talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 3: Tác dụng ngăn cản? (phần 1)

29/07/2010 | 12:00 chiều | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Nguyễn Trang Nhung

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội
Thẻ:

Xem kỳ 1 & kỳ 2

Tất cả các hình phạt được áp dụng đối với tội phạm đều nhằm mục đích răn đe. Hình phạt tử hình cũng vậy. Là hình phạt nặng nhất, tử hình được cho là có tác dụng răn đe cao nhất, và do đó ngăn cản hiệu quả nhất những người có khả năng phạm tội trong tương lai. Nếu điều này là đúng, thì việc nhiều nước bỏ án tử hình bởi nhiều lý do, trong đó có lý do nhân đạo, có thể là một sai lầm.

Tỷ lệ tội phạm nói chung và tỷ lệ tội phạm chịu hình phạt tử hình nói riêng hẳn nhiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như tính hiệu quả của luật pháp, tính sẵn có của vũ khí, tình trạng thất nghiệp, đạo đức xã hội, v.v… Trong số các tội phạm chịu hình phạt tử hình, tội giết người là tội phạm tiêu biểu. Tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình chủ yếu được xem xét trong mối liên hệ với tội phạm này.

Theo các quan sát tại các nước đã bỏ hình phạt tử hình, tỷ lệ tội phạm giết người nói chung có xu hướng giảm. Một ví dụ điển hình về các nước như vậy là Canada. Kể từ sau khi Canada bỏ hình phạt tử hình trong Luật Hình sự vào năm 1976, tỷ lệ tội phạm giết người đã giảm từ 3,0 vào giữa thập kỷ 70 xuống 1,85 vào năm 2006, trên 100.000 người dân.[1]

Trên thực tế, tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình, như kỳ 2 đã đề cập, là không thể chứng minh, hay nói cách khác, không có kết luận thống nhất qua các nghiên cứu được tiến hành từ trước tới nay cho thấy hình phạt tử hình có tác dụng ngăn cản.

Trong kỳ 3 này, người viết cố gắng trình bày một cách bao quát đến mức có thể những vấn đề xoay quanh tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình qua việc đưa ra cả hai chiều lý lẽ về tác dụng ngăn cản và xem xét nước Mỹ như một trường hợp nghiên cứu.

I. Các lý lẽ về tác dụng ngăn cản

1. Lý lẽ thuận

Theo lẽ thường, hầu như ai cũng sợ chết, và khi có nguy cơ đối diện với cái chết, người ta sẽ tìm mọi cách để sống sót. Do nhiều người sợ chết nhất, nên hình phạt tử hình có tác dụng ngăn cản lớn nhất. Các phạm nhân tiềm năng trước khi hành động sẽ phải suy nghĩ nhiều hơn nếu biết mình có thể bị kết án tử hình. Hình phạt tử hình bởi thế có tác dụng ngăn cản cao hơn tất cả các hình phạt khác.

Đa phần các phạm nhân nói chung là những người có lý trí, nên thường cân nhắc về hậu quả trước khi hành động, dù nhiều hay ít, đặc biệt là các phạm nhân đã lên kế hoạch cho hành động của mình – trong trường hợp đó, các phạm nhân thực hiện hành vi tội phạm trong tình trạng tinh thần bình thường và không bị xung động.

Các phạm nhân sau khi phạm tội luôn cố gắng che giấu những manh mối tội phạm do mình gây ra để lẩn tránh luật pháp cũng như lẩn tránh hình phạt. Hình phạt càng nặng thì phạm nhân sẽ càng nỗ lực lẩn tránh. Khi đối diện với tình huống bị phát hiện và kiềm giữ, chẳng hạn, bởi cảnh sát mang súng trong tay, phạm nhân sẽ không tiếp tục liều lĩnh do sợ bị bắn. Đây là ví dụ cho thấy rõ hơn về tâm lý sợ chết của những người phạm tội.

Ở mọi mức của quá trình xét xử, hầu như tất cả các phạm nhân đều cố gắng làm nhẹ hình phạt đến mức có thể. Một ví dụ là ở Mỹ, trong số 7300 phạm nhân bị kết án tử hình kể từ năm 1973, chỉ có 1,2% số phạm nhân bỏ kháng cáo và chấp nhận án tử hình, số còn lại vẫn kháng cáo để mong được giảm án[2]. Điều này cho thấy người ta sợ hình phạt tử hình hơn các hình phạt khác.

Có một song đề được đặt ra trong trường hợp không chắc chắn về tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình, đó là: Nếu hình phạt tử hình có tác dụng ngăn cản, thì việc không thi hành hình phạt tử hình sẽ làm tăng tỷ lệ tội phạm chịu án tử hình đồng thời dẫn đến nguy cơ những kẻ phạm tội tái phạm về sau. Nếu hình phạt tử hình không có tác dụng ngăn cản, thì việc thi hành hình phạt tử hình sẽ loại bỏ được nguy cơ đó. Bởi vậy, hình phạt tử hình nên được sử dụng.

Hình phạt tử hình sẽ có tác dụng ngăn cản lớn hơn nếu được sử dụng nghiêm khắc hơn, chẳng hạn, thi hành thường xuyên hơn và giảm thời gian chờ giữa thời điểm kết án và thời điểm hành quyết. Tại Mỹ, khi thời gian chờ trung bình là khoảng 8 – 10 năm, hình phạt tử hình được xem là không hiệu quả. Việc thi hành hình phạt tử hình một cách nghiêm khắc thậm chí sẽ giúp tạo ra các hiệu quả ngoài lề cho các hình phạt khác.

2. Lý lẽ nghịch

Đối với các tội phạm bạo lực như giết người, nói chung, hành vi tội phạm được thực hiện khi phạm nhân không làm chủ được bản thân và không cân nhắc đến hậu quả (hoặc có nhưng rất ít). Hình phạt tử hình, do đó, không ngăn cản hiệu quả hơn so với hình phạt tù chung thân (hoặc hơn nhưng không đáng kể). Đối với các tội phạm phi bạo lực, việc cân nhắc về hình phạt có thể khiến một phạm nhân tiềm năng đắn đo khi hành động, song điều trước nhất mà một phạm nhân tiềm năng nghĩ tới là bị phát hiện và bị bắt giữ, hơn là bị tử hình hay không.

Mặc dù các phạm nhân chưa bị bắt giữ luôn cố gắng che giấu những manh mối tội phạm, và càng nỗ lực lẩn tránh nếu mức án có thể càng nặng, nhưng đây là tâm lý chung của các phạm nhân sau khi phạm tội. Những hành vi sau khi phạm tội là có toan tính và cân nhắc hơn nhiều so với trước khi phạm tội. Cho nên, khó có thể dựa vào hành vi sau khi phạm tội của phạm nhân để củng cố quan điểm rằng hình phạt tử hình có tác dụng ngăn cản phạm nhân trước khi phạm tội.

Cũng như vậy, mặc dù chỉ một số ít phạm nhân bị kết án tử hình muốn bị tử hình hơn bị tù chung thân, thì điều này cho thấy rằng khi đối diện với cái chết chắc chắn, trong tình trạng có lý trí và suy xét rõ ràng, hầu hết các phạm nhân đều không muốn chịu hình phạt tử hình, hơn là cho thấy tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình đối với phạm nhân trước khi hành vi phạm tội diễn ra, bởi trước khi phạm tội, phạm nhân không đối diện với cái chết chắc chắn.

Ở đây, có thể đặt ra một song đề khác với song đề trên về tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình: Nếu hình phạt tử hình có tác dụng ngăn cản, thì việc thi hành hình phạt tử hình sẽ làm giảm tỷ lệ tội phạm chịu án tử hình, nhưng ngược lại, sẽ chịu rủi ro là người vô tội có thể bị xử tử. Nếu hình phạt tử hình không có tác dụng ngăn cản, thì việc không thi hành hình phạt sẽ tránh được rủi ro này đồng thời đảm bảo được tính nhân đạo của một xã hội văn minh.

Khi hình phạt tử hình được thi hành thường xuyên hơn hoặc khi thời gian chờ giữa thời điểm kết án và thời điểm hành quyết được rút ngắn, rủi ro xử tử người vô tội sẽ cao hơn bởi những khiếm khuyết trong quá trình điều tra và xét xử. Chừng nào những khiếm khuyết như vậy chưa được khắc phục, chừng đó chưa nên nghĩ đến việc sử dụng hình phạt tử hình.

Để hạn chế tỷ lệ tội phạm, một trong những giải pháp căn bản là nâng cao khả năng phát hiện tội phạm và nâng cao nhận thức của người dân về luật pháp cùng sự nguy hại của tội phạm đối với an ninh xã hội. Điều này có tác dụng hơn là thi hành hình phạt tử hình như một biện pháp ngăn cản (nếu nó thực sự có tác dụng ngăn cản) các phạm nhân tiềm năng.

II. Trường hợp nghiên cứu Mỹ

Cả hai chiều lý lẽ trên có thể đều không thuyết phục đối với nhiều người. Đến đây, ta sẽ xem xét tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình qua trường hợp nghiên cứu là nước Mỹ. Sở dĩ người viết chọn nước Mỹ làm trường hợp nghiên cứu là vì các tư liệu về hình phạt tử hình tại nước này có thể được tìm thấy dễ dàng qua nhiều nguồn tin cậy trên Internet. Thêm vào đó, nước Mỹ có đặc thù là hình phạt tử hình được duy trì ở một số bang và được bãi bỏ ở một số bang còn lại.

1. Một vài dữ kiện lịch sử

Trong thời khoảng 1972 – 1976, hình phạt tử hình đã được tạm hoãn thi hành. Đây là quyết định của tòa án tối cao nhằm xem xét một loạt các trường hợp mà hình phạt tử hình được áp dụng một cách vi hiến, cụ thể là vi phạm tu chính án thứ 8 cấm hình phạt tàn nhẫn và bất thường[3].

Năm 1976, tòa án tối cao đã cho phép các bang tự quyết định duy trì hay bãi bỏ hình phạt tử hình. Từ đó, hình phạt tử hình đã được áp dụng trở lại tại 40 bang và Washington D. C. Năm trong số 40 bang về sau đã bỏ hình phạt là Massachusetts (1984), Rhode Island (1984), New Jeresy (2007), New York (2004) và New Mexico (2009). Washington D. C đã bỏ hình phạt vào năm 1981.[4]

Những năm sau 1976, tòa án tối cao đã quy định bỏ hình phạt tử hình đối với tội cưỡng hiếp theo quyết định Coker v. Georgia[5] (1977), đối với những người chậm phát triển trí tuệ vào theo quyết định Atkins v. Virginia[6] (2002), và đối với những người dưới 18 tuổi theo quyết định Roper v. Simmons[7] (2005).

Kể từ tháng 10 năm 1964, gần như tất cả các phạm nhân bị xử tử đều do tội giết người[8]. Ngoài tội giết người, một số tội phạm khác vẫn được áp dụng hình phạt tử hình cho đến nay như buôn bán ma túy, không tặc, gián điệp, phản quốc, v.v…[9]

2. Các nghiên cứu khảo nghiệm

Tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình đã được bắt đầu nghiên cứu từ khá sớm. Sau nghiên cứu đầu tiên vào năm 1925 của nhà xã hội học Edwin Sutherland, năm 1975, nhà kinh tế học Isaac Ehrlich đã đưa ra một nghiên cứu phân tích dữ liệu về các vụ giết người và các vụ hành quyết trong thời khoảng 1933 – 1969. Nghiên cứu kết luận mỗi vụ hành quyết làm giảm 7 hoặc 8 vụ giết người[10].

Theo John Donohue, giáo sư Luật tại trường đại học Yale, một tái phân tích cho thấy các ước lượng của Ehrlich được dẫn đến do gắn sự nhảy vọt của số vụ giết người với sự sụt giảm của số vụ hành quyết từ 1963 – 1969. Nếu cắt đi phần dữ liệu của Ehrlich trong 7 năm cuối này, kết quả không còn cho thấy tương quan giữa số vụ hành quyết và tỷ lệ tội phạm giết người[11].

Đa số các nghiên cứu về sau phần nào mang dáng dấp nghiên cứu của Ehrlich cho kết quả khẳng định tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình[12]. Trong một loạt các nghiên cứu xuất hiện gần đây (kể từ sau năm 2000), phần nhiều được thực hiện bởi các nhà kinh tế học. Sau đây là một vài nghiên cứu trong số đó:

a. Nghiên cứu Mocan-Gittings

Năm 2003, Naci Mocan, nhà kinh tế học tại trường đại học Colorado Denver, và Kaj Gittings, một sinh viên của ông, đã đưa ra một nghiên cứu[13] kiểm nghiệm 6143 án tử hình tại 50 bang từ 1977 – 1997 và xây dựng một tập dữ liệu với 1050 quan sát[14]. Kết luận của nghiên cứu là mỗi vụ hành quyết làm giảm khoảng 5 vụ giết người, đồng thời, mỗi ân giảm từ án tử hình xuống án tù chung thân hoặc án tù dài hạn làm tăng 1 vụ giết người. Theo hai nhà tội phạm học nổi tiếng Richard Berk và Jeffrey Fagan, nghiên cứu này mắc phải những khiếm khuyết nghiêm trọng.

Richard Berk, giáo sư Tội phạm học và Thống kê tại trường đại học Pennsylvania, đã lưu ý có sự chênh lệch lớn về số vụ hành quyết trong khoảng thời gian nghiên cứu, đó là hầu hết các bang chiếm một phần lớn số quan sát không có vụ hành quyết nào trong một năm cho trước, và chỉ một vài bang có một số ít vụ hành quyết trong một vài năm mà chủ yếu ở bang Texas. Richard Berk đã áp dụng thủ tục và dữ liệu được dùng cho tính toán theo phương pháp của Mocan, song trừ dữ liệu của bang Texas, kết quả không còn cho thấy tác dụng ngăn cản[15].

Jeffrey Fagan, giáo sư Luật và Dịch tễ học tại Đại học Columbia, đã xem xét các sai sót về mặt lý thuyết và phương pháp của các nghiên cứu sau năm 2000 về tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình trong đó có nghiên cứu Mocan-Gittings. Ông đã cải tiến phương pháp của Mocan theo một vài cách khác nhau, chẳng hạn, thay đổi các con số mặc định dùng trong tính toán của Mocan sao cho hợp lý hơn và áp dụng lại tính toán. Mỗi cách cải tiến đều cho kết quả là hình phạt tử hình không có tác dụng ngăn cản như kết luận của Mocan[16].

b. Các nghiên cứu Emory

Nhóm Emory, tên gọi chỉ các học giả Paul Rubin, Joanna Shepherd, và Hashem Dezhbakhsh của Đại học Emory, đã thực hiện 4 nghiên cứu gây nhiều chú ý:

2003: Nghiên cứu thứ nhất sử dụng dữ liệu tại 3054 hạt từ 1977 – 1996 kết luận rằng các án tử hình lẫn các vụ hành quyết đều dẫn đến làm giảm tỷ lệ tội phạm giết người. Các tác giả ước lượng mỗi vụ hành quyết làm giảm 18 vụ giết người[17].

2004: Nghiên cứu thứ hai sử dụng dữ liệu về các vụ giết người và các vụ hành quyết từ 1977 – 1999 kết luận rằng mỗi án tử hình làm giảm 4,5 vụ giết người và mỗi vụ hành quyết làm giảm 3 vụ giết người. Nghiên cứu cũng cho rằng thời gian chờ hành quyết nếu được giảm đi mỗi 2,75 năm sẽ làm giảm 1 vụ giết người. Nghiên cứu không xác định được một cách chính xác làm sao những kẻ giết người biết được các tù nhân chờ hành quyết bao lâu[18].

2004: Nghiên cứu thứ ba đánh giá tác động của việc ngưng hành quyết từ 6/1967 – 1/1977, sử dụng dữ liệu của 50 bang từ 1960 – 2000, cho thấy 91% các bang có tỷ lệ tội phạm giết người tăng lên sau khi ngưng sử dụng hình phạt và 70% các bang có tỷ lệ tội phạm giết người giảm đi sau khi sử dụng lại hình phạt[19].

2005: Nghiên cứu thứ tư cho rằng tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình bị giới hạn tại những bang hành quyết 9 tù nhân trở lên từ 1977 – 1996. Đối với những bang hành quyết ít hơn 9 tù nhân trong khoảng thời gian này, hình phạt tử hình hoặc không có tác dụng ngăn cản, hoặc có tác dụng ngược – tức làm tỷ lệ tội phạm giết người tăng lên[20]. Theo đó, để đạt được tác dụng ngăn cản, các bang nói chung phải thi hành nhiều vụ hành quyết.

c. Một vài nghiên cứu khác

2001: Nghiên cứu của hai nhà kinh tế học Dale Cloninger và Roberto Marchesini cho rằng việc tạm ngưng hành quyết dẫn đến làm tăng tỷ lệ tội phạm giết người. Các tác giả kết luận: Do việc tạm ngưng hành quyết tại bang Texas vào năm 1996, 90 cho đến 150 người vô tội tại bang này đã bị mất mạng do tội giết người gây ra[21].

2004: Nghiên cứu của nhà kinh tế học Paul Zimmerman sử dụng dữ liệu tại 50 bang từ 1978 – 1997, kết luận mỗi vụ hành quyết làm giảm khoảng 14 vụ giết người[22]. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của ông về sau cho rằng tác dụng ngăn cản bị giới hạn đối với các vụ hành quyết bằng phương pháp ghế điện mà không bằng các phương pháp khác[23].

2007: Nghiên cứu của Roy Adler và Michael Summers, hai giáo sư tại Đại học Pepperdine cho kết quả gây ngạc nhiên là mỗi vụ hành quyết làm giảm 74 vụ giết người. Nghiên cứu sử dụng các dữ liệu về các vụ giết người và các vụ hành quyết từ 1979 – 2004 với những thiếu sót trong việc dùng biến điều khiển và trong việc xem xét các yếu tố quan trọng có liên quan tới tỷ lệ tội phạm giết người[24].

d. Các phê bình và chỉ trích

Các nghiên cứu khẳng định tác dụng ngăn cản của hình phạt tử hình nói chung gặp nhiều chỉ trích từ nhiều chuyên gia, đặc biệt là các chuyên gia trong các lĩnh vực luật và tội phạm học, trong đó có John Donohue, Richard Berk và Jeffrey Fagan (đã được nhắc đến ở trên).

Các kết luận từ các nghiên cứu, theo Jeffrey Fagan, là “không bình thường về mặt khoa học xã hội lẫn khoa học tự nhiên”. Sau đây là một số vấn đề được chỉ ra từ các nghiên cứu[25]:

  • Các nghiên cứu mắc các lỗi về khái niệm lẫn về kỹ thuật và có phương pháp phân tích thống kê không thích hợp.
  • Các nghiên cứu thất bại khi xem xét các tất cả các yếu tố có liên quan đến sự lên xuống của tỷ lệ tội phạm giết người.
  • Gần như tất cả các tác dụng ngăn cản giả thiết bị giới hạn trong bang Texas và trong những năm có trên 5 vụ hành quyết trở lên.
  • Các nghiên cứu không đạt tới các tiêu chuẩn đòi hỏi của khoa học xã hội, như mắc khiếm khuyết trong các bằng chứng khoa học; một số nghiên cứu quá đơn giản hoặc thậm chí mâu thuẫn.
  • Các nghiên cứu thất bại khi tính đến tác dụng ngăn cản của tù chung thân vĩnh viễn; đánh giá được tác dụng ngăn cản của hình phạt tù chung thân vĩnh viễn là quan trọng khi so sánh với hình phạt tử hình.

(còn tiếp)

© 2010 Nguyễn Trang Nhung

© 2010 talawas


[1] Abolition of Capital Punishment in Canada http://canadaonline.about.com/od/crime/a/abolitioncappun.htm

[2] The Death Penalty Is a Deterrent http://www.wesleylowe.com/deter.html

[3] Furman v. Geogia http://www.law.cornell.edu/supct/html/historics/USSC_CR_0408_0238_ZC2.html

[4] States With and Without the Death Penalty http://www.deathpenaltyinfo.org/states-and-without-death-penalty

[5] Coker v. Georgia http://www.law.cornell.edu/supct/html/historics/USSC_CR_0433_0584_ZS.html

[6] Atkins v. Virginia http://www.law.cornell.edu/supct/html/00-8452.ZS.html

[7] Roper v. Simmons http://www.law.cornell.edu/supct/html/03-633.ZS.html

[8] Executions is the U.S. 1608-2002: The ESPY File Executions by State http://www.deathpenaltyinfo.org/documents/ESPYyear.pdf

[9] Death Penalty Offenses  Other Murder http://www.deathpenaltyinfo.org/death-penalty-offenses-other-murder

[10] The Deterrent Effect of Capital Punishment: A Question of Life and Death http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=961494

[11] http://www.deathpenaltyinfo.org/DonohueDeter.pdf

[12] Articles on Death Penalty Deterrence http://www.cjlf.org/deathpenalty/DPDeterrence.htm

[13] Getting off Death Row, 2003 http://www.bus.lsu.edu/mocan/Getting%20off%20Death%20Row.pdf

[14] Một quan sát ứng với một bang trong một năm; tổng số quan sát là: 50 (số bang) x 21 (số năm) = 1050; 1000 trong số 1050 quan sát được phân tích.

[15] New Claims about Executions and General Deterrence: Déjà Vu All Over Again, 2005  http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.91.4997&rep=rep1&type=pdf

[16] Death and Deterrence Redux: Science, Law and Causal Reasoning on Capital Punishment http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=935102

[17] Does Capital Punishment Have a Deterrent Effect? New Evidence from Post-Moratorium Panel Data http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=259538

[18] Murders of Passion, Execution Delays, and the Deterrence of Capital Punishment  http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=388960

[19] The Deterrent Effect of Capital Punishment: Evidence from ‘Judical Experiment’ http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=432621

[20] Deterrence versus Brutalization: Capital  Punishment’s Differing Impacts Among States  http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=781504

[21] Execution Moratorium is No Holiday for Homocides http://www.prodeathpenalty.com/moratoriums.htm

[22] State Executions, Deterrence, and the Incidence of Murder http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=354680

[23] Estimates of the Deterrent Effect of Alternative Execution Methods in the United States: 1978-2000  http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=355783

[24] Capital Punishment Works http://online.wsj.com/public/article/SB119397079767680173.html

[25] Discussion of Recent Deterrence Studies http://www.deathpenaltyinfo.org/discussion-recent-deterrence-studies

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 3: Tác dụng ngăn cản? (phần 1)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả