệp đổ ra sông này có những tiêu chuẩn COD, BOD còn cao. Thêm vào đó những hỗn hợp hóa chất chứa nguyên tử chlorine như chloroform là một hóa chất gây bệnh ung thư vẫn không được đưa vào danh sách cần phải kiểm soát trong chất lượng nước thải. Có lẽ những ông ở Bộ, ở Sở Tài nguyên và Môi trường phải học hỏi thêm ở những quốc gia tân tiến về chính sách bảo vệ môi trường.

Để tiết kiệm tiền, tôi nhờ người trong công ty tìm cho phòng ở trọ. Với khoảng năm trăm đô-la Mỹ một tháng, Hà Nội có những căn phòng thiết bị đầy đủ cả TV, máy điều hòa, bếp, giường ngủ, bàn làm việc, phòng tắm có nước nóng, máy giặt, người làm vệ sinh phòng hàng ngày và người gác dan ở cổng nhà. Trong căn nhà tôi định thuê phòng có đủ mọi dân tộc tôi biết như Singapore, Nhật, Mỹ, Úc, Nam Hàn. Họ chỉ cần đưa hộ chiếu cho ông chủ nhà là xong giấy tờ. Nhưng trong trường hợp tôi mà chính quyền Hà Nội gọi là Việt kiều, tôi phải đi trình diện công an phường. Như vậy chính quyền Hà Nội chỉ tin người ngoại quốc mà không tin Việt kiều, nhất là những Việt kiều mang hộ chiếu Mỹ. Để tránh mọi phiền nhiễu này, tôi thuê khách sạn dài hạn. Dĩ nhiên khách sạn phải báo cáo cho cục công an hàng ngày, bằng máy vi tính hay bằng giấy báo cáo, danh sách khách ngoại quốc tạm trú.

Bởi vì hàng ngày đi làm việc, về tối, nên chuyện đi ăn tối cũng là một vấn đề cho tôi. Những quán ăn bún, xôi, phở, bình dân v.v… mặc dầu rẻ nhưng không có vệ sinh. Những quán ăn như Club de l’Oriental (đường Tông Đản), Press Club (đường Lý Thái Tổ) không phải là những quán đi ăn hàng ngày. Chỉ có những quán ăn như Paris Deli (đường Nhà Thờ), quán Cơm Phố (đường Lê Văn Hưu), Blue Butterfly (đường Hàng Buồm), quán Ăn Ngon (đường Lý Thường Kiệt) là hợp với chuyện đi ăn hàng ngày. Thế nhưng những quán ăn Hà Nội hình như không thích có khách quen mặt đến ăn thường xuyên. Một hai lần đầu họ sẽ chào hỏi khách vui vẻ nhưng qua những lần sau thì thái độ của họ trở thành lạnh nhạt và không muốn tiếp. Những dân ngoại quốc sống làm việc lâu ở Hà Nội xác nhận điều này cho tôi. Không biết chính sách công an hóa xã hội của chính quyền Hà Nội có là nguyên nhân hay không.

Từ đêm thứ Sáu đến đêm Chủ nhật mỗi tuần, phố Hàng Đào, Hàng Ngang có chợ đêm. Trai gái, da đen, da trắng, da vàng đi chợ đêm nườm nượp. Hàng quán bày ra giữa đường bán đủ mọi thứ. Áo quần người lớn, con nít. Đồ nữ trang làm bằng nhôm nhựa. Xách bóp da giả, quần bò made in China. Thỉnh thoảng có văn nghệ công cộng vào những đêm thứ Bảy ở Công trường Chiến sĩ nho nhỏ ở góc Đinh Tiên Hoàng, Cầu Gỗ, Hàng Dầu. Trên tivi thì chỉ có tin tức công cán của mấy ông trong Bộ Chính trị, Thủ tướng hoặc những chương trình ca ngợi thành tích trồng cây trồng lúa do Đảng chỉ lối đưa đường. Không có tin nào về bô-xít, Trường Sa, Hoàng Sa. Phải ra khỏi Việt Nam mới đọc được những tin đó. Những website như talawas, Diễn Đàn, Tạp chí Da Màu, Người Việt Online, Thông Luận v.v… đều bị ngăn chặn. Chính sách của chính quyền Hà Nội và Đảng Cộng sản Việt là mị dân, bịt mắt bịt tai dân chúng, không muốn ai trong nước thấy sai lầm của họ. Thuốc mê của họ là những chương trình giải trí rẻ tiền vô tội vạ công cộng hay trên TV và tránh những tin tức có hại cho quyền lợi của họ. Ngay cả sách bán ở những nhà sách quanh Tràng Tiền, Ngô Quyền, Đinh Lễ đều là chủng loại vô thưởng vô phạt như cách làm giàu, hồi ký của Clinton, Bill Gates, sách học ngoại ngữ, truyện tình, truyện ma quái dịch từ ngoại quốc, v.v… Có một ít tác phẩm của Tự lực Văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam), Dương Nghiễm Mậu được tái bản lại. Sách của Nam Dao, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng cũng được in lại rất nhiều. Nhưng tác phẩm của Nhân văn Giai phẩm thì không thấy trên quầy sách ở đâu cả.

Bây giờ công ty chúng tôi đã đủ giấy tờ để đi vào hoạt động sản xuất. Công nhân nhà máy đã lập liên đoàn lao động theo đúng Luật Lao động Việt Nam. Và công ty đang lỗ hàng tháng. Hy vọng rằng không có đình công bãi thị để công ty không rút ra khỏi Việt Nam.

Tháng 6 năm 2010

© 2010 Kim Long

© 2010 talawas

Phản hồi

3 phản hồi (bài “Kim Long – Những thầm nghĩ bên lề (2)”)

  1. phu tho says:

    Tôi xin góp ý với tác giả đôi chút. Trong bài có nhắc đến DCS thì có thể là “hệ điều khiển phân tán” và TI thì gọi là biến dòng điện.

  2. Trần Văn Tích says:

    Tuy không phải là doanh nhân và không về Việt Nam từ hơn hai chục năm nay nhưng tôi cũng biết rõ ràng rằng muốn kinh doanh, sản xuất v.v… ở Việt Nam thì phải biết lo lót chạy chọt, phải rán chịu nạn giấy tờ v.v…, nói chung là phải cố gắng thích nghi với “cơ chế”. Nhưng bài viết của ông Kim Long cũng rất hấp dẫn đối với tôi vì cung cấp những dữ kiện cụ thể, từ giá cả bữa ăn cho công nhân đến tiền thuê mướn phòng khách sạn dài ngày v.v…

    Tuy nhiên, nếu được thoả mãn qua các thông tin cụ thể thì tôi lại không tự tìm được câu trả lời khái quát cho câu hỏi do các bà vợ da trắng qua thăm Hà Nội nêu ra: không biết trên thế giới hết chỗ hay sao mà phải qua sống ở Hà Nội. Nhất là khi đã chấp nhận “sống” như thế mà vẫn còn có cơ may sập tiệm nay mai.

    Vốn, như đã nói, rất kém hiểu biết về kinh tế kinh doanh nên tôi tự cho phép đi đến kết luận như sau: không đủ sức ăn thua tại những nơi không phải là Hà Nội nên đành nhào vô Hà Nội để chơi trò xổ số với may rủi?

    Tôi chỉ đoán mò như thế chứ không hề có ý xỏ xiên ai cả, mong bà con cô bác hiểu cho.

  3. Phùng Tường Vân says:

    “..Phần lớn những tên ngoại quốc làm việc tại công ty của chúng tôi để vợ ở lại tại nhà và đi qua Hà nội một mình, một vài người vợ của họ sang thăm thấy Hà Nội xô bồ, nhớp nhúa, bẩn thỉu kinh hồn quá nên thường phát biểu rằng phải chăng trên thế giới này hết chỗ sống và làm việc rồi hay sao mà phải qua sống ở nơi này. Hỡi ông Thị Trưởng Hà Nội ông nghĩ sao về lời phê bình này ?” (Kim Long)

    Nghe đâu ông Thị Trưởng Hà Nội cùng bầy đàn cộng tác của ông lúc này chưa được “hưỡn” lắm vì còn đang lo chuẩn bị đón “1000 năm Thăng Long”, xin xem đây thì biết:
    http://freelecongdinh.files.wordpress.com/2010/07/chaomunghanoi1000.jpg?w=455&h=341

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả